kỹ thuật chuyển mạch ip - Pdf 13

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 3
GIỚI THIỆU CHUNG 3
1.1 Định tuyến trong chuyển mạch gói truyền thống 3
1.2 ATM & IP 5
1.3 IP over ATM 7
CHƯƠNG 2 9
ĐÁNH ĐỊA CHỈ VÀ ĐỊNH TUYẾN IP 9
2.1 Mô hình chồng giao thức TCP/IP 9
2.2 Đánh địa chỉ IP 10
2.3 Định tuyến IP 12
2.4 Các giao thức định tuyến trong IP 14
2.4.1 Định tuyến theo vectơ khoảng cách 16
2.4.2 Định tuyến trạng thái đường 18
2.4.3 RIP (Routing Information Protocol) 20
2.4.4 OSPF (Open Shortest Path First) 26
2.4.5 BGP (Border Gateway Protocol) 33
CHƯƠNG 3 39
CHUYỂN MẠCH IP 39
3.1 Định nghĩa và các thuật ngữ 39
3.1.1 Chuyển mạch IP 39
3.1.2 Đầu vào và đầu ra của chuyển mạch IP 41
3.1.3 Đường tắt 42
3.2 Các mô hình địa chỉ của chuyển mạch IP 44
3.2.1 Địa chỉ riêng 44
3.2.2 Ánh xạ địa chỉ IP sang VC 45
3.3 Các mô hình chuyển mạch IP 45
3.3.1 Mô hình xếp chồng 45
3.3.2 Mô hình đồng cấp 47
3.4 Các kiểu chuyển mạch IP 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
SV Nguyễn Quang Hiếu
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ARIS
ARP
ARS
API
AS
ATM
B-ISDN PRM
BGP
CBR
CDV
CLIP
CoS
CPCS
CPE
CRC
CS
CSLIP
CSR
EGP
EIGRP
ER
FANP
FDDI
FEC
FIB
GFC

Fibler distributed data interconnect
Forwarding equivalen class
Forwarding information base
General flow control
General flow management protocol
Internet control management protocol
Identifier
Interdomain routing protocol
Internet enginering task force
Ipsilon flow management protocol
Inverse ATMARP
Internet protocol
SV Nguyễn Quang Hiếu
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
IPCP
ISDN
ISP
ISR
LAN
LANE
LFN
LLC/SNAP
LSA
LSP
MARS
MBS
MCR
MPOA
NHRP
NNI

Minimum cell rate
Multiprotocol over ATM
Next hop resolution protocol
Network-network interface
On demand routing
Open shortdest path first
Protection against wapped sequence
Peak cell rate
Protocol data unit
Physical medium dependent
Private NNI
Point-to-point protocol
Permanent virtual circuit
Reverse ARP
Request for recommend
Routing information protocol
Resource reservation protocol
Retransmission timeout
Round trip time
Service access point
SAP Identifier
Segmentation/reasembly
SV Nguyễn Quang Hiếu
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
SDH
SDU
SLIP
SPT
SSCS
SVC

Tag distribution protocol
Time domain multiplexing
Tag edge router
Tag information base
TCP extention for transactions
Type of service
Tag switch router
Time to live
Unspecified bit rate
User data protocol
User network protocol
Usage parameter control
Variable bit rate
Virtual circuit connection
Virtual circuit identifier
Variable length subnet mask
Virtual path connection
Virtual path identifier
Virtual private network
Wide area netword
SV Nguyễn Quang Hiếu
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
LỜI NÓI ĐẦU
Trước sự phát triển của các giao thức Internet khởi đầu từ những năm
của thập niên 70 và tiếp tuc phát triển vào những năm sau đó. Ngày nay, mạng
IP đã thực sự bùng nổ cả về khối lượng lưu lượng cũng như các yêu cầu về
chất lượng dịch vụ như: tốc độ truyền dẫn, băng thông, truyền dẫn đa phương
tiện,… Nhưng mạng IP hiện nay vẫn chưa thực sự đáp ứng được các yêu cầu
về truyền dẫn lưu lượng, do đó, cần phải có một giải pháp công nghệ mới đưa
vào để khắc phục những nhược điểm của mạng đang tồn tại.

SV Nguyễn Quang Hiếu 2
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Định tuyến trong chuyển mạch gói truyền thống
Để chuyển các gói tin từ mạng này đến mạng khác một cách nhanh
chóng và chính xác, các gói tin cần phải được định tuyến, những thiết bị để
định tuyến các gói tin ban đầu được gọi là Gateway (đóng vai trò là một cổng
giao tiếp từ mạng này tới mạng khác) và và sau đó router ra đời để kết nối
giữa các mạng vật lý khác nhau tạo thành một liên mạng hợp nhất rộng lớn
hơn. Các gói thông tin riêng biệt bao gồm một nhãn mạng đích mà router thực
hiện tương hợp nhãn với một trong nhiều thực thể của bảng mạng đích mà nó
biết trước. Khi tìm thấy một sự tương hợp, router có thể định hướng gói tin tới
giao diện tương ứng và chờ đến khi gói tín khác đến. Quá trình tương quan
đơn giản này được thực hiện đối với mỗi gói riêng biệt đến router. Thậm chí
nếu có một số lượng lớn gói tin có cùng một đích đến chung, thì router sẽ vẫn
xử lý mỗi gói tin theo cách riêng.
Chú ý thế hệ router đầu tiên được giới thiệu trong hình 1.1:
Hình 1.1: Router thế hệ đầu tiên
Nó bao gồm một bộ xử lý trung tâm và nhiều card giao tiếp, tất cả được
nối với nhau bằng một đường bus chung. Bộ xử lý rất tin cậy cho chạy giao
thức định tuyến và duy trì một bảng hướng đi của router bước nhảy tiếp theo
mà gói được gửi đến. Các gói đi vào router qua bus và đi vào bộ xử lý nơi sẽ
tra cứu bảng định tuyến chuẩn và thực hiện xác định bước nhẩy tiếp theo. Gói
sau đó được đi vào bus chung đến giao diện đầu ra tương ứng. Hiệu năng của
hệ thống này phụ thuộc vào tốc độ bus và khả năng xử lý của bộ xử lý trung
tâm. Và mỗi gói được yêu cầu đi trên bus hai lần.
SV Nguyễn Quang Hiếu - Đ2001VT
3
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG

đủ thông tin cần cho việc chuyển gói tới đích.
Cơ cấu định tuyến có nhiệm vụ tính toán đường đi tới các nút trong
mạng. Do vậy, cơ cấu định tuyến phải được cập nhật các thông tin về topo
mạng, thông tin về nguyên tắc chuyển tin (như trong BGP) và nó phải có khả
năng hoạt động trong môi trường mạng gồm nhiều nút. Kết quản tính toán của
cơ cấu định tuyến được lưu trong các bảng chuyển tin (forwarding table) chứa
thông tin về chặng tiếp theo để có thể gửi gói tin tới hướng đích.
Dựa trên các bản chuyển tin, cơ cấu chuyển tin chuyển mạch các gói IP
hướng tới đích. Phương thức chuyển tin truyền thống là theo từng chặng một.
Ở cách này, mỗi nút mạng tính toán mạng chuyển tin một cách độc lập.
Phương thức này, do vậy, yêu cầu kết quả tính toán của phần định tuyến tại tất
cả các nút phải nhất quán với nhau. Sự không thống nhất của kết quả sẽ dẫn
đến việc chuyển gói tin sai hướng, điều này đồng nghĩa với việc mất gói tin.
Kiểu chuyển tin theo từng chặng hạn chế khả năng của mạng. Tuy
nhiên, bên cạnh đó, phương thức định tuyến và chuyển tin này nâng cao độ tin
cậy cũng như khả năng mở rộng của mạng. Giao thức định tuyến động cho
phép mạng phản ứng lại với sự cố bằng việc thay đổi tuyến khi router biết
được sự thay đổi về topo mạng thông qua việc cập nhật thông tin về trạng thái
kết nối. Với các phương thức như CDIR (Classless Inter Domain Routing),
kích thước của bản tin được duy trì ở mức chấp nhận được, và do việc tính
toán định tuyến đều do các nút tự thực hiện, mạng có thể mở rộng mà không
cần bất cứ thay đổi nào.
Tóm lại, IP là một giao thức chuyển mạch gói có độ tin cậy và khả năng
mở rộng cao. Tuy nhiên, việc điều khiển lưu lượng rất khó thực hiện do phương
thức định tuyến theo từng chặng. Mặt khác, IP cũng không hỗ trợ chất lượng
dịch vụ.
SV Nguyễn Quang Hiếu - Đ2001VT
5
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG
b/ ATM – Asynchronous Tranfer Mode

thường lớn hơn thông lượng của IP router truyền thống.
SV Nguyễn Quang Hiếu - Đ2001VT
6
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG
Bảng so sánh công nghệ IP và ATM
Công nghệ IP ATM
Bản chất
công nghệ
- Là một giao thức chuyển
mạch gói có độ tin cậy và khả
năng mở rộng cao.
- Do phương thức định tuyến
theo từng chặng nên điều khiển
lưu lượng rất khó thực hiện.
- Sử dụng gói tin có chiều
dài cố định 53 byte gọi là
tế bào (cell).
- Nguyên tắc định tuyến :
chuyển đổi VPI/VCI -Nền
tảng phần cứng tốc độ cao
Ưu điểm - Đơn giản, hiệu quả
- Tốc độ chuyển mạch cao,
mềm dẻo, hỗ trợ QoS theo
yêu cầu
Nhược
điểm
- Không hỗ trợ QoS
- Giá thành cao, không mềm
dẻo trong hỗ trợ những ứng
dụng IP, VoA

này sẽ có ảnh hưởng đến việc truyền nhóm gói tin giữa các LIS khác nhau.
Mặt khác, khi lưu lượng rất lớn, những bộ định tuyến này sẽ gây hiện tượng
nghẽn cổ chai đối với băng rộng.
Hai điểm nêu trên đều làm cho IP over ATM chỉ có thể dùng thích hợp
cho mạng tương đối nhỏ, như mạng xí nghiệp,… nhưng không thể đáp ứng
được nhu cầu của mạng đường trục Internet trong tương lai. Trên thực tế, hai
kỹ thuật này đang tồn tại vấn đề yếu kém về khả năng mở rộng thêm.
Thứ ba là trong phương thức chồng xếp, IP over ATM vẫn không có
cách nào đảm bảo QoS thực sự.
Thứ tư, vốn khi thiết kế hai loại kỹ thuật IP và ATM đều làm riêng lẻ,
không xét gì đến kỹ thuật kia, điều này làm cho sự nối thông giữa hai bên phải
dựa vào một loạt giao thức phức tạp, cùng với các bộ phục vụ xử lý các giao
thức này. Cách làm như thế có thể gây ảnh hường không tốt đối với độ tin cậy
của mạng đường trục.
Các kỹ thuật MPOA (Multiprotocol over ATM – đa giao thức trên
ATM) LANE (LAN Emulation – Mô phỏng LAN)… cũng chính là kết quả
nghiên cứu để giải quyết các vấn đề đó, nhưng các giải thuật này đều chỉ giải
quyết được một phần các tồn tại, như vấn đề QoS chẳng hạn. Phương thức mà
các kỹ thuật này dùng vẫn là phương thức chồng xếp, khả năng mở rộng vẫn
không đủ. Hiện nay đã xuất hiện một loại kỹ thuật IP over ATM không dùng
phương thức xếp chồng, mà dùng phương thức chuyển mạch nhãn, áp dụng
phương thức tích hợp. Kỹ thuật này chính là cơ sở của MPLS.
SV Nguyễn Quang Hiếu - Đ2001VT
8
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG 2: ĐÁNH ĐỊA CHỈ VÀ ĐỊNH TUYẾN IP
CHƯƠNG 2
ĐÁNH ĐỊA CHỈ VÀ ĐỊNH TUYẾN IP
2.1 Mô hình chồng giao thức TCP/IP
TCP/IP là một bộ giao thức mở được xây dựng cho mạng Internet mà
tiền thân của nó là mạng ARPnet của bộ quốc phòng Mỹ. Do đây là một giao

ARP
RARP
IP
Data link
OSI
TCP/IP
Hình 2.1: Mô hình TCP/IP và mô hình OSI
SV Nguyễn Quang Hiếu - Đ2001VT
9
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG 2: ĐÁNH ĐỊA CHỈ VÀ ĐỊNH TUYẾN IP
TCP/IP có kiến trúc phân lớp, gồm 4 lớp chức năng sau:
1) Lớp liên kết dữ liệu (DataLink Layer): Định nghĩa các hàm, thủ
tục, phương tiện truyền dẫn đảm bảo sự truyền dẫn an toàn các khung thông
tin trên bất kỳ một phương tiện truyền dẫn nào như Ethernet, ATM, token-
ring, frame-relay,…
2) Lớp giao thức Internet(Internet Protocol): Chuyển tiếp các gói tin
từ nguồn tới đích. Mỗi gói tin chứa địa chỉ đích và IP sử dụng thông tin này để
truyền gói tin tới đích của nó.
Giao thức IP được chạy trên tất cả các máy chủ (Host) cũng như trong
tất cả các thiết bị định tuyến (Router). Lớp IP là lớp kết nối phi hướng nghĩa
là mạng không cần thiết lập bất kỳ một đường dẫn nào đến đích trước khi gói
tin được truyền qua mạng đến đích do vậy, mỗi gói đến đích với mỗi đường
tối ưu khác nhau và IP không đảm bảo thứ tự đến đích của các gói tin. Mạng
Internet hoạt động trên bất kỳ phương tiện truyền tải nào (nhờ có lớp
DataLink) và có thể có rất nhiều ứng dụng trên lớp IP nhưng chỉ có một lớp IP
với giao thức IP duy nhất là điểm hội tụ của TCP/IP cho phép nó hoạt động
một cách linh hoạt và mềm dẻo trên mạng máy tính cực lớn.
Hiện nay có hai phiên bản của IP là IPv4 và IPv6 (IPng). IPv4 là phiên
bản đang sử dụng thống nhất hiện nay nhưng do nhu cầu phát triển của mạng và
công nghệ truyền thông trong tương lai gần sẽ phải sử dụng phiên bản IPv6.

dùng các bít còn lại của byte này để định danh mạng. Do đó, nó cho phép định
danh tới 126 mạng, với 16 triệu máy trạm trong mỗi mạng.
Lớp B (/16): Được xác định bằng hai bít đầu tiên nhận giá trị 10, và sử
dụng byte thứ nhất và thứ hai cho định danh mạng. Nó cho phép định danh
16.384 mạng với tối đa 65.535 máy trạm trên mỗi mạng.
SV Nguyễn Quang Hiếu - Đ2001VT
Network number Host number
0 16 31
NetID SubnetID HostID
Líp A
0 7 8 15 16 31
NetID
0 15
SubnetID HostID
23 24 16
Líp B
NetID
0
23
SubnetID HostID
3
26 27
31
31
Líp C
NetID HostID
0 26 31
NetID
Líp D
Líp E

các mạng lớn có cấu tạo thích hợp thì OSPF tối ưu hơn.
U* Nguyên t ắ c đ ị nh tuy ế n :
Trong hoạt động định tuyến, người ta chia làm hai loại là định tuyến
trực tiếp và định tuyến gián tiếp. Định tuyến trực tiếp là định tuyến giữa hai
SV Nguyễn Quang Hiếu - Đ2001VT
12
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG 2: ĐÁNH ĐỊA CHỈ VÀ ĐỊNH TUYẾN IP
máy tính nối với nhau vào một mạng vật lý. Định tuyến gián tiếp là định tuyến
giữa hai máy tính ở các mạng vật lý khác nhau nên chúng phải thực hiện
thông qua các Gateway.
Để kiểm tra xem máy đích có nằm trên cùng một mạng vật lý với máy
nguồn không thì người gửi phải tách lấy địa chỉ mạng của máy đích trong
phần tiêu đề của gói dữ liệu và so sánh với phần địa chỉ mạng trong phần địa
chỉ IP của nó. Nếu trùng thì gói tin sẽ được truyền trực tiếp nếu không cần
phải xác định một Gateway để truyền các gói tin này thông qua nó để ra mạng
ngoài thích hợp.
Hoạt động định tuyến bao gồm hai hoạt động cơ bản sau:
- Quản trị cơ sở dữ liệu định tuyến: Bảng định tuyến (bảng thông tin
chọn đường) là nơi lưu thông tin về các đích có thể tới được và cách
thức để tới được đích đó. Khi phần mềm định tuyến IP tại một trạm
hay một cổng truyền nhận được yêu cầu truyền một gói dữ liệu,
trước hết nó phải tìm trong bảng định tuyến, để quyết định xem sẽ
phải gửi Datagram đến đâu. Tuy nhiên, không phải bảng định tuyến
của mỗi trạm hay cổng đều chứa tất cả các thông tin về các tuyến
đường có thể tới được. Một bảng định tuyến bao gồm các cặp (N,G).
Trong đó:
+ N là địa chỉ của IP mạng đích
+ G là địa chỉ cổng tiếp theo dọc theo trên đường truyền đến mạng N
Bảng 2.1 minh hoạ bảng định tuyến của một cổng truyền.
Đến Host trên mạng Bộ định tuyến Cổng vật lý

thiết bị đích đến được kết nối trong cùng mạng với hệ thống, thì
tìm địa chỉ mức liên kết tương ứng với bảng tương ứng địa chỉ
IP-MAC, nhúng gói IP trong gói dữ liệu mức liên kết và chuyển
tiếp gói tin trong mạng.
+ Trong trường hợp địa chỉ mạng đích không bằng địa chỉ mạng
của hệ thống thì chuyển tiếp gói tin đến thiết bị định tuyến
cùng mạng.
2.4 Các giao thức định tuyến trong IP
Các giao thức định tuyến cho phép các router trao đổi thông tin khả
năng đạt tới một mạng và thông tin cấu hình với các router khác. Tất cả các
giao thức định tuyến phải đảm bảo tất cả các router trong một mạng có một cơ
sở dữ liệu chính xác và toàn vẹn về cấu hình mạng. Điều này là rất quan trọng
vì bảng chuyển phát ở mỗi router được tính toán dựa trên cơ sở dữ liệu của
thông tin cấu hình mạng này. Các bảng chuyển phát chính xác góp phần giúp
cho các gói đến được đích của chúng với khả năng cao hơn. Bảng chuyển phát
SV Nguyễn Quang Hiếu - Đ2001VT
14
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG 2: ĐÁNH ĐỊA CHỈ VÀ ĐỊNH TUYẾN IP
không đủ, không chính xác sẽ khiến cho các gói không đến được đích của nó
và tồi hơn có thể gây ra loop vòng quanh mạng trong một khoảng thời gian
gây ra lãng phí tài nguyên băng tần và router .
Các giao thức định tuyến được phân thành định tuyến giữa các miền
(interdomain) và trong một miền (intradomain). Một miền được gọi là một hệ
thống tự trị AS (autonomous system), AS là một tập hợp các router được điều
khiển và quản lý bởi một thực thể đơn, nó được xác định bởi một số AS đơn.
Các giao thức trong một miền IGP (interior gateway protocol) được sử dụng
giữa các router trong cùng một AS. Nhiệm vụ của chúng là phải tính toán con
đường rẻ nhất giữa hai máy bất kỳ trong một AS, do đó mang lại hiệu năng tốt
nhất. Các giao thức giữa các miền EGP (exterior gateway protocol) được sử
dụng giữa các router trong các AS khác nhau. Nhiệm vụ của nó phải tính toán

lưu lượng điều khiển giữa các router (cập nhật cơ sở dữ liệu định tuyến )
và các tài nguyên router cần thiết để tính toán các bảng định tuyến mới.
- Tránh loop. Khi một giao thức định tuyến tính toán một bảng định tuyến,
nó sẽ cố gắng để tránh các con đường khiến các gói chuyển qua một
router hoặc một mạng nhiều hơn một lần. Nó rất khó để đạt được điều
này trong khoảng thời gian nó truyền bá sự biến đổi về cấu hình đến tất
cả các router trong mạng. Mặc dù vậy, đây là một đặc tính quan trọng
được hỗ trợ bởi một số giao thức như BGP, EIGRP (enhanced interior
gateway routing protocol).
- Hội tụ. Khi cấu hình mạng biến đổi (ví dụ như một link bị down hay một
mạng mới được bổ sung…) các giao thức định tuyến phải phân bố thông
tin này khắp mạng các router để phản ánh thông tin này, xử lý này được
gọi là hội tụ. Các router hội tụ trên cấu hình chính xác càng nhanh thì
các gói sẽ được phân phát thành công đến đích.
- Các chuẩn. Các giao thức định tuyến được phát triển bởi IETF được lưu
trữ trong các RFC. Nó cho phép các nhà đầu tư khác nhau thực hiện giao
thức định tuyến trên nền tảng riêng của họ và thúc đẩy khả năng hợp tác.
- Khả năng mở rộng. Nó định nghĩa khả năng giao thức định tuyến kết
hợp các chức năng mới mà không thay đổi các hoạt động cơ bản của nó
và có khả năng tương thích ngược trở lại các chức năng cũ. Ví dụ như
OSPF với các chức năng mới được bổ sung là multicast, định tuyến QoS
, hỗ trợ đánh địa chỉ lớp liên kết.
- Metric. Đây là các tham số hoặc các giao thức được thông báo cùng với
mạng đích và tham gia vào tính toán bảng định tuyến. Các tham số này
có thể là số các hop, chi phí tuyến, băng tần, trễ…
- Thuật toán định tuyến. Các giao thức định tuyến sử dụng một trong hại
thuật toán định tuyến cơ bản là véc tơ khoảng cách và trạng thái đường.
2.4.1 Định tuyến theo vectơ khoảng cách
Định tuyến véc tơ khoảng cách dựa trên quan niệm rằng một router sẽ
thông báo cho các router lân cận nó về tất cả các mạng nó biết và khoảng cách

SV Nguyễn Quang Hiếu - Đ2001VT
Net1
Router
C
Router
A
Router
B
(net1,1hop) (net1,2hop)
Hình 2.4: Định tuyến véc tơ khoảng cách
17
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG 2: ĐÁNH ĐỊA CHỈ VÀ ĐỊNH TUYẾN IP
Như vậy router A sẽ không bao giờ thông báo véc tơ khoảng cách (net1,4) cho
router B vì router B là next-hop của net1.
Định tuyến véc tơ khoảng cách dựa trên thuật toán Bellman Ford được
thực hiện trong một số các giao thức định tuyến như RIP, IGRP (Interior
Gateway Routing Protocol).
2.4.2 Định tuyến trạng thái đường
Định tuyến trạng thái đường làm việc trên quan điểm rằng một router
có thể thông báo với mọi router khác trong mạng trạng thái của các tuyên
được kết nối đến nó, cost của các tuyến đó và xác định bất kỳ router kế cận
nào được kết nối với các tuyến này. Các router chạy một giao thức định tuyến
trạng thái đường sẽ truyền bá các gói trạng thái đường LSP (link state paket)
khắp mạng. Một LSP nói chung chứa một xác định nguồn,xác định kế cận và
cost của tuyến giữa chúng. Các LSP được thu bởi tất cả các router được sử
dụng để tạo nên một cơ sở dữ liệu cấu hình của toàn bộ mạng. Bảng định
tuyến sau đó được tính toán dựa trên nội dung của cơ sỏ dữ liệu cấu hình. Tất
cả các router trong mạng chứa một sơ đồ của cấu hình mạng và từ đó chúng
tính toán đường ngắn nhất (least-cost path) từ nguồn bất kỳ đến đích bất kỳ.
Hình 2.5 chỉ ra hoạt động của định tuyến trạng thái đường

liệu cấu hình nhóm trong một LSP và sau đó phát nó đến các router xác
định trong nhóm kế cận. Điều này làm giảm bộ nhớ và xử lý trong các
router vì cơ sở dữ liệu cấu hình chỉ lớn bằng số router trong một nhóm và
chỉ các router trong nhóm mà ở đó có sự biến đổi về cấu hình phải tính
toán các cây ‘shortcut path’ mới và các bảng định tuyến. Khái niệm phân
cấp này được minh họa trong hình 2.6 dưới đây, nó là một khái niệm
quan trọng được thực hiện trong các giao thức định tuyến trạng thái
đường như OSPF, PNNI.
SV Nguyễn Quang Hiếu - Đ2001VT
19
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG 2: ĐÁNH ĐỊA CHỈ VÀ ĐỊNH TUYẾN IP
Hình 2.6: Phân cấp định tuyến trạng thái đường
2.4.3 RIP (Routing Information Protocol)
RIP là một giao thức định tuyến véc tơ khoảng cách phổ biến được thực
hiện bởi các host và router TCP/IP. Nó được phân tán trong vòng một vài phát
hành khởi đầu của UNIX vào giữa thập niên 80.
Các đặc tính chức năng cơ bản của RIP.
- Sử dụng thuật toán định tuyến véc tơ khoảng cách.
- Sử dụng tham số host-count
- Các router broadcast toàn bộ cơ sở dữ liệu định tuyến 30s một lầ.
- Đường kính mạng cực đại mà RIP hỗ trợ là 15hop.
- Nó không hỗ trợ VLSM (variable length subnet mask).
RIP nói chung là đơn giản trong cấu hình, chạy trên rất nhiều mạng cỡ
trung bình và nhỏ, vì vậy nó được xác định là một giao thức định tuyến trong
miền (interior). RIP 2 khắc phục một số nhược điểm của RIP 1 và nó hoạt động
tương tự như RIP 1 và hỗ trợ VLSM. Để cung cấp cho các nhà quản lý mạng,
những người cần quản lý không gian địa chỉ IPv4 một cách mềm dẻo hơn, thì
OSPF được sử dụng thay thế. RIP được thiết kế như một giao thức broadcast,
nhưng nó có thể gửi các bản tin đến các node non-broadcast . Khả năng này có
thể rất hữu ích khi kết nối đến một router khác trên tuyến điểm-điểm (ví dụ từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status