CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ NGÂN HÀNG
NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
1.1.Tóm tắt quá trình hình thành Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và
Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
1.1.1. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Vào những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, khi miền bắc nước ta bước
vào thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, làm hậu thuẫn cho
công cuộc cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì vấn đề
thành lập một định chế tài chính chuyên về nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại đã
được đặt ra một cách khẩn trương. Ngày 30/10/1962 theo đề nghị của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/ CP thành
lập Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trên cơ sở bộ máy của Cục Ngoại hối
trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sau một thời gian chuẩn bị, ngày
01/04/1963, Ngân hàng Ngoại thương chính thức đi vào hoạt động.
Vào thời kỳ ban đầu, về đối ngoại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là
một ngân hàng thương mại Nhà nước có tư cách pháp nhân độc lập, có vốn riêng,
có trụ sở độc lập với Ngân hàng Nhà nước,có Hội đồng quản trị, Ban điều hành
và hoạt động theo điều lệ được công bố. Tuy nhiên, về đối nội, Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam còn đảm nhiệm chức năng Cục ngoại hối - một đơn vị tham
mưu cho Ngân hàng Nhà nước về các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc,
quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và làm tham mưu cho Ngân hàng Nhà nước
trong quan hệ với các ngân hàng Trung ương các nước, các tổ chức Tài chính
Tiền tệ quốc tế…Tính chất hoạt động hai mang này kéo dài cho đến khi Ngân
hàng nhà nước thành lập Vụ Kinh tế ngoại tệ (năm 1977). Sau khi có Vụ Kinh tế
ngoại tệ trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng chỉ còn đảm nhiệm chức
năng của một ngân hàng thương mại duy nhất thực hiện các nghiệp vụ đối ngoại
cho đến khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh về ngân hàng năm 1990. Sau 41 năm
xây dựng và trưởng thành Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã trở thành một
trong những ngân hàng thương mại phát triển hiện đại nhất Việt Nam.
1
Dưới đây là những nét chính về Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện
1.1.2. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.
NHNT Hà Nội là một chi nhánh cấp 1 của NHNT Việt Nam, được thành lập
vào ngày 01/03/1985 theo quyết định số 177/NH – QĐ của Tổng giám đốc Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam. NHNT Hà Nội là một đại diện pháp nhân của
NHNT Việt Nam, có con dấu riêng, trực tiếp giao dịch kinh doanh, hạch toán nội
bộ, hoạt động kinh doanh tiền tệ và quản lý ngân hàng, tự chủ tài chính, tự chịu
trách nhiệm về kết quả kinh doanh và những cam kết của mình. Giao dịch mọi
hoạt động dưới sự quản lý của Tổng giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam và sự điều hành của giám đốc chi nhánh.
NHNT Hà Nội đã khẳng định được vị trí phù hợp trong tổ chức, tính hiệu
quả hoạt động kinh doanh, đảm bảo chất lượng và năng lực điều hành của một
chi nhánh tác nghiệp trực thuộc NHNT Việt Nam.
Trong nhiều năm hoạt động cùng với sự trưởng thành và phát triển của
NHNT Việt Nam, NHNT Hà Nội đã trải qua nhiều khó khăn, thử thách để tồn tại
và phát triển trong nền kinh tế thị trường. Tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân
viên đã quyết tâm phấn đấu thực hiện có hiệu quả các chức năng và nhiệm vụ mà
cấp trên giao phó. Đến nay, NHNT Hà Nội đã phát triển mạnh mẽ, chủ động mở
rộng mạng lưới giao dịch, đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng, thường xuyên tăng
cường cơ sở vật chất kĩ thuật để từng bước đổi mới công nghệ hiện đại hoá ngân
hàng.
Chính nhờ đường lối đúng đắn mà kết quả kinh doanh của chi nhánh luôn
có lãi, đống góp cho lợi ích của Nhà nước ngày càng nhiều, đời sống các bộ công
nhân viên ngày càng được cải thiện nâng cao.
Để có được kết quả như vậy là do chi nhánh đã củng cố và xây dựng được
một hệ thống tổ chức tường đối hợp lý phù hợp với khả năng và trình độ quản lý,
hoạt động kinh doanh của mình. Kể từ khi thành lập, NHNT Hà Nội không
ngừng phát triển, từng bước khẳng định là một chi nhánh ngân hàng vững mạnh.
Từ chỗ chỉ có năm phòng khi mới thành lập, đến nay chi nhánh đã có 13 phòng,
và 8 phòng giao dịch, 1 quầy giao dịch.
1.2.Mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.
á
m
đ
ố
c
4
P
h
ó
g
i
á
m
đ
ố
c
1
P
h
ó
g
i
á
m
đ
à
n
g
P
h
ò
n
g
q
u
ả
n
l
ý
r
ủ
i
r
o
t
í
n
d
ụ
t
h
a
n
h
t
o
á
n
t
h
ẻ
P
h
ò
n
g
n
g
â
n
q
u
ỹ
P
P
h
ò
n
g
k
ế
t
o
á
n
t
à
i
c
h
í
n
h
P
h
ò
n
g
h
a
n
ộ
I
b
ộ
P
h
ò
n
g
t
i
n
h
ọ
c
P
h
ò
n
g
t
í
n
ò
n
g
q
u
ả
n
l
ý
n
ợ
Ban giám đốc: Bao gồm 1 Giám đốc và 4 Phó Giám đốc.
Các phòng ban trực thuộc:
Phòng Khách hàng: Phát triển kinh doanh, cung cấp các dịch vụ tài chính
ngân hàng, củng cố và mở rộng quan hệ đối với các khách hàng là doanh nghiệp
trên địa bàn thuộc quyền quản lý hiện tại của chi nhánh.
Phòng dịch vụ Ngân hàng: có chức năng nhiệm vụ:
Huy động tiết kiệm đồng Việt Nam và ngoại tệ.
Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu đồng Việt Nam và ngoại tệ.
Dịch vụ chi trả tiền kiều hối & chuyển tiền đi nước ngòai
Mua bán ngoại tệ
Nhận gửi và thanh toán séc nhờ thu của cá nhân.
Quản lý đại lý thu đổi ngoại tệ.
Trực tiếp thu chi tiền mặt của khác hàng gửi , rút tiền tiết kiệm VNĐ, ngoại
tệ, kỳ phiếu ngoại tệ, tài khoản ngoại tệ cá nhân.
Phòng thanh toán thẻ: có chức năng nhiệm vụ phát hành và thanh toán các
loại thẻ Vietcombank theo thể lệ quy định. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ
lãnh, kiểm tra hoạt động hay động vốn, phát hành thẻ, các hoạt động dịch vụ
ngân hàng khác, hoạt động kế toán – ngân quỹ và hoạt động thanh toán xuất nhập
khẩu.
Phòng tin học: có chức năng quản lý hệ thống mạng, thiết lập cài đặt các
phần mềm hệ thống mạng, thiết lập hệ thống bảo mật. Viết các chương trình trợ
giúp cho hoạt động nghiệp vụ, nhận truyền dữ liệu, back up dữ liệu, kiểm tra hệ
thống truyền thông giữa các chi nhánh, phòng giao dịch…
Phòng tín dụng thể nhân: thực hiện cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng
đối với đối tượng là khách hàng là thể nhân.
Phòng tổng hợp: có chức năng kinh doanh vốn và ngoại tệ, Marketing, quan
hệ công chúng…
Các phòng giao dịch: có chức năng nhiệm vụ:
Huy động tiết kiệm đồng Việt Nam và ngoại tệ.
Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu đồng Việt Nam và ngoại tệ.
Dịch vụ thu đổi ngoại tệ và trả tiền kiều hối.
Dịch vụ phát hành thẻ, thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, Vietcombank Card,
thẻ ATM…
7
Nhận gửi và thanh toán sé nhờ thu của cá nhân.
Quản lý các tài khoản tiền gửi cá nhân đồng Việt Nam và ngoại tệ.
Cho vay thế chấp, cầm cố tài sản.
1.4. Các hoạt động chủ yếu của Ngân Hàng Ngoại thương Hà Nội.
Nhận tiền gửi: Mở tài khoản vãng lai, tài khoản có kỳ hạn, tiền gửi tiết
kiệm, phát hành kỳ phiếu. Bốn loại dịch vụ trên đều được thực hiện cả bằng nội
tệ và ngoại tệ mạnh như USD, bảng Anh, Mác Đức, Frăng Pháp….
Chuyển tiền: Chuyển tiền trong nước và quốc tế với nhiều loại hình: chuyển
tiền nhanh Money Gram, chuyển tiền bằng điện, chuyển tiền bằng thư…
Cấp tín dụng và tài trợ dự án đầu tư: cung cấp tất cả các loại tín dụng ngắn,
trung và dài hạn, tham gia tài trợ hoặc đồng tài trợ cho các dự án xuất nhập
khẩu…
Dịch vụ thanh toán quốc tế: Đây là hoạt động mạnh nhất của NHNT Việt
Nam nói chung và NHNT Hà Nội nói riêng. Với mạng thanh toán quốc tế
SWIFT, NHNT 5 năm liền được công nhận là ngân hàng có chất lượng thanh
toán tốt nhất.
Dịch vụ ngân hàng đại lý: năm 2002 Ngân hàng Ngoại thương triển khai hệ
thống E – Bank, thanh toán điện tử giữa NHNT với các ngân hàng đại lý trong
nước.
Dịch vụ kỳ phiếu: Tuỳ theo nhu cầu vốn ngắn hạn trong từng thời kỳ,
NHNT phát hành kỳ phiếu, đây là hình thức đầu tư an toàn với lãi suât cao, được
đảm bảo bí mật.
Dịch vụ chiết khấu chứng từ: tạo thuận lợi cho các khách hàng có nhu cầu
vốn tạm thời khi những chứng từ chưa đến hạn thanh toán, hoặc các khách hàng
xuất khẩu đang chờ ngân hàng nước ngoài thanh toán khi đã xuất trình chứng từ
thanh toán qua NHNT thì ngân hàng có thể áp dụng dịch vụ này.
1.6. Các danh hiệu mà Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã đạt được.
Huân chương lao động hạng 3 của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam trao
tặng năm 2004.
Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho cán bộ nhân viên chi nhánh Ngân
hàng Ngoại thương Hà Nội đã có nhiều thành tích trong công tác 2000-2003.
9
Cờ thi đua xuất sắc năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
Cờ thi đua Ban chấp hành Công đoàn Ngân hàng Việt Nam năm 2004.
Bằng khen của Chủ tịch Uỷ Ban nhân dân thành phố thực hiện tốt nghĩa vụ
nộp thuế.
Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho đồng chí Giám đốc và Phó giám
đốc đã có nhiều thành tích trong công tác năm 2001-2003.
Và nhiều bằng khen, huy chương và các danh hiệu thi đua khác cho tập thể
và cá nhân.
10
Cho vay trung dài hạn 569,319
Cho vay ngắn hạn 1983,681
Báo cáo thực hiện 2001-2007 chi nhánh VCB Hà Nội
Số liệu đã được điều chỉnh sau khi tách 4 chi nhánh trực thuộc ( Thành Công,
Thăng Long, Chương Dương, Ba Đình)
Tổng dư nợ tín dụng đạt 2553 tỷ đồng, tăng 6% so với cuối năm 2006 là 2408 tỷ
đồng.
Hoạt động tín dụng được thực hiện dưới nhiều hình thức:
Cho vay vốn lưu động: khách hàng có thể lựa chọn theo từng lần hoặc theo hạn
mức tín dụng.
Cho vay dự án đầu tư để đổi mới công nghệ, đáp ứng nhu cầu tài sản cố định hoặc
bất động sản của khách hang.
Cho vay chiết khấu bộ chứng từ.
2.1.3. Nợ quá hạn
Bảng 2.6: Nợ quá hạn
Đơn vị: Tỷ VND
Năm 2007
Tổng dư nợ 2553
Nợ quá hạn 19,9134
Tỷ trọng (%) 0,78%
Nguồn : Báo cáo thực hiện 2001-2007 Chi nhánh VCB HN
2.1.4. Mua bán ngoại tệ.
12
Doanh số mua bán ngoại tệ của VCB Hà Nội năm 2007 đạt 725 triệu USD, tăng
3% so với năm 2006 là 704 triệu USD. Mua bán ngoại tệ được thực hiện dưới
nhiều hình thức:
Mua bán ngoại tệ giao ngay.
Mua bán ngoại tệ kỳ hạn.
Hoán đổi tiền tệ, lãi suất.
Hợp đồng quyền chọn.
hàng. Và dưới đây là quy trình thẩm định một dự án trước khi vay vốn tại Ngân
hàng Ngoại thương Hà Nội.
Trước kia cho vay ở Chi nhánh chỉ phải qua một phòng Tín dụng thì giờ quy
trình thẩm định cho vay phải qua 3 phòng là phòng Khách hàng – tiếp nhận hồ sơ
và thẩm định lần đầu hồ sơ tín dụng của khách hàng, những hồ sơ đủ tiêu chuẩn
được gửi tiếp đến phòng Quản lý rủi ro tín dụng để thẩm định lại rồi nếu hồ sơ
được chấp nhận thì chuyển lại về phòng Khách hàng, đó phòng Quản lý nợ sẽ
theo dõi tiến hàng giải ngân.
Quy trình thẩm định trên được thực hiện theo quyết định số 90/QĐ – NHNT –
QLTĐ của Tổng Giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ngày 26/5/2006.
Quy trình này được tiến hành cụ thể như sau:
Thứ nhất: Khách hàng muốn vay vốn sẽ mang hồ sơ đến phòng khách hàng để
phòng này nhận và kiểm tra hồ sơ. Hồ sơ của khách hàng phải có các giấy tờ sau:
Hồ sơ xin vay vốn: Đơn xin vay vốn, báo cáo mục đích sử dụng vốn, báo cáo khả
thi về dự án sử dụng vốn.
Hồ sơ pháp lý hợp pháp của khách hàng.
Hồ sơ kinh tế bao gồm các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh, các
hợp đồng kinh tế…
Hồ sơ đảm bảo tài săn thế châp bảo đảm.
Các hồ sơ khác có liên quan.
Phòng khách hàng sẽ kiểm tra tất cả các hồ sơ trên và lập đề xuất cấp tín dụng và
chuyển qua phòng Quản lý rủi ro tín dụng.
Thứ hai: Phòng Quản lý rủi ro sẽ tiến hành thẩm định hồ sơ.
Kiểm tra lại hồ sơ của khách hàng để đảm bảo là đúng với quy trình cho vay theo
quy định của quy chế cho vay và quy định của luật pháp.
Thẩm định các căn cứ sau trước khi ra quyết định cho vay vốn:
14
Thẩm định tính pháp lý của khách hàng.
Thẩm định về năng lực tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh trong một số năm
gần đây.
Tỷ lệ nợ quá hạn thông thường ( cho các khoản nợ quá hạn dưới 180 ngày,
bao gồm nợ cần chú ý và nợ dưới tiêu chuẩn): tỷ lệ này chưa phản ánh hòan toàn
chính xác chất lượng hoạt động cho vay bởi vì trên thực tế có thể có những
doanh nghiệp vì các lý do khách quan mà không thể tính toán hợp lý được nguồn
tiền trả nợ đúng hạn chứ không phải là không có khả năng trả nợ. Lãnh đạo ngân
hàng cần đốc thúc nhân viên tín dụng có những biện pháp tích cực để thu nợ, sẽ
không làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động cho vay.
Tỷ lệ nợ quá hạn áp dụng cho các khỏan nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày :
Tỷ lệ này càng cao thì chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
càng kém, ngân hàng nếu không có những biện pháp xử lý kịp thời thì sẽ dẫn
đến không thu hồi được nợ, mất vốn.
Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi áp dụng cho các khoản nợ quá hạn trên 360
ngày: Nếu tỷ lệ này cao thì ngân hàng không những phải đối mặt với khả năng
không thu hồi được nợ mà còn có thể dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh
toán.Việc đòi được các khoản nợ này là rất khó khăn và ngân hàng có thể phải
gánh chịu những tổn thất nghiêm trọng.
Chỉ tiêu lợi nhuận = Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng / Tổng dư nợ cho vay:
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng, chỉ tiêu này lớn chứng tỏ
chất lượng hoạt động cho vay tốt, phản ánh cứ một đồng đầu tư thì thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận.
Và dưới đây là các phân tích cụ thể về hoạt động của Vietcombank Hà Nội:
Chỉ tiêu Công thức 2007
Tổng dư nợ 2553( tỷ VNĐ)
Hiệu suất sử dụng vốn Tổng dư nợ/ Tổng vốn huy động 2553/7088=36%
Tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn / Tổng dư nợ 0,78%
Chỉ tiêu lợi nhuận Lợi nhuận từ hoạt động tín
dụng/Tổng dư nợ cho vay 111/2553=4,34%
Qua các kết quả trên ta đánh giá là so với năm trước đó là năm 2006 thì hoạt
động của Vietcombank Hà Nội trong năm 2007 vẫn hoạt động hiệu quả. Bằng
chứng thể hiện là cả tổng nguồn vốn huy động và tổng dư nợ tín dụng cho vay
trưởng “nóng” nhất. Trên đà này, với chỉ số giá tiêu dùng CPI 2 tháng đầu năm
tăng 5,94% mà chính phủ không kịp thời có những chính sách hiệu quả thì rất có
17
thể xảy ra lạm phát phi mã, siêu lạm phát ở Việt Nam. Mà lạm phát thì ngân hàng
chính là thành phần chịu thiệt thòi nhất, do lãi suất cho vay là không thay đổi.
Ngoài ra do có sự chuyển đổi trong quy trình thẩm định dự án, trước đây chỉ qua
một phòng tín dụng thì giờ phải qua 3 phòng là phòng khách hàng, phòng quản lý
rủi ro và phòng quản lý nợ, do đó tiêu chuẩn thẩm định sẽ chặt chẽ hơn và sát hơn,
do đó số lượng dự án được vay vốn sẽ phải có tính khả thi cao hơn, do vậy nếu giả
sử nhu cầu vay là như năm trước thì số lượng dự án được cấp vốn cho vay sẽ ít
hơn vì vậy dư nợ tín dụng cũng tăng chậm.
18
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
TRONG CÁC NĂM TỚI
3.1. Định hướng chung.
3.1.1. Về huy động vốn.
Phải đa dạng hóa các hình thức huy động vốn nhằm thu hút được càng nhiều
càng nguồn vốn càng có lợi, nâng cao sức cạnh tranh của Ngân hàng Ngoại
thương Hà Nội so với các ngân hàng thương mại khác trong khu vực
3.1.2. Về sử dụng vốn.
Mở rộng công tác cho vay đối với mọi thành phần kinh tế, vừa đạt mục tiêu tăng
trưởng vừa đảm bảo an toàn vốn vay.
Tích cực đổi mới, cải thiện cơ chế làm việc sao cho phù hợp nhất với nền kinh tế
thị trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, đảm bảo làm ăn uy tín, có lãi.
Hòa nhập vào xu thế chung của cả nước, không ngừng mở rộng đầu tư hợp tác
giao lưu kinh tế quốc tế, thu hút ngày càng nhiều các nguồn vốn ủy thác của
nước ngoài
Từng bước hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, đảm bảo đi trước đón đầu nhu cầu
của người khách hàng.
thanh tra,…
Thu thập và xử lý thông tin một cách chính xác
Cho vay đối vối doanh nghiệp thì chi nhánh cần phải nắm được bản chất hoạt
động của doanh nghiệp, chính xác loại hàng hóa dịch vụ mà doanh nghiệp sản
xuất, thời điểm bán hàng, tính ổn định của nguồn nguyên liệu ( sẵn có trong nước
hay nhập khẩu,… ), lao động, thị trường nơi doanh nghiệp cung ứng sản phẩm.
Phân tích tình hình tài chính của đơn vị vay vốn một cách chi tiết
Phân tích tình hình tài chính của đơn vị/dự án vay vốn là một việc làm vô cùng
cần thiết. Việc phân tích tất cả các khoản thu nhập – chi phí, phải thu – phải trả,
khả năng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, các chỉ số về tình hình tài chính doanh
nghiệp như vòng quay vốn, vòng quay hàng hóa, hệ số khả năng thanh toán, tỷ lệ
nợ/ vốn chủ sở hữu, khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu,… sẽ giúp Chi nhánh
phân loại khách hàng, có được các đánh giá chính xác. Phân tích các chỉ số này
20
định kỳ còn giúp cho Chi nhánh phản ứng kịp thời và có các điều chỉnh thích hợp
khi có biến động trong tình hình hoạt động của các doanh nghiệp vay vốn.
Đánh giá tính khả thi của phương án vay vốn và trình độ của người điều hành
Hầu hết các ngân hàng hiện nay đều cho vay dựa vào giá trị tài sản đảm bảo là
chủ yếu chứ chưa chú trọng đến tính khả thi và khả năng sinh lời của các dự án
vay vốn, điều này sẽ dẫn đến việc bỏ qua các dự án có khả năng sinh lời cao, gây
ra một sự lãng phí cho nền kinh tế. Vì trên thực tế dự án có rủi ro càng cao thì
khả năng sinh lời càng lớn, không một hoạt động nào lại không tiềm tàng rủi ro,
nếu không biết chấp nhận rủi ro thì khó có thể sinh lời được. Một phương thức
sản xuất kinh doanh có khả thi, triển vọng tốt thì sẽ đảm bảo phần nào vốn vay
của ngân hàng sẽ được hòan trả.
Một phương án có mang lại hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng,
trình độ và kinh nghiệm của người quản lý. Một người quản lý tốt sẽ có phản ứng
kịp thời nhanh nhạy với những tình huống xảy ra bất ngờ và sẽ có những đối phó
hợp lý để giải quyết những sự cố đó, đảm bảo cho dự án hoạt động trơn tru và
hiệu quả. Vì thế người quản lý điều hành cũng là một yếu tố quan trọng quyết
chấp? Khi cho vay hợp vốn thì mọi vấn đề sẽ được san sẻ, từ mức vốn góp, rủi
ro, lợi nhuận, trách nhiệm, quyền hạn,…
Góp vốn liên doanh : Ngân hàng có thể biến khỏan cho vay dài hạn đủ tiêu chuẩn
thành vốn góp liên doanh với các doanh nghiệp để có thể trực tiếp tham gia điều
hành quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hạn chế rủi ro
cho ngân hàng.
Lập quỹ dự phòng rủi ro : Mọi ngân hàng thương mại đều cần phải có quỹ dự
phòng rủi ro, đảm bảo cho ngân hàng có thể phản ứng kịp thời khi có rủi ro xảy
ra, không để mất tính thanh khoản, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.
Tham gia bảo hiểm tín dụng : Hợp đồng bảo hiểm tín dụng có thể đảm bảo khả
năng thanh toán cho ngân hàng khi có rủi ro hệ thống xảy ra.
Đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư : Đa dạng hóa danh mục, lĩnh vực đầu tư cũng là
một biện pháp san sẻ rủi ro rất tốt cho các ngân hàng thương mại. Không nên tập
trung cho vay một doanh nghiệp, một ngành, một lĩnh vực,… một lượng vốn vay
quá lớn mà nên phân tán nhiều ngành nghề lĩnh vực khác nhau, tùy vào định
22
hướng phát triển từng thời kỳ của nền kinh tế mà có tỷ trọng cho vay tối ưu cho
từng ngành, từng khu vực.
3.2.4. Xây dựng hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ hiệu quả.
Kiểm tra kiểm soát nội bộ là một công cụ quản trị rủi ro hiệu quả trong hoạt động
của ngân hàng. Phù hợp với luật tổ chức tín dụng bổ sung sửa đổi, NHNN đã ban
hành các quy định về kiểm tra kiểm soát nội bộ và kiểm toán trong hệ thống
NHTM. Đó là quyết định 36/2006/QĐ-NHNN, ngày 1/8/2006 và 37/2006/QĐ-
NHNN ngày 1/8/2006 của NHNN. Để hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ theo
yêu cầu mới có hiệu quả, bộ máy kiểm tra kiểm soát nội bộ có thể được thiết kế
theo hướng:
Cuối ngày giao dịch, phòng tín dụng chuyển hồ sơ phát sinh trong ngày cho bộ
phận kiểm tra, kiểm soát. Bộ phận kiểm tra, kiẻm soát thực hiện:
Kiểm tra hồ sơ cho vay: cần phải xác định, đánh giá chính xác về tính hợp lệ, hợp
pháp của hồ sơ vay vốn. Đặc biệt là tính pháp lý và tính thực tiễn của những tài
3.2.6. Thực hiện hoạt động Marketing Ngân hàng.
Tuyên truyền qua phương tiện thông tin đại chúng như đài báo, các đài phát
thanh của trung ương hay địa phương, các băng rôn, khẩu hiệu tờ rơi quảng cáo
trên xe buýt…với nội dung, hình ảnh hấp dẫn. Đặc biệt chú trọng quảng cáo trên
truyền hình vì đây là kênh thông tin đại chúng cao, dù chi phí bỏ ra lớn nhưng
kết quả thu lại rất cao khi rất nhiều khán giả biết các dịch vụ của Ngân hàng
Ngoại thường Hà Nội.
Một trong những cách thức quảng cáo hiệu quả là công tác PR (Puclic Relation),
theo đó Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội tham gia các hoạt động từ thiện, tài trợ
cho các chương trình văn hóa văn nghệ, các hoạt động thể thao, bảo vệ môi
trường, hoặc các game show phù hợp có lượng khán giả xem lớn trên truyền
hình.
Quảng cáo qua thư điện tử, internet, đây cũng là hình thức quảng cáo rất tốt vì
hiện nay số lượng người truy cập internet là đáng kể, Ngân hàng Ngoại thương
Hà Nội cần xây dựng Webside khoa học, đầy đủ thông tin, truy cập nhanh chóng
thuận tiện…
Tổ chức các hội nghị, hội thảo, có quà tặng cho những khách hàng thân thuộc uy
tín của Ngân Hàng Ngoại thương Hà Nội, giới thiệu sản phẩm dịch vụ của ngân
24
hàng, tham khảo những ý kiến đóng góp, phản hồi của khách hàng, các chuyên
gia,nắm bắt các nhu cầu của khách hàng.
3.2.7. Nâng cao năng lực tài chính của Ngân hàng.
Một trong những tồn tại của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng
Ngoại thương Hà Nội là quy mô vốn chủ sở hữu còn thấp. Quy mô của ngân
hàng Ngoại thương Hà Nội sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh cũng
như uy tín của Ngân hàng với các ngân hàng khác và với các doanh nghiệp,
người dân.
Bản thân Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần nâng cao hiệu quả hoạt động và
phát triển các dịch vụ mới nhằm tăng lợi nhuận, tăng vốn chủ sở hữu.Trên cơ sở
đó tăng dự phòng rủi ro, chủ động thu hút sự đầu tư của các tổ chức tài chính