Học viện chính trị hành chính quốc gia hồ chí minh
-1 -
CÁC TH ÀNH VIÊN THAM GIA
1. TS Phạm Ngọc Dũng
2. CN Phùng Quang Dũng
3. CN Ngô Thị Thu Hà
4. CN Nguyễn Thị Hồng Huệ
5. CN Nguyễn Thị Huê
6. Ths Nguyễn Thị Miền
7. TS Ngô Tuấn Nghĩa
8. CN Nguyễn Thị Thu Nguyên
9. TS Trần Hoa Phượng
10. TS Đoàn Xuân Thuỷ
11. Ths Nguyễn Thị Minh Tân
12. PGS.TS Nguyễn Khắc Thanh
3.2 Gợi ý chính sách cụ thể của Việt Nam 117
Kết luận 135
Các công trình đã công bố liên quan đến đề tài 137
Danh mục các tài liệu tham khảo 138
-3 -
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hoá kinh tế đã tạo ra sự liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau ngày
càng chặt chẽ giữa các quốc gia cũng như các chủ thể kinh tế trong nền kinh
tế thế giới. Sự liên hệ đó đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ sự vận động và lưu
chuyển các dòng tư bản dưới nhiều hình thức, đến hầ
u khắp các khu vực,
quốc gia, từ trung tâm đến ngoại vi, từ ngoại vi về trung tâm; từ các quốc gia
phát triển đến các quốc gia kém phát triển hơn và ngược lại, bất luận hình
thức thể chế và chế độ chính trị của các quốc gia trên thế giới có sự khác
nhau. Trong bối cảnh đó, tư bản tài chính với sức mạnh của sự dung hợp giữa
độc quyền công nghiệp và độc quyền ngân hàng
đã có sự biến đổi để thích
ứng với bối cảnh mới. Sự thích ứng này phản ánh sự chuyển hoá nhanh, mạnh
từ trong cấu trúc thể chế bên trong của chúng đến hình thức biểu hiện tổ chức
quản lý bên ngoài. Quá trình đó đã xác lập những biểu hiện mới của tư bản tài
chính trong điều kiện toàn cầu hoá.
Về mặt lý thuyết, ở Việt Nam cho đến hiệ
n nay, lý luận về tư bản tài
chính mới chỉ được trình bày với dung lượng rất hạn chế trong nội dung năm
đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc mà chưa có những nghiên cứu toàn diện, độc
ngân sách lại thất thu. Sự thực của vấn đề này là gì, tại sao lại có hiện tượng
đó, hiện tượng như vậy có nằm trong sự toan tính chiến lược của các tập đoàn
tư bản tài chính hay không, nếu câu trả lời là khẳng định thì đối sách của Việ
t
Nam phải là gì để một mặt góp phần tiếp tục mạnh dạn hội nhập, tranh thủ
thời cơ xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, mặt khác có chiến lược phù hợp
để ứng xử với những động thái mới của tư bản tài chính thế giới, giảm thiểu
thiệt hại trong hội nhập kinh tế. Đó là vấn đề hết sứ
c cấp thiết cần phải được
giải đáp để tạo căn cứ khoa học cho việc hoạch định các đối sách của Việt
Nam. Bên cạnh đó, vấn đề sự vận động của dòng đầu tư gián tiếp, vai trò thực
sự của các quỹ đầu tư quốc tế trên thị trường Việt Nam, của các tổ chức tài
chính quốc tế là gì, mối liên hệ giữa chúng v
ới hệ thống tư bản tài chính thế
1
Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 8-4-2009, trang 11.
-5 -
giới cụ thể như thế nào, qua các hình thức gì và làm thế nào để đảm bảo an
ninh tài chính, an ninh đầu tư, an ninh thương mại của Việt Nam trong hội
nhập kinh tế quốc tế trước các biểu hiện mới của tư bản tài chính thế giới hiện
nay là những vấn đề đang cần có sự nghiên cứu một cách thấu đáo.
Xuất phát từ sự cấp thiết cả về lý lu
ận và thực tiễn đó, đề tài: “Biểu hiện
mới của tư bản tài chính trong bối cảnh toàn cầu hoá - tiếp cận trên cơ sở
học thuyết của V.I.Lênin và gợi ý chính sách của Việt Nam” được chọn để
nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, liên quan tới chủ đề biểu hiện mới của tư bản
luận một cách sắc sảo rằng hy vọng về một nền kinh tế thị trường tư bản tự
do, phi độc quyền là điều ảo tưởng. Vì rằng trong nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa hiện nay có sự hiện diện hiển nhiên và vai trò thống trị của tư bản tài
chính. Vì thế, tác giả cho rằng, không vô lý khi hiện nay, gọi chủ ngh
ĩa tư bản
là chủ nghĩa tư bản trùm sỏ tài chính. Thành công nổi bật của công trình của
SAMIR là đã vạch rõ cơ chế tham dự của tư bản tài chính trong điều kiện hiện
nay đối với nền kinh tế và những cách thức mà các trùm sỏ tài chính thao túng
nền kinh tế và chính trị tư bản. Tiếp cận ở một khía cạnh khác về tư bản tài
chính, PAUL J CELLA (Anh) (2009) mới cho xuất bản công trình nghiên
cứ
u: Toàn cầu hoá và tư bản tài chính (Globalization and Finance
Capitalism), Nhà xuất bản Permalink (Anh), đã phân tích về vai trò của hệ
thống tư bản tài chính đối với việc định dạng toàn cầu hoá tư bản hiện nay.
Theo tác giả, tư bản tài chính với tư cách là một hệ thống thế giới đầy quyền
uy và chính chúng chứ không phải nhà nước các nước tư bản đã thúc đẩy sự
lan rộng mãnh liệt của toàn cầ
u hoá tư bản. Mặc dù với cách tiếp cận không
phải trên lập trường Macxít hay hệ thống lý luận của V.I.Lênin về tư bản tài
chính, song bản thân PAUL đã thật sự kinh ngạc trước sức mạnh của hệ thống
tư bản tài chính toàn cầu hiện nay. Tác giả gọi tư bản tài chính là làn sóng huỷ
diệt sự ổn định toàn cầu. Bên cạnh các công trình nghiên cứu về tư bản tài
chính và sứ
c mạnh của chúng, nghiên cứu gần đây của Quỹ Losa Luxemburg
-7 -
Foundation (Đức) (4/2009) tiếp cận dự báo về sự khủng hoảng của chủ nghĩa
tư bản tài chính và tác động thách thức đối với hoạt động của hệ thống các tổ
chức cánh tả. Ý tưởng này được trình bày trong nghiên cứu nhan đề: Khủng
hoảng của chủ nghĩa tư bản tài chính: những thách thức đối với cánh tả
phân tích cấu trúc và sự biến đổi về thể chế của tư bản tài chính so với giai
đoạn cổ điển của nó. Chính vì vậy, việc cắt nghĩa vai trò của tư bản tài chính
đối với nền kinh tế mới dừng lại chủ yếu ở mặt hiện tượng mà chưa đi sâu
vào bản chất của chúng.
2.2. Nhóm nhóm các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước
và của các tác giả n
ước ngoài được chuyển ngữ sang tiếng Việt
2.2.1. Các công trình sách nghiên cứu
* Các công trình của các tác giả trong nước:
Trong các nghiên cứu về biểu hiện mới của tư bản tài chính dưới hình
thức là các công ty xuyên quốc gia, ở Việt Nam có các công trình nghiên cứu
điển hình như: Trần Quang Lâm – Lê Văn Sang (1993) trong cuốn: Sự điều
chỉnh kinh tế của nhà nước ở các nước tư bản phát triển. Trong công trình
nghiên cứu này, các tác giả đề cập tớ
i vai trò của tư bản tài chính với tư cách
là các tổ chức độc quyền có sức mạnh kinh tế, hoạt động của chúng trong nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa đã tạo ra logíc kinh tế của việc điểu chỉnh kinh tế của
nhà nước tư bản trong các nước tư bản phát triển. Các công ty xuyên quốc gia
của các nền kinh tế công nghiệp mới châu Á, tác giả Hoàng Thị Bích Loan
(2002), Nhà xuấ
t bản Chính trị quốc gia phát hành. Trong nghiên cứu của
mình, tác giả tập trung phân tích về các công ty xuyên quốc gia của các nền
kinh tế công nghiệp mới châu Á và chỉ ra mô hình, chiến lược hoạt động và
vai trò của các công ty xuyên quốc gia của các nền kinh tế công nghiệp mới
châu Á. Trong đó, tác giả chỉ ra các chiến lược như: chiến lược mạng lưới
hoá, liên minh chiến lược, chiến lược cải tổ và sáp nhập. Điểm hạn chế củ
a
công trình nghiên cứu này là tác giả chưa nêu bật được nguyên nhân của việc
hình thành các chiến lược đó, đồng thời không nêu được sự thay đổi kết cấu
về mặt sở hữu của các công ty xuyên quốc gia của các nền kinh tế mới châu
chức vận hành và cơ chế tham dự trong nội bộ các tập đoàn xuyên quốc gia
đó. Về mặt lý luận, đây là điểm trống cần được tiếp tục nghiên cứu.
* Các công trình của các tác giả nước ngoài được dịch sang tiếng Việt
-10 -
Liên quan trực tiếp đến khía cạnh đặc trưng và vai trò của tư bản tài
chính, trong các công trình của các tác giả nước ngoài được dịch sang tiếng
Việt có thể kể tới các công trình tiêu biểu sau:
HELEN HAYARD và DUNCAN GREEN (2000) trong cuốn: Đồng vốn
và trừng phạt - Kết toán cuộc sát phạt, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn
hành. Chủ đề chính được phân tích trong công trình nghiên cứu này là mối
quan hệ giữa chính trị và Tài chính, sự liên quan giữa giới chứ
c quyền lực và
các đầu sỏ tài chính, vai trò của các trùm sỏ tài chính và cuộc khủng hoảng tài
chính 1997-1998. Xét theo góc độ tư bản tài chính, đây là công trình nghiên
cứu trực tiếp nhưng không triệt để do cách tiếp cận đa nguyên và nghiên cứu
biểu hiện của tư bản tài chính mà không đi vào bản chất của mối quan hệ giữa
các tập đoàn tư bản tài chính và giới chính trị. Các tác giả có đề cập tới vai trò
của Quỹ ti
ền tệ thế giới với tư cách là chủ thể thiết lập điều kiện sát phạt các
chính phủ mang nợ, đẩy các nước này vào những vòng luẩn quẩn mới do sự
phụ thuộc vào nguồn tài chính của tổ chức này. THOMAS L. FRIEDMAN
trong nghiên cứu: Chiếc Lexus và cây ô liu (2005); Thế giới phẳng (2007),
đề cập tới vai trò của các công ty xuyên quốc gia với quá trình toàn cầu hoá
kinh tế. Theo tác giả, các công ty xuyên quốc gia là một trong những nhân tố
nòng cốt thúc đẩy toàn cầu hoá tư bản. Công trình này do nhà xuất bản khoa
học xã hội phát hành. Trong cuốn Thế giới phẳng tác giả phân tích một cách
sâu sắc về cách thức thực hiện outsouring của các tập đoàn độc quyền và căn
nguyên thúc đẩy sự phẳng của thế giới. Đây là biểu hiện mới của tư bản tài
chính trong xuất khẩu tư bản thời đại toàn cầu hoá. GEORGE COOPER v
kinh tế của nhiều quốc gia, nơi đồng tiền là súng đạn và mức sát thương tàn
khốc đối với nền kinh tế các nước tư bản và nền kinh tế thế giới. Theo tác giả,
chiến tranh tiền tệ là cuộc chi
ến khốc liệt, không khoan nhượng và dai dẳng
giữa một nhóm các trùm sỏ tài chính (tác giả gọi là ông trùm tài chính) với thể
chế tài chính của nhiều quốc gia. Bên cạnh đó tác giả phơi bày những âm mưu
của các nhà tài phiệt thế giới trong việc tạo ra những cơn “hạn hán” hay “bão
-12 -
lũ” về tiền tệ để thu lợi. Đây là một công trình phân tích trực diện về vai trò
của tư bản tài chính trong nền kinh thế giới hiện nay. Tuy nhiên, vai trò của tư
bản tài chính trong nghiên cứu này mới dừng lại ở việc thao túng thị trường
tiền tệ thế giới của các trùm sỏ tài chính. Cùng hướng nghiên cứu về vai trò
của các tài phiệt trong hệ thống kinh tế thế giới, JOHN PERKINS (Mỹ) trong
công trình: Lời thú t
ội của một sát thủ kinh tế, Nhà xuất bản Văn hoá thông
tin (2009), phân tích về một thế giới với đầy rẫy những mưu đồ của các sát
thủ kinh tế bao gồm sự câu kết của các tập đoàn tư bản Mỹ và giới chức CIA
(Mỹ) trong việc dựng lên hay hạ bệ chính phủ các nước có nguồn tài nguyên
dầu mỏ và các vùng địa chiến lược quan trọng theo hướng có l
ợi cho lợi ích
của Hoa Kỳ. Vai trò của các tài phiệt được tác giả nhìn nhận như lực lượng
nòng cốt trong việc mở rộng ảnh hưởng Mỹ ra thế giới.
Như vậy, các công trình của các tác giả nước ngoài được dịch sang tiếng
Việt nghiên cứu về tư bản tài chính đã đề cập tới vai trò của các tài phiệt tài
chính và sự dính kết của các tập đoàn tư bản tài chính vớ
i giới quyền lực
trong các nước tư bản phát triển. Thành công chính của các công trình nghiên
cứu này là điểm nhấn về một thế giới với nhiều bất ổn và sóng gió gây ra bởi
các trùm sỏ tài chính và giới tài phiệt. Điểm lý luận rất cần được nghiên cứu
nước ngoài (FDI) báo cáo thua lỗ kéo dài trong thời gian qua là do Việt Nam
chưa có công cụ kiểm soát hữu hiệu hiện tượng chuyển giá. Việc chuyển giá
được thực hiện bằng cách định giá quá cao hoặc quá thấp trong hoạt động
thương mại thuộc nội bộ hệ thống các tập đoàn tư bản. Các công ty con ở Việt
Nam nhập nguyên vật liệu của công ty mẹ ở nước ngoài với giá quá cao, sau
đó bán sản phẩm với giá quá thấ
p gây hiện tượng thua lỗ. Tình trạng này đang
diễn ra mang tính chất thủ đoạn của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài
đang hoạt động ở Việt Nam. Hậu quả là hệ thống các doanh nghiệp này đang
gây thất thu lớn nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Trong khi lợi nhuận và
thị trường của họ ngày càng phát triển. Tác giả nghiên cứu nhấn mạnh chuyển
giá đang là một chiêu thức mà các doanh nghiệp có vốn đầu t
ư nước ngoài
(FDI) thực hiện phổ biến ở Việt Nam. Tác giả Trần Thị Hà với nghiên cứu:
-14 -
Dòng vốn đầu tư gián tiếp vào các nước đang phát triển giai đoạn trước và
sau khủng hoảng, đăng trên tạp chí: Những vấn đề kinh tế - chính trị thế giới,
số 3-2010. Trong đó tác giả khái quát dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
vào các nước đang phát triển giai đoạn 2002-2009. Tác giả chỉ dừng lại ở việc
mô tả hiện tượng dòng vốn và chỉ ra một số
đặc điểm của dòng vốn đầu tư
gián tiếp này mà không chỉ ra nguyên nhân và bản chất, nguồn gốc của dòng
vốn đầu tư gián tiếp với ý nghĩa biểu hiện mới trong hoạt động của tư bản tài
chính.
Khái quát lại, việc tổng quan các công trình nghiên cứu của các tác giả
trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề biểu hiện mới của tư bản tài chính
cho phép rút ra: Thứ nhất
, các tác giả đã tiếp cận được các khía cạnh của
những biểu hiện mới của tư bản tài chính. Đa số các công trình dành nỗ lực
hoá mà lấy bối cảnh toàn cầu hoá đề phân tích và làm rõ biểu hiện mới của tư
bản tài chính trên cơ sở học thuyết của V.I.Lênin về bản chất và vai trò của tư
bản tài chính. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến
các biểu hiện mới c
ủa tư bản tài chính, khía cạnh toàn cầu hoá sẽ được đề cập
với dung lượng phù hợp với đối tượng nghiên cứu là biểu hiện mới của tư bản
tài chính.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, đề tài
được kết cấu gồm ba phần cụ thể như sau:
Phần 1. Học thuyết của V.I.Lênin về
tư bản tài chính;
Phần 2. Biểu hiện mới của tư bản tài chính trong bối cảnh toàn cầu hoá;
Phần 3. Những gợi ý đối sách của Việt Nam về kinh tế đối ngoại
-16 -
Phần thứ nhất
PHÂN TÍCH KHUNG LÝ LUẬN CỦA V.I.LÊNIN
VỀ TƯ BẢN TÀI CHÍNH
1.1. NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH TƯ BẢN TÀI CHÍNH
Trong hệ thống các tác phẩm lý luận kinh điển của V.I.Lênin, không
có một tác phẩm riêng chỉ nghiên cứu về tư bản tài chính. Tuy thế, khi phân
tích về đặc điểm kinh tế phản ánh bản chất của chủ nghĩa đế quốc giai đoạn
Khi phõn tớch cỏc
c im kinh t c bn ca ch ngha t bn c
quyn, V.I.Lờnin ó khỏi quỏt:
* Sự tập trung sản xuất và t bản đạt tới một mức độ phát triển cao
khiến nó tạo ra những tổ chức độc quyền có một vai trò quyết định trong
sinh hoạt kinh tế
Sự hình thành và phát triển của các tổ chức độc quyền là dấu hiện căn
bản nhất của sự chuyển biến của chủ nghĩa t bản tự do cạnh tranh sang chủ
nghĩa t bản độc quyền. Sự chuyển biến đó diễn ra dới tác động của tập trung
sản xuất thể hiện trên các phơng diện:
Thứ nhất, chủ nghĩa đế quốc đợc hình thành trên cơ sở tập trung sản
xuất cao độ trong nền kinh tế t bản chủ nghĩa. Sự hình thành của độc quyền
t bản từ cuối thế kỷ XIX đầu XX là quá trình tất yếu khách quan có nguyên
nhân trực tiếp từ sự tích tụ và tập trung cao độ của sản xuất trong các nền kinh
tế t bản chủ nghĩa phát triển nh Đức, Mỹ, Anh Trong giai đoạn này, một
trong những đặc điểm tiêu biểu nhất của chủ nghĩa t bản là sự phát triển rất
lớn của công nghiệp và quá trình tập trung cực kỳ nhanh chóng của sản xuất
vào trong các xí nghiệp ngày càng to lớn. Trình độ tập trung sản xuất đã đạt
tới mức gần một nửa tổng sản lợng của tất cả các xí nghiệp trong nớc nằm
trong tay một phần trăm tổng số các xí nghiệp
2
.
Sự phát triển của tập trung đến mức độ nhất định sẽ dẫn thẳng đến độc
quyền do, một mặt, số lợng các xí nghiệp khổng lồ không nhiều đã tạo ra khả
2
V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.27 tr.397.
-18 -
năng dễ dàng thoả thuận với nhau; mặt khác chính quy mô to lớn của các xí
-19 -
ngày càng phổ biến và vững chắc, có sức mạnh kinh tế ngày càng lớn trong
nền kinh tế quốc dân. Theo Lênin: "Thời kỳ bắt đầu thật sự của các tổ chức
độc quyền hiện đại sớm nhất là vào khoảng những năm 1860. Thời kỳ quan
trọng đầu tiên trong sự phát triển của các tổ chức đó bắt đầu cùng với thời kỳ
tiêu điều của công nghiệp toàn thế giới vào những năm 1870 và kéo dài đến
thời kỳ đầu những năm 1890"
4
. Sự phát triển của độc quyền t bản có thể phân
biệt qua các giai đoạn:
Từ những năm 1860-1870 là thời kỳ tự do cạnh tranh phát triển đến
tột điểm. Các tổ chức độc quyền chỉ là những mầm mống cha rõ rệt lắm. Kể
từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1873, là giai đoạn phát triển rộng rãi của
những cácten. Tuy vậy những cácten đó vẫn còn là ngoại lệ. Chúng vẫn còn
cha đợc vững chắc. Chúng vẫn còn là một hiện tợng nhất thời.
Thời kỳ phồn vinh cuối thế kỷ XIX và cuộc khủng hoảng của những
năm 1900-1903, thời kỳ tổ chức độc quyền đã trở thành phổ biến vững chắc.
Cácten trở thành một trong những cơ sở của toàn bộ đời sống kinh tế. Chủ
nghĩa t bản đã biến thành chủ nghĩa đế quốc. Một trong những tác nhân thúc
đẩy nhanh sự phát triển và trở thành thống trị trong nền kinh tế của tổ chức
độc quyền là những cuộc khủng hoảng, trong đó thờng xuyên nhất là những
cuộc khủng hoảng kinh tế với những tác động ngày càng mạnh mẽ hơn.
Khủng hoảng năm 1900 đã dẫn đến một sự tập trung công nghiệp mạnh mẽ
hơn rất nhiều so với cuộc khủng hoảng năm 1873 trớc kia
5
.
Tổ chức độc quyền là lực lợng kinh tế mới trong nền kinh tế t bản
chủ nghĩa, là sự liên minh, thoả hiệp giữa những nhà t bản lớn về các điều
kiện bán hàng, về kỳ hạn trả tiền, số lợng sản phẩm cần chế tạo, quy định giá
cả, phân chia khu vực tiêu thụ và lợi nhuận thu đợc, nhờ đó khống chế đợc
trên toàn thế giới nữa. Chẳng những ngời ta đã tiến hành việc kiểm kê đó, mà
những nguồn đó còn bị những liên minh độc quyền lớn độc chiếm nữa. Ngời
ta phỏng tính khả năng tiêu thụ của thị trờng mà những liên minh này "chia
-21 -
nhau" theo hợp đồng. Ngời ta độc quyền chiếm đoạt những lực lợng công
nhân có chuyên môn và thuê các kỹ s giỏi nhất; ngời ta nắm lấy những con
đờng và những phơng tiện giao thông: đờng sắt ở Mỹ, các công ty tầu thuỷ
ở châu Âu và châu Mỹ. Trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, chủ nghĩa t bản
tiến sát tới chỗ xã hội hoá việc sản xuất một cách toàn diện nhất, có thể nói là
chủ nghĩa t bản, bất chấp ý chí và ý thức của bọn t bản, đã đa chúng vào
một trật tự xã hội mới nào đó, trật tự này là bớc quá độ từ chỗ hoàn toàn tự
do cạnh tranh đến chỗ hoàn toàn xã hội hoá
6
.
Hai là, để áp đặt địa vị độc quyền của mình đối với các hoạt động
trong nền kinh tế các tổ chức độc quyền đã sử dụng nhiều thủ đoạn khác
nhau:
1) Tớc đoạt nguồn nguyên vật liệu. Biện pháp này là một trong
những phơng sách quan trọng nhất để bắt buộc các doanh nghiệp ngoài độc
quyền phải gia nhập cácten;
2) Độc chiếm nguồn nhân công bằng cách dùng những "liên minh"
(tức là những hợp đồng giữa bọn t bản với các công đoàn, quy định các công
đoàn này chỉ nhận làm việc trong những xí nghiệp đã cácten hoá);
3) Khống chế các phơng tiện vận chuyển;
4) Tớc nơi tiêu thụ;
5) Ký hợp đồng với ngời mua, quy định ngời mua chỉ giao dịch với
những cácten thôi;
6) Đánh sụt giá một cách có hệ thống (để làm phá sản các xí nghiệp
"ở ngoài", tức là các xí nghiệp không phục tùng bọn độc quyền; ngời ta tiêu
hiện đại thông qua vai trò mới của các ngân hàng trong điều kiện của chủ
nghĩa t bản độc quyền.
* Xuất khẩu t bản, khác với việc xuất khẩu hàng hoá, đ có một ý
nghĩa quan trọng đặc biệt
Sự thống trị của độc quyền dới hình thái t bản tài chính là nguyên
7
Xem V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.27, tr.409-410.
8
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.27, tr.415.
-23 -
nhân chủ yếu làm cho xuất khẩu t bản trở thành phổ biến, điển hình trong
chủ nghĩa t bản độc quyền. Khác với chủ nghĩa t bản tự do cạnh tranh, có
đặc trng chủ yếu là xuất khẩu hàng hoá; dới chủ nghĩa t bản độc quyền,
xuất khẩu t bản trở thành phổ biến và là đặc trng quan trọng nhất.
Vào đầu thế kỷ XX, tình trạng "t bản thừa" xuất hiện rất nhiều trong
các nớc t bản phát triển nhất.
Dới tác động chi phối của quy luật giá trị thặng d, số t bản thừa vẫn
còn đợc dùng không phải là để nâng cao mức sống của quần chúng trong nớc
đó, vì nh thế thì sẽ đi đến kết quả là làm giảm bớt lợi nhuận của bọn t bản,
mà là để tăng thêm lợi nhuận bằng cách xuất khẩu t bản ra nớc ngoài, vào
những nớc lạc hậu. Trong các nớc lạc hậu này, lợi nhuận thờng cao, vì t
bản hãy còn ít, giá đất đai tơng đối thấp, tiền công hạ, nguyên liệu rẻ.
Sở dĩ có thể xuất khẩu đợc t bản là vì một số nớc lạc hậu đã bị lôi
cuốn và
o quỹ đạo của chủ nghĩa t bản thế giới, những tuyến đờng sắt chính
đã đợc xây dựng xong hoặc đã bắt đầu đợc xây dựng, đã có những điều kiện
tối thiểu để phát triển công nghiệp, v.v Sở dĩ cần phải xuất khẩu t bản là vì
trong một số ít nớc chủ nghĩa t bản đã "quá chín", và t bản thiếu địa bàn
quyền: việc dùng những "mối liên hệ" để ký kết có lợi, đã thay thế cho sự
cạnh tranh trên thị trờng công khai. Một trong những biểu hiện thông thờng
nhất của việc thực hành các nguyên tắc đó là áp đặt các điều kiện cho vay:
một phần số tiền cho vay đó phải đợc dùng để mua sản phẩm của nớc cho
vay, nhất là mua vũ khí, tàu thuỷ. Đó là một trong những cách thức để t bản
tài chính bủa lới của mình lên đầu tất cả các nớc trên thế giới. Nói theo
nghĩa bóng thì các nớc xuất khẩu t bản đã chia nhau thế giới. Nhng t bản
tài chính thì cũng đã dẫn đến chỗ trực tiếp phân chia thế giới
11
.
Sự vận động của xuất khẩu t bản không những thể hiện mối quan hệ
giữa các tổ chức độc quyền của từng quốc gia với nhau, mà còn thể hiện quan
hệ giữa các tổ chức độc quyền thuộc các quốc gia khác nhau. Trong cuộc
tranh giành lợi ích của mình, các tổ chức độc quyền buộc phải thoả hiệp với
10
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.27, tr.459.
11
Xem V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.27, tr.460-462.