Thực trạng phát triển TM Điện tử ở VN. - Pdf 13

Mục lục
Trang
Mục lục……………………………………………………………………….1
Lời mở đầu……………………………………………………………………2
Nội dung………………………………………………………………………6
Chương I. Những vấn đề lý luận cơ bản về thương mại điện tử…………..6
1. Khái niệm, đặc trưng của thương mại điện tử…………………………..6
1.1.Khái niệm thương mại điện tử…………………………………………….6
1.2.Đặc trưng của thương mại điện tử………………………………………….
2 Nội dung thương mại điện tử.
2.1.Lợi ích của thương mại điện tử.
2.2Các phương tiện kỹ thuật của thương mại điện tử.
2.3Các hình thức hoạt động của thương mại điện tử.
2.4.Các mô hình hoạt động thương mại điện tử.
3.Các nhân tố tác động đến sự phát triển của thương mại điện tử.
Chương II Thực trạng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam
1.Tác động kinh tế kỹ thuật của thương mại điện tử.
2.Cơ hội và thách thức của thương mại điện tử Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
3.Thực trạng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.
3.1.Kinh doanh dịch vụ trực tuyến
3.1.1.Tổng quan chung
3.1.2. Quảng cáo trực tuyến
3.1.3. Giải trí trực tuyến
3.1.3.1.Trò chơi trực tuyến
3.1.3.2.Truyền hình trực tuyến và âm nhạc trực tuyến
3.1.4. Đào tạo trực tuyến
3.1.4. Các dịch vụ kinh doanh khác
1
3.1.1.Báo điện tử
3.1.2Dịch vụ gia tăng cho mạng di động
3.2.Thương mại điện tử trong doanh nghiệp

Mỹ là một nước đi tiên phong trong lĩnh vực thương mại điện tử và
những thành tựu mà Mỹ gặt hái được không phải là nhỏ. Người ta cho rằng xã
hội Mỹ với mạng Internet khổng lồ đang tận hưởng trình độ văn minh thương
mại điện tử ở mức cao. Nhưng không hoàn toàn như vậy thương mại điện tử trải
đều cỏ hội cho tất cả các quốc gia nào nhận thấy được hiệu quả của nó đối với
nền kinh tế, biết sử dụng nó như một công cụ cạnh tranh lành mạnh thực sự.
Đặc biệt đối với các nước đang phát triển thì đây là một cơ hội lớn để đẩy
3
nhanh tiến trình phát triển kinh tế. Nhưng hiệu qủa như thế nào lại còn phải tùy
thuộc vào mỗi quốc gia.
Việt Nam là nước đang phát triển, lại mới trở thành thành viên của tổ
chức thương mại thế giới, thương mại điện tử là rất cần thiết đó là một cơ hội
to lớn để hòa mình vào nền kinh tế thế giới. Thương mại điện tử xuất hiện ở
Việt Nam cách đây chưa lâu, khoảng 7 năm nhưng những thay đổi mà nó mang
lại thì không hề nhỏ. Thực tế hiện nay cho thấy thì thương mại điện tử ở Việt
Nam đang ở giai đoạn đầu của phát triển. Chúng ta còn gặp rất nhiều khó khăn
về công nghệ, tri thức, pháp luật và cả những đề xuất phát triển thương mại điện
tử của các nước phát triển. Vậy làm thế nào để thương mại điện tử trở thành
một công cụ tốt để phát triển kinh tế, đây là bài toán lớn đối với các nước đang
phát triển trong đó có Việt Nam.
Hiện nay ở Việt Nam thì kinh doanh dịch vụ trực tuyến và tình hình ứng
dụng thương mại điện tử vào trong doanh nghiệp đang được chú trọng. Trên thế
giới đặc biệt các nước phát triển thì kinh doanh dịch vụ trực tuyến mang lại lợi
nhuận khá lớn. Vì là giai đoạn đầu nên ở Việt Nam các loại hình kinh doanh
dịch vụ trực tuyến mới đi vào hoạt động và cũng chưa mang lại nhiều lợi nhuận.
Mới chỉ có quảng cáo trực tuyến và Game online là đang được ưa chuộng nhiều
nhất và trong thời gian tới theo như giới chuyên môn thì kinh doanh dịch vụ
trực tuyến sẽ bùng nổ ở Việt Nam.
Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đã ứng dụng thương mại điện tử
vào trong kinh doanh tuy nhiên chưa thực sự sâu rộng. Hầu hết các doanh

thế giới đưa ra song chưa có một định nghĩa nào thống nhất về thương mại điện
tử nhìn một các tổng quát thì các định nghĩa điện tử được chia thành hai nhóm
theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.
Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa hẹp.
Thương mại điện tử là việc mua bán hàng hoá và dịch vụ thông qua các phương
tiện điện tử, nhất là Internet và các mạng viễn thông khác.
Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa rộng
Thương mại điện tử là toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh liên quan
đến các tổ chức hay cá nhân. Thương mại điện tử là việc tiến hành hoạt động
thương mại sử dụng các phương tiện điện tử và công nghệ xử lý thông tin số
hoá.
WTO: Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân
phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được
giao nhận có thể hữu hình hoặc giao nhận quan internet dưới
dạng số hóa
OECD: Thương mại điện tử là việc làm kinh doanh thông qua mạng Internet,
bán những hàng hoá và dịch vụ có thể được phân phối không thông qua mạng
hoặc những hàng hoá có thể mã hoá bằng kỹ thuận số và được phân phối thông
qua mang hoặc không thông qua mạng.
6
AEC (Association for Electronic Commerce): Thương mại điện tử là làm kinh
doanh có sử dụng các công cụ điện tử, định nghĩa này rộng, coi hầu hết các hoạt
động kinh doanh từ đơn giản như một cú điện thoại giao dịch đến những trao
đổi thông tin EDI phức tạp đều là thương mại điện tử.
UNCITRAL (UN Conference for International Trade Law ), Luật mẫu về
Thương mại điện tử (UNCITRAL Model Law on Electronic Commerce, 1996):
Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương
tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của tòan bộ quá
trình giao dịch.
“Thông tin” được hiểu là bất cứ thứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuận điện tử,

mà thương mại điện tử có thể đạt được các cấp độ từ thấp đến cao. Cấp độ thấp
nhất là sử dụng thư điện tử đến Internet để tìm kiếm thông tin, đến đặt hàng trực
tuyến và dịch vụ trực tuyến đến xây dựng các website cho hoạt động kinh
doanh và cuối cùng là áp dụng các giải pháp toàn diện về thương mại điện tử.
- Thương mại điện tử có tốc độ nhanh. Nhờ áp dụng kỹ thuật số nên tất
cả các bước của quá trinh giao dịch đều được tiến hành thông qua mạng máy
tính. Ngôn ngữ của công nghệ thông tin cũng cho phép rút ngắn độ dài của các
văn bản giao dịch. Dịch vụ phần mềm ngày càng hoàn hảo, tốc độ đường truyền
nhanh cho phép rút ngắn thời gian soạn thảo, giao tiếp và ký kết các văn bản
giao dịch điện tử. Điều này đã làm cho thương mại điện tử đạt tốc độ nhanh
nhất trong các phương thức giao dịch tạo nên tính cách mạng trong giao dịch
thương mại.
2. Nội dung của thương mại điện tử.
2.1. Lợi ích của thương mại địên tử.
Lợi ích đối với các tổ chức.
8
-Thương mại điện tử mở rộng phạm vi giao dịch trên thị trường toàn cầu.
Với một lượng vốn tối thiểu, các doanh nghiệp dễ dàng và nhanh chóng tiếp
cận được với nhiều khách hàng, lựa chọn nhà cung ứng tốt nhất và xác định
được đối tác kinh doanh phù hợp nhất.
-Thương mại điện tử làm giảm chi phí thu thập xử lý, phân phối, lưu trữ
và sử dụng thông tin. Chảng hạn, áp dụng đấu thầu mua sắm điện tử, doanh
nghiệp có thể cắt giảm chi phí quản trị mua sắm đến 85%. Trong thanh toán,
nhờ sử dụng các phương tiện thanh toán điện tử, công ty có thể cắt giảm chi phí
phát hành bằng sét bằng giấy.
-Thương mại điện tử tạo ra khả năng chuyên môn hoá cáo trong kinh
doanh, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thương mại. Nhiều siêu thị điện tử
quy mô nhỏ và vừa sẽ chuyên môn hoá một số mặt hàng, chẳng hạn các siêu thị
-Thương mại điện tử góp phần giảm lượng tồn kho và đòi hỏi về cơ sở
vật chấtkỹ thuật thông qua việc áp dụng phương pháp quản lý dây chuyền cung

khả năng giao hàng rất nhanh cho khách hàng.
_Khách hàng có thể tham gia đấu giá trên mạng.
-Thương mại điện tử tạo điều kiện để khách hàng tác độn hỗ trợ lẫn nhau
nhăm trao đổi các ý tưởng kinh nghiệp.
-Thương mại điện tử thúc đẩy cạnh tranh và từ đó dẫn tới sự giảm giá bền
vững.
Lợi ích đối với xã hội.
_Thương mại điện tử cho phép mọi người có thể làm việc tai nhà, giảm
thiểu việc mua sắm do đó giảm phương tiện lưu thông trên đường, giảm thiểu
tai nạn và ô nhiễm môi trường sống.
_Thương mại điện tử tăng mức hưởng thụ của người dân.
_Thương mại điện tử thúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ công cộng như
chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và phân phối các dịch vụ xã hội của chính phủ.
10
2.2 Các phương tiện kỹ thuật của thương mại điện tử.
a.Điện thoại.
Điện thoại là một phương tiện phổ thông, dễ sử dụng, và thường mở đầu
cho các cuộc giao dịch thương mại; một số loại giao dịch có thể cung cấp trực
tiếp của điện thoại như dịch vụ bưu điện, hỏi đáp, tư vấn, giải trí, ngân hàng.
Ngày nay với sự phát triển của đi động, liên lạc qua vệ tinh, ứng dụng của điện
thoại sẽ ngày càng trở nên rộng rãi.
Tuy nhiên điện thoại vẫn có mặt hạn chế đó là chỉ truyền tải được âm
thanh, mọi cuộc giao dịch cuối cùng vẫn phải kết thúc bằng giấy tờ, ngoài ra chi
phí giao dịch điện thoại vẫn còn cao.
b.Máy điện báo và máy Fax.
Máy fax có thể thay thể dịch vụ đưa thư và gửi công văn truyền thống,
may điện báo chỉ truyền được lời văn. Nhưng máy Fax có hạn chế là không
truyền tải được âm thanh, hình ảnh động, hình ảnh ba chiều… ngoài ra chi phí
sử dụng còn cao.
c.Truyền hình.

trực tiếp vào tài khoản, mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ tín dụng……. thực
chất cũng là các dạng của thanh toán điện tử. Ngày nay với sự phát triển của
TMĐT, thanh toán điện tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới
-Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính(FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán
điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử.
-.Tiền mặt Internet(internet cash) là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành
( Ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng), sau đó được chuyển đổi tự do sang các
đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong phạm vi cả một nước cũng
như giữa các quốc gia; tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hoá, vì thế
tiền mặt này còn có tên gọi khác gọi là “ tiền mặt số hoá”(digital cash), công
12
nghệ đặc thù luôn phục vụ mục đích này, đảm bảo mục đích của cả người bán
và người mua.
-Túi tiền điện tử(Electronic purse) còn gọi là “ví điện tử” là nơi để tiền mặt
internet, chủ yếu là thẻ thông minh, còn gọi là thẻ giữ tiền, tiền được trả cho bất
cứ ai đọc được thẻ đó. Kỹ thuật của túi tiền điện tử về có bản là mã hoá công
khai/bí mật.
-Thẻ khôn minh(smart card) nhìn bề ngoài giống thẻ tín dụng, nhưng ở mặt sau
của thẻ thay vì cho giải từ lại là một chíp máy tính điện tử có một bộ nhớ nhỏ
để lưu trữ tiền số hoá, tiền đó chỉ được chi trả khi người sử dụng và thông điệp
được xác định là “đúng”.
-Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một hệ thống lớn gồm các phân
hệ như.
(1) Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng qua điện thoại, tại các điểm bán
lẻ, các kiôt, giao dịch cá nhân tại các gia đình, giao dịch tại trụ sở khách hàng,
giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng,
thông tin hỏi đáp
(2) Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị).
(3)Thanh toán nội bộ một hệ thống ngân hàng.
(4) Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác.

Dựa vào các chủ thể tham gia thương mại điện tử người ta phân thành
các loại hình ứng dụng thương mại điện tử gồm:
+ Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp-B2B (Business –to- Business)
14
Theo hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD),
thương mại điện tử B2B chiếm tỉ trọng lớn trong EC (khoảng 90%). Giao dịch
theo B2B chủ yếu được thực hiện trên các hệ thống ứng dụng thương mại điện
tử như mạng giá trị gia tăng (VAN), dây truyền cung ứng hàng hoá, dịch vụ
(SCM), các sàn giao dịch thương mại điện tử…
+ Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng - B2C (Business –to- Customer)
Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hoá, dịch vụ
tới người tiêu dùng. Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa
chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng. Giao dịch B2C tuy chiếm tỉ
trọng ít (khoảng 10%) trong EC nhưng có phạm vi ảnh hưởng rộng. Để tham
gia hình thức kinh doanh này doanh nghiệp sẽ phải thiết lập website, hình ảnh
cơ sở dữ liệu về hàng hoá, dịch vụ, tiến hành các quy trình tiếp thị, quản cáo,
phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng.
+ Giao dịch giữa các cá nhân (khách hàng) với nhau - C2C (Customer-to-
Customer)
Trong loại hình này, khách hàng sẽ bán hàng trực tiếp cho các khách
hàng khác. Loại này bao gồm việc bán hàng của các cá nhân: tài sản riêng, xe
15
hơi…Mẫu quảng cáo về các dịch vụ cá nhân trên Internet, kiến thức bán hàng
và ý kiến chuyên môn trực tuyến là ví dụ của C2C. Thêm vào đó nhiều cuộc
bán đấu giá cho phép các cá nhân đưa các vật ra bán đấu giá. Cuối cùng, các cá
nhân sẽ sử dụng các trang web cá nhân cũng như mạng nội bộ để quảng cáo các
vật hoặc các dịch vụ cá nhân.
+ Giao dịch giữa doanh nghiệp với nhà nước- B2G (Business- To- Government)
Cơ quan nhà nước đóng vai trò là khách hàng. Quá trình trao đổi thông
tin giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước được tiến hành qua các phương

Phương thức thanh toán là vấn đề quan trọng và rất nhạy cảm trong giao
dịch thương mại. Thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện thực tế và có hiệu
quả khi tồn tại một hệ thống thanh toán tài chính ở mức độ phát triển đủ cao,
cho phép tiến hành thanh toán tự động mà không phải dùng đến tiền mặt.
17
e.Bảo vệ sở hữu trí tuệ.
Do chất xám của con người ngày càng chiếm giá trị cao trong sản phẩm,
bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ trở thành bảo vệ sở hữu trí tuệ. Trong thương mại
điện tử vì thế nổi lên vấn đề đăng ký tên miền, bảo vệ sở hữu chất xám và bản
quyền của các thông tin, ở các khía cạnh phức tạp hơn nhiều so với việc bảo vệ
sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế vật thế. Một trong các khía cạnh đó là mâu
thuẫn giữa tính phi biên giới của không gian thương mại điện tử và tính chất
quốc gia của quyền sở hữu trí tuệ.
f.Bảo vệ người tiêu dùng.
Trong thương mại điện tử thì khi mua, khách hàng không có điều kiện để
đánh giá trực quan sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ. Những thông tin về hàng
hóa và dịch vụ mà người mua nhận được đều nhận được từ phía người bán. Vì
vậy vấn đề đặt ra là phải bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Các tổ chức quy
định bảo vệ người tiêu dùng ở các khía cạnh; chất lượng hàng hóa dịch vụ,
thông tin khách hàng….tăng độ tin cậy ở phía khách hàng.
g.Hành lang pháp lý.
Hành lang pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thương mại
điện tử của mỗi quốc gia. Nó góp phần đảm bảo tính pháp lý sở hữu trí tuệ và
chuyển giao công nghệ, bảo đảm các bí mật cá nhân của người tham gia giao
dịch thương mại điện tử. Hạ tầng cơ sở pháp lý cũng bao gồm các vấn đề xử lý
các hành vi phá hoại, những hành vi cản trở hoặc gây thiệt hại cho hoạt động
thương mại quốc tế.
Chương II. Thực trạng phát triển thương mại điện tử ở Viêt Nam.
1.Tác động kinh tế kỹ thuật của thương mại điện tử.
“Giống như đường sắt, thương mại điện tử đem tới sự tác động mới,

mặt hàng. Điều đó có vẻ khá đủ song có rất nhiều vấn đề, với một khối lượng
hàng lớn như vậy để tìm được mặt hàng chúng ta cần thì lại là một vấn đề. Đã
19
bao giờ chúng ta tính vào một siêu thị cỡ lớn, tìm một mặt hàng mình yêu thích
mất bao nhiêu thời gian và đôi khi chúng ta có thể nắm hết được các thông tin
liên quan đến sản phẩm. Nhưng với Internet thì khác. Do nội dung không hạn
chế tất cả các sản phẩm chúng ta cần sẽ được hiện thị và bên cạnh đó là các
thông tin liên quan đến sản phẩm để chúng ta có thêm thông tin lựa chọn hàng.
Và bạn chỉ cần nhấp chuột thì chúng ta sẽ có sản phẩm mà mình cần.
Ngày nay với sự cạnh tranh của các cửa hàng trực tuyến thì Wal-Mart cũng đã
đưa sản phẩm của minh lên bày bán trên Internet.
Các hoạt động thương mại điện tử diễn ra không ngừng không có kỳ nghỉ
hàng năm, dịch vụ 24h. Các hoạt động thương mại khôn ngừng là một hình thức
phá vờ giới hạn về không gian và thời gian.
1.2. Quan hệ trực tiếp giữa nhà cung cấp và người tiêu dùng.
Tác động thứ hai là nhà cung cấp có thể có quan hệ trực tiếp tới người
tiêu dùng, do đó bỏ qua được các khâu trung gian.
Cuộc cách mạng về hệ thống bán lẻ
Trước đây, nhà cung cấp và người tiêu dùng có mối liên hệ còn chưa
nhiều. Ngay cả với phương thức đặt hàng trực tiếp qua thư từ được gửi đi từ
trước khi tìm được đúng khách hàng. Mặt khác, nhà cung cấp không biết phải
tìm các thông tin của khách hàng ở đâu. Internet quy tụ mọi người và cửa hàng
vớinhau nên các nhà cung cấp có thể có quan hệ trực tiếp với người sử dụng.
Điều này mở ra một chương mới trong cuộc cách mạng về hệ thống bán lẻ. Nó
làm đơn giản hóa toàn bộ tiến trình thương mại và đem lại hiệu quả sản xuất.
Thay đổi vai trò từ đại lý sang người mua
Theo truyền thống, các sản phẩm từ một nhà máy phải đi qua một số
khâu trung gian trước khi đến được với người tiêu dùng. Đó chính là hệ thống
bán lẻ mà chúng ta đã biết. Tuy nhiên, các nhà máy bây giờ có thể bán sản
phẩm của họ trực tiếp cho người tiêu dùng, bỏ qua các khâu trung gian. Một

Hình thức thương mại quốc tế này sẽ phát triển và nền kinh tế toàn cầu sẽ
tăng trưởng. Sẽ đến lúc có sự phân phối bình đẳng của cải vật chất bởi vì chẳng
bao lâu nữa chúng ta sẽ không còn nằm trong tầm khống chế của một số ít tập
đoàn khổng lồ hoặc những công ty môi giới đầy quyền lực. Hình thức thương
mại quốc tế C đến C có thể được triển khai qua TMĐT.
1.5.Cuộc cách mạng tiếp thị sản phẩm và dịch vụ số hoá.
Bất cứ điều gì có thể truyền qua đường dây điện thoại dưới dạng tín hiệu
số được gọi là một sản phẩm số hóa. Tất cả các dạng thông tin đã được số hóa.
Nội dung của một cuốn sách đã được số hóa và truyền qua đường dây điện
thoại. Cuốn sách này có thể là một sản phẩm số hóa. Ngược lại, một chiếc máy
thu hình không thể được truyền qua các đường dây điện thoại. Do đó, nó không
phải là một sản phẩm số hóa.
Trong tương lai, tất cả các sản phẩm thông tin sẽ được số hóa qua
Internet. Các quyển sách, băng âm thanh, băng video sẽ được số hóa. Mặt hàng
được nhiều người ưa thích bây giờ là MP3, một dạng tệp máy tính số hóa âm
nhạc và cho phép chúng ta lấy nhạc từ Internet. Hình thức này đã làm cho
ngành âm nhạc thua lỗ hơn 10 tỷ USD một năm.
Sự biến đổi tiền mặt là tác động rõ ràng nhất. Trong quá khứ, tiền là vàng
trước khi nó biến đổi thành dạng tiền giấy. Bây giờ nó đang biến thành dạng
tiền số hóa. Khi bạn mua hàng ở một siêu thị, tất cả những gì chúng ta cần là trả
tiền bằng thẻ tín dụng. Không hề có sự trao đổi tiền mặt nào cả.
Nhưng cái thực sự đáng kinh ngạc là dịch vụ số hóa. Hãy nghĩ kỹ về nó. Một
lượng lớn tiền mua bán các cổ phiếu có thể được truyền qua Internet trong một
giây. Dịch vụ này đã cách mạng hóa chu trình bán lẻ. Chúng ta đang thực sự
sống trong thời đại đầy sáng tạo.
1.6. Sự biến đổi của các ngân hàng truyền thống
Tác động tiếp theo của thương mại điện tử là sức ép cải tổ các ngân hàng truyền
thống.
22
Để thấy sự ra đời và suy thoái của ngân hàng, chúng ta phải xem xét lịch

đề nghi vấn về độ tin cậy của các tín hiệu số. Trong thời gian đầu, chúng ta đã
từng có sự nghi ngờ về đồng tiền giấy. Bây giờ chúng ta sẽ không bao giờ trả
tiền mua cái gì bằng thỏi bạc nữa. Điều đó là vì giao dịch bằng tiền giấy thật dễ
dàng và chúng ta có thể phân biệt được tiền giả. Tương tự như vậy, lòng tin và
tính bảo an của tiền điện tử cũng sẽ vượt qua đồng tiền giấy. Chúng ta vẫn còn
dùng tiền giấy bởi vì việc dùng tiền điện tử chưa thực sự thuận lợi. Nếu tất cả
xe taxi đều có một máy đọc để bạn có thể đưa thẻ tín dụng của mình thì mọi
người sẽ sẵn lòng sử dụng tiền điện tử.
Cũng thế, hãy nghĩ tới khoản tièn lãi cộng thêm thu được. Nếu một người
lái xe taxi gửi số tiền kiếm được vào ngân hàng ngày hôm sau thì anh ta sẽ bị
mất tiền lãi của một ngày. Nếu anh ta có thể kiếm được tiền lãi ngày vào lúc thẻ
tín dụng được đọc thì đó không chỉ là sự thuận tiện mà còn là sự khai thác tối đa
đồng tiền. Với tiền điện tử, chúng ta thường phải tuân thủ các thủ tục thường
xuyên của ngân hàng để đưa tiền của chúng ta vào năm khoản tiền đặt cọc khác
nhau. Một khi chúng ta bắt đầu thanh toán từ tài khoản xuống mức tiền lãi thấp
nhất. Lợi ích của tiền điện tử sẽ buộc các ngân hàng truyền thống phải cải tổ.
2.Cơ hội và thách thức của thương mại điện tử Việt Nam trong thời kỳ hội
nhập.
Thương mại điện tử là một cơ hội cho các nước đang phát triển có thể
đấy nhanh quá trình phát triển kinh tế. Việt Nam là một trong số đó, lợi thế hiện
nay mà Việt Nam có được đó là VN đã là thanh viên của WTO điều này tạo cho
nền kinh tế VN cũng như thương mại điện tử VN có một bước phát triển mới.
Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại điện tử đã có nhiều tác
động sâu sắc đến sự phát triển của thương mại điện tử Việt Nam.
24
Tốc độ phát triển thương mại điện tử trên thế giới diễn ra khá mạnh mẽ.
Đặc biệt với sự phát triển của Internet và đường truyền Internet ngày càng cao,
các sản phẩm phần mềm giá rẻ dễ sử dụng làm cho số người sử dụng ngày càng
tăng nên. Theo thống kê số người sử dụng Internet trên thế giới tính đến nay đã
trên con số 1.2 tỷ người chiếm hơn 18% dân số thế giới. Số người sử dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status