1
HỘI HÓA HỌC VIỆT NAM
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ XỬ LÝ ĐẤT BỊ Ô
NHIỄM THUỐC TRỪ SÂU CLO HỮU CƠ
Chủ nhiệm đề tài: Đỗ Thanh Bái
7708
10/02/2010
Hà nội, 12/2009
3
HỘI HÓA HỌC VIỆT NAM
Danh sách những người thực hiện chính
STT Họ tên Học vị, học hàm
chuyên môn
Cơ quan
1 Đỗ Thanh Bái (chủ
nhiệm đề tài)
Thạc sỹ CN Môi trường Hội Hoá học Việt Nam
2 Trần Quang Hân Kỹ sư công nghệ hoá
học
Hội Hoá học Việt Nam
2 Vũ Tài Giang Thạc sỹ CN Hóa học TT BVMT & ATHC –
Viện Hoá học Công
nghiệp Việt Nam
3 Trần Thị Thanh
Thuỷ
Thạc sỹ CN Môi trường TT BVMT & ATHC –
Viện Hoá học Công
nghiệp Việt Nam
4 Vũ Huyền Phương Thạc sỹ CN Môi trường TT BVMT & ATHC –
DDT; p,p' DDT; đielđrin; α-endosulfan; endrin; heptaclo, heptaclo epoxit;
hexaclobenzen (HCB); α-hexacloxyclohexan (α-HCH); β-
hexacloroxyclohexan (β-HCH); δ-hexacloxyclohexan (δ-HCH); isodrin,
trans-nonaclo; γ-hexachlorocyclohexan (γ-HCH). Mặc dù, việc sử dụng
những hợp chất đã chấm dứt ở Việt Nam. Nhưng vấn đề ô nhiễm môi trường
và ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng từ những điểm ô nhiễm thuốc trừ sâu
cơ clo tồn lưu đã và đang trở nên hết sức cấp bách. Trên thực tế, tại Việt
Nam đã có nhiều công nghệ được đề xuất cho việc xử lý những những loại
thuốc trừ sâu cơ clo nói trên và những khu vực ô nhiễm tồn lưu liên quan
đến thuốc trừ sâu cơ clo. Tuy nhiên vẫn chưa có một giải pháp thực sự thỏa
đáng. Những khó khăn gặp phải chính là tính thân thiện môi trường và khả
năng ứng dụng rộng rãi của các giải pháp.
Nghiên cứu này nhằm tìm ra một công nghệ có tính ứng dụng, thay thế và
khắc phục nhược điểm của các công nghệ hiện nay trong việc xử lý thuốc trừ
sâu cơ clo tại Việt Nam. Nghiên cứu sẽ lựa chọn từ nhóm thuốc trừ sâu cơ
clo một hợp chất đại diện làm mục tiêu cho quá trình xử lý. Trên thực tế tại
Việt Nam, ô nhiễm từ các kho chứa DDT cũ đang là điểm nóng. DDT là độc
chất bền vững trong tự nhiên, tích lũy trong cơ thể và gây ảnh hưởng nghiêm
trọng tới sức khỏe con người. Ngoài ra, DDT đã được liệt kê vào nhóm
POPs (các hợp chất hữu cơ ô nhiễm khó phân hủy – đã được đưa vào nội
dung của Công ước Stockholm) nên việc lựa chọn độc chất này làm cấu tử
mục tiêu cho quá trình xử lý sẽ mang ý nghĩa thực tế rất cao. Vì vậy, trong
nghiên cứu này, DDT tồn lưu trong đất khu vực bị ô nhiễm nặng sẽ được lựa
chọn làm mục tiêu của quá trình xử lý.
Một công nghệ xử lý mới theo con đường hoá học sẽ được nghiên cứu bằng
cách sử dụng hoạt tính rất mạnh của hydro nguyên sinh làm tác nhân thực
hiện phản ứng tách gốc clo ra khỏi mạch phân tử của DDT từ đó làm mất
dần tính độc của tác nhân này. Thực nghiệm xác định khả năng hình thành
1.4.1.3. Loại bỏ DDT bằng các biện pháp cơ lý ……………… 9
1.4.1.4. Phân hủy sinh học …………………………………… 10
1.4.1.5. Phân hủy nhờ thự
c vật ………………………………… 11
1.4.2. Những công nghệ đã được thương mại hóa và áp dụng tại
Việt Nam ……………………………………………………………… 12
1.4.2.1. Xử lý và tiêu hủy trong lò đốt hai cấp ………………… 12
1.4.2.2. Đồng thiêu đốt trong lò xi măng ……………………… 15
1.4.2.3. Đốt trong lò chuyên dụng có can thiệp lạnh cưỡng bức 16
1.4.2.4. Ôxy hóa kết hợp xử lý sinh học ……………………… 16
1.4.2.5. Sử dụng xúc tác đồng …………………………………. 18
1.5. Nghiên cứu thăm dò công nghệ xử lý DDT trong đất bằng hydro nguyên sinh
trong phòng thí nghiệm ……………………………………………………… 19
1.5.1. Mục tiêu của nghiên cứu ……………………………………… 19
1.5.2. Phân tích lựa chọn công nghệ ………………………………… 19
1.5.2.1. Thiêu đố
t ở nhiệt độ cao ………………………………. 19
1.5.2.2. Thiêu đốt trong lò xi măng ……………………………. 20
1.5.2.3. Xử lý hóa học kết hợp chôn lấp bằng vật liệu cách ly … 20
1.5.3. Nền tảng lý thuyết của nghiên cứu …………………………… 23
CHƯƠNG II. THỰC NGHIỆM
2.1. Thí nghiệm xử lý DDT trên mẫu cát ……………………………………. 28
2.2. Thí nghiệm xử lý DDT trên mẫu đất tại cơ sở ………………………… 29
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN
3.1. Mức độ ô nhiễm của đất tại cơ sở ………………………………………. 31
3.2. Kết quả xử
lý trên mẫu cát ……………………………………………… 32
3.3. Kết quả xử lý trên mẫu đất tại cở sở ……………………………………. 34
3.4. Đánh giá phương pháp ………………………………………………… 41
ện tử (Electron capture detector)
UNEP Chương trình môi trường Liên hợp quốc
VOCs Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi
WHO Tổ chức y tế thế giới
2
Tóm tắt nhiệm vụ
Thông qua việc kế thừa, tham khảo và so sánh kết quả của những công trình
trước đây. Nghiên cứu này sẽ tiến hành phân tích lựa chọn và đề xuất một
công nghệ mới, sử dụng hydro nguyên tử làm tác nhân xử lý đất bị ô nhiễm
thuốc trừ sâu DDT, đặc biệt mức độ ô nhiễm là nghiêm trọng. Nghiên cứu
cũng sẽ tiến hành xây dự mô hình thực nghiệm trong phòng thí nghiệm
nhằm th
1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Độc tính của DDT
Công thức hoá học của DDT là C
14
H
9
C
l5
, ngay từ khi mới ra đời hóa chất
này đã chứng tỏ được tác dụng tuyệt vời của mình trong việc tiêu diệt các
loại côn trùng có hại cho ngành nông nghiệp. DDT có thể tiêu diệt được hầu
hết các loại sâu bọ có hại. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, người ta đã
dùng DDT để tiêu diệt một cách hiệu quả bọ chét, giúp cho các binh sĩ chiến
đấu ở Bắc Phi thoát khỏi nạn dịch thương hàn do bọ chét lây truy
ền. Tiếp
đó, Tổ chức Y tế thế giới đã dùng DDT để diệt muỗi và thu được thành công
lớn trong việc ngăn chặn bệnh sốt rét lây lan.
Sản phẩm thương mại phổ biến của DDT chủ yếu là p, p 'DDT, hoặc được
trộn với một lượng nhỏ các hợp chất khác (chủ yếu là chất độn). Ví dụ điển
DDT thể hiện độc tính rất mạnh đối với các loại vi sinh vật cũng như côn
trùng gây hại mùa màng. Với sinh vật sống dưới nước, giá trị của hệ số
LC50 có thể dao động từ 0,4 µg/L đối với tôm tới 42 µg/L đối với cá hồi
(Ritter, 1996). Với những loài không xương sống, giá trị này thậm chí còn
thấp hơn, 0,3 µg/L bởi sự suy yếu xẩy ra rất mạnh đối với quá trình sinh sản
và phát triển (IPCS, 1989). Sự nhậy cảm với DDT cũng lớn hơn ở cá nhỏ so
với cá lớn trong cùng một loài và một khu vực sinh sống. Việc tăng nhiệt độ
môi tr
ường có thể làm giảm đi độc tính của DDT đối với các loài sinh vật
sống dưới nước. Với sự tồn tại của DDT trong môi trường sống, hành vi của
những loài sinh vật này cũng có những điểm khác thường, tùy vào mức nồng
độ, ví dụ như sự thay đổi trong việc thích ứng với nhiệt độ khác thường đã
từng được ghi nhận trong những nghiên cứu trước đây (UNEP, 2002).
Những tác động trực tiếp và rõ rệt lên đời sống của động vật sống trên cạn
cũng đã được báo cáo khi độc chất này có thể làm giảm mạnh khả năng sinh
sản đối với các loài chim trong tự nhiên. Tuy nhiên, mức độ nhậy cảm cũng
thể hiện rõ sự khác biệt theo loài. Chim săn mồi rất nhậy cảm, trong khi đó
những loài thuộc bộ gà lai tương đối trơ với những ảnh hưởng tương tự.
DDT không thực sự nhậy cảm với động vật có vú. Giá trị LD50 cao hơn
nhiều so với cá hay các loại chim với giá trị trung bình nằm trong khoảng
100 mg/kg tới 1770 mg/kg đối với thỏ (IPCS, 1989).
Trong những thập niên gần đây, đã có một vài nghiên cứu được tiến hành
nhằm xác định độc tính của DDT đối với sức khỏe con người. Theo đánh giá
của EPA trong năm 1987 về mức độc tính của DDT, DDT thuộc nhóm B2,
một trong những chất có khả năng gây ung thư, dựa trên việc theo dõi các
khối u gan. DDT gây tác động trực tiếp lên hệ thần kinh của động vật, tác
động rõ rệt lên hệ thần kinh ngoại biên gây nên sự nhiễu loạn hệ thống thần
kinh, ảnh hưởng đến việc tiết ra các enzim chức năng đòi hỏi sự dịch chuyển
của các ion từ đó dẫn đến tê liệt hệ thần kinh. Có nhiều bằng chứng thực tế
ết luận
tương tự cũng có thể được tìm thấy trong nghiên cứu của các tác giả khác
khi họ kết luận rằng, mức độ độc và khả năng tích lũy sinh học của những
chất thuộc nhóm này tỷ lệ thuận với số lượng gốc clo có mặt trong phân tử
của chúng (Alan và Palfreyman, 1998).
1.2. Sự phát tán và phân hủy tự nhiên của DDT
Trong tự nhiên, DDT khi đã phát tán vào môi trường sẽ đồng thời tr
ải qua
những quá trình biến đổi lý – hóa – sinh học. Đó chính là động lực của quá
trình vận chuyển, biến đổi và tồn lưu của hóa chất này trong tự nhiên. Khi
DDT được phát tán vào môi trường, nó có thể sẽ bị phân hủy, chuyển hóa
hay tương tác với các yếu tố khác. Nó có thể bị phân tán vào môi trường đất,
nước, không khí hay trầm tích nhưng sự tồn tại này không mang tính độc lập
mà liên quan mật thiết, chặt chẽ với nhau. Theo thuyết bả
o toàn vật chất,
lượng phát tán vào môi trường sẽ phải bằng với tổng lượng phân hủy, biến
4
đổi, lưu chứa hay vận chuyển giữa các môi trường đặc trưng cấu thành của
môi trường tự nhiên. Những quá trình thúc đẩy sự vận tải chất trong môi
trường tự nhiên có thể được kể đến như: bay hơi, lắng lọc, trôi dạt, tích lũy
sinh học, hút thấm bề mặt hay lắng đọng trầm tích.
Tích lũy sinh học
Không khí
Vùng sinh vật
Nước Đất
Bay hơi
Lôi cuốn
Lọc rửa
DDT
5
phối chủ yếu bởi các quá trình tự nhiên như: xói mòn, cuốn trôi, lắng lọc và
phân hủy.
Nhờ những quá trình đó, DDT sẽ được vận chuyển từ môi trường đất hay
không khí vào trong nước. Tại đây, khả năng khuếch tán và di chuyển theo
dòng nước đã giúp cho tác nhân độc hại này di chuyển rất xa so với nguồn
phát thải. DDT cũng có thể quay trở lại môi trường đất hay không khí thông
qua quá trình bay hơi, lắng đọng hay hấp thụ
. Tuy nhiên, những quá trình
này có thể được bỏ qua bởi chúng rất nhỏ so với khả năng di chuyển và phân
tán trong môi trường nước do khả năng chuyển khối cao hơn rất nhiều.
Quá trình thâm nhập của DDT vào cơ thể sinh vật được tiến hành theo ba
con đường: tiêu hoá, hô hấp và tiếp xúc qua da. DDT có khả năng tích lũy và
khuyếch đại sinh học, vì vậy nồng độ DDT và các sản phẩm chuyển hoá
trong cơ thể sinh vật thường cao hơn cao h
ơn trong môi trường và ở động
vật bậc cao cũng luôn cao hơn động vật bậc thấp.
Con đường phân hủy sinh học của DDT trong môi trường tự nhiên thông qua
là điều kiện không thể thiếu cho sự thúc đẩy quá trình phân hủy sau cùng
của DDT (Aislabie, 1997).
Trong môi trường
đất, DDT tồn tại rất lâu và khó bị phân hủy trong những
điều kiện bình thường. DDT vẫn có thể được tìm thấy 20 năm sau thời điểm
bắt đầu. Điều kiện tự nhiên cho quá trình phân huỷ DDT là quá trình yếm
khí và hiếu khí với sự có mặt cần thiết của chất nền cacbon (C), các quá
trình này có thể đan xen nhau từ yếm khí sang hiếu khí hoặc ngược lại.
Ngoài ra, khả năng tiếp xúc pha và chuyển pha trong môi trườ
ng đất là rất
thấp. Điều này rất khó thực hiện một cách tự nhiên mà cần phải nhờ sự can
thiệp của con người.
1.3. Vấn đề ô nhiễm thuốc trừ sâu DDT tại Việt Nam
Ngay khi mới ra đời, DDT đã được đánh giá rất cao do tác dụng tuyệt vời
trong việc tiêu diệt sâu bọ phá hoại mùa màng và diệt muỗi, ngăn ngừa sốt
rét cũng như bệnh truyền nhiễ
m. Tuy nhiên, chỉ 30 năm sau sau khi đưa vào
sử dụng đại trà, DDT đã bị tuyên án "tử hình" vì người ta đã sớm phát hiện
ra rằng DDT đã nhanh chóng bị nhờn bởi một số loại côn trùng có hại (cho
đến năm 1960 đã có 137 loại côn trùng có hại nhờn với DDT) và làm chết
7
nhiều loài chim tiêu diệt sâu bọ gây hại. Trong môi trường tự nhiên, DDT
bền vững, rất khó bị phân hủy ngay cả khi có sự tác động của con người.
Theo con đường ăn, hô hấp, tiếp xúc qua da, DDT thâm nhập vào cơ thể
động vật từ bậc thấp đến bậc cao và tích lũy trong cơ thể do khả năng tan
trong mỡ. Khi xâm nhập vào cơ thể con người, DDT sẽ phá hủy nội tiết tố
giới tính của con người, gây ra các b
trường và các nhà khoa học hết sức quan tâm trong những năm gần đây.
Mục tiêu của việc quản lý DDT là hướng tới kiểm soát và xử lý lượng tồn
dư, phân tán tại theo hướng thân thiện nhất với môi trường. 8
1.4. Công nghệ xử lý DDT đang áp dụng tại Việt Nam
1.4.1. Những công nghệ cơ bản xử lý DDT
1.4.1.1. Phân hủy bởi nhiệt
Công nghệ này sử dụng năng lượng nhiệt nhằm tăng mạnh sự bay hơi và
tăng khả năng tham gia vào phản ứng phân hủy của các tác nhân ô nhiễm
(Sri Harjanto et al., 1999), bao gồm: thiêu kết, giải hấp phụ nhiệt hay nhiệt
phân.
Công nghệ thiêu kết nhiệt độ cao đã và đang chứng tỏ là một trong những
công nghệ hiệu quả nhất, áp dụng cho việc xử lý các tác nhân ô nhiễm “cứng
đầu” như m
ột vài chất thuộc nhóm các chất hữu cơ khó phân hủy POPs
(Andrea et al., 2000). Theo đó, tác nhân ô nhiễm lẫn với đất sẽ được đốt ở
nhiệt độ rất cao (870
o
C tới 1200
o
C) dưới sự giám sát của các thiết bị tự động
và một vài điều kiện đặc biệt của quá trình. Công nghệ xử lý này có thể đạt
hiệu suất xử lý rất cao (có thể tới 99,99%), tuy nhiên đây cũng là phương
pháp hết sức đắt tiền bởi chi phí cho lượng nhiệt tiêu tốn là rất lớn.
Giải hấp phụ nhiệt là quá trình sử dụng năng lượng nhiệt làm bay hơi những
• Khử bằng hóa chất trong pha khí
Bản chất của quá trình là tiến phản ứng khử DDT bằng hydro ở nhiệt độ
850
o
C hoặc cao hơn. Nguồn sản sinh hydro ở đây là nước. Sản phẩm cuối
cùng của quá trình xử lý là methan – chất sau đó sẽ chuyển hóa thành CO
2
,
và HCl. Khí thải sau quá trình xử lý sẽ được tách bụi và axit.
• BCD (Base Catalyst Dehalogenation)
Quá trình này sẽ tiến hành hydro hóa xúc tác để chuyển DDT thành các sản
phẩm muối (NaCl), nước và một số hợp chất hydrocacbon bằng hydroxit
kim loại kiềm (dầu khoáng) và chất xúc tác phù hợp.
• Khử bằng Natri kim loại
Trong quá trình này, DDT sẽ được khử bằng Na phân tán trong dầu. Sản
phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy sẽ là các biphenyl không chứa clo,
muối ăn và hỗn hợp dầu và nướ
c. Tuy chưa có nhiều số liệu chính thức để
chứng minh cho hiệu quả của công nghệ tại Việt Nam, nhưng công nghệ này
đã được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật, EU, Australia,
Canada.
• Oxy hóa ướt ở trạng thái siêu tới hạn
Quá trình oxy hóa được tiến hành ở áp suất khoảng 250 atm, nhiệt độdao
động từ 400 – 500
o
C. Sản phẩm chính tạo thành là CO
2
, H
2
O, axit hữu cơ và
nhiễm.
Rửa là quá trình sử dụng nước (đôi khi kết hợp với các chất phụ gia hóa học)
kết hợp với các quá trình cơ lý để lọc rửa đất. Trong đất, các tác nhân ô
nhiễm thường tạo liên kết chặt chẽ với đất sét hay bùn và những chất này lại
tạo nên liên kết với hỗn hợp đất đá. Do đó, mục đích c
ủa quá trình rửa chính
là tách lượng đất sét và bùn ra khỏi đất ô nhiễm. Phần nước thu được sau
quá trình rửa sẽ chứa các tác nhân ô nhiễm, đất sét và bùn sẽ được xử lý
bằng các phương pháp khác như thiêu kết hay sinh học. Đây cũng là phương
pháp tiết kiệm chi phí và dễ dàng áp dụng cho quá trình xử lý sơ bộ trước
khi thực hiện quá trình phân hủy các chất ô nhiễm bởi các phương pháp
khác, giúp nâng cao hiệu suất tổng thể của quá trình. Nhằm nâng cao hiệ
u
suất của quá trình rửa, người ta cho thêm vào trong nước rửa một số hóa chất
phụ gia. Một số thí nghiệm đã được tiến hành với quá trình rửa bằng cách
thêm một số chất tẩy rửa (0 – 1,5%), nhiệt độ đạt 70 – 130
o
F, pH 7 – 10, tỷ
lệ giữa nước và đất là 6:1 – 9:1 (Tran Thi Thanh Thuy, 2008). Kết quả thí
nghiệm đã chỉ ra rằng, với sự có mặt của các chất hoạt động bề mặt thì hiệu
suất đã tăng từ 75% lên 90%.
1.4.1.4. Phân hủy sinh học
Quá trình này dựa trên sự hoạt động của các sinh vật sống (vi khuẩn, nấm)
để phân hủy những chất ô nhiễm tới nồng độ thấp hơn ngưỡng cho phép.
Phương pháp này hiện đã thể hiện được những ưu điểm so với các phương
pháp kể trên bởi chi phí cho quá trình xử lý thấp hơn nhiều và khả năng phân
hủy hoàn toàn các chất ô nhiễm trong môi trường mà không làm thay đổi kết
cấu củ
phương pháp in-situ (Vidali, 2001). Để thực hiện phương pháp này, có một
số hướng tiếp cận điển hình. Theo đó, đất bị ô nhiễm đầu tiên sẽ được đi
ều
chỉnh pH, dinh dưỡng, mức đồng đều và độ ẩm. Tiếp theo đó, hỗn hợp này
sẽ được ủ trong điều kiện yếm khí hay hiếu khí tùy theo yêu cầu công nghệ
(Lanfarming, Composting và Biopiles). Theo một cách khác, đất ô nhiễm sẽ
được trộn với nước (tỷ lệ đất:nước có thể từ 1:1 tới 1:9) và chất dinh dưỡng.
Sau đó hỗn hợp bùn thu được sẽ được luân phiên xử lý trong môi trường
y
ếm khí và hiếu khí. Trong trường hợp này, thiết bị phản ứng sinh học sẽ
được bố trí bộ phận khuấy trộn nhằm thúc đẩy sự phân hủy và tăng hiệu suất
quá trình. So với phương pháp Lanfarming, Composting và Biopiles thì
phương pháp này mang lại hiệu quả cao hơn do có tính ổn định và động học
của quá trình phân hủy cao hơn. Tuy nhiên, đi kèm với đó là chi phí cao và
đất trước khi tham gia quá trình phản ứng phải được tiền xử lý b
ằng các biện
pháp vật lý. Những so sánh cơ bản về ưu nhược điểm giữa các phương pháp
sinh học được biểu diễn trong bảng sau.
1.4.1.5. Phân hủy nhờ thực vật
Đây là công nghệ sử dụng cây trồng cho việc xử lý ngay tại chỗ các chất ô
nhiễm trong đất hay bùn. Nó có thể dược áp dụng để tách các kim loại nặng,
thuốc trừ sâu, dung môi hữu cơ, chất nổ, dầu hay các chất hữu cơ chứa vòng
thơm ra khỏi đất bị ô nhiễm. Bản chất cơ chế của phương pháp khá phức tạp
bởi sự liên quan giữa việc thúc đẩy quá trình trao đổi ch
ất của cây với sự
hoạt động của các vi sinh vật hữu ích cư trú trong rễ của các loài cây này. Có
12
thể kể đến một số cơ chế như: Phytoextraction, rhizofiltration, Hình 5. Sơ đồ quy trình công nghệ và cấu tạo lò đốt hai cấp – Bộ Tư lệnh Hóa học
14
Sau đó, vật liệu dạng rắn (đất) nhiễm DDT được đốt bằng lò đốt hai cấp.
Nước và khí thải phát sinh trong quá trình đốt sẽ được tập trung xử lý và thải
bỏ. Quy trình xử lý khí và tro thải đối với lò đốt hai cấp được mô tả như hình
vẽ dưới đây.
Hình 6. Nguyên lý xử lý khí thải lò đốt hai cấp
15
1.4.2.2. Đồng thiêu đốt trong lò nung xi măng nhiệt độ cao Hình 8. Sơ đồ dây chuyền công nghệ thiêu hủy DDT bằng lò nung xi măng
DDT và những vật liệu nhiễm DDT sẽ được đưa vào lò nung xi măng cùng
với nguyên liệu và những đặc tính của lò xi măng như: nhiệt độ rất cao
(nhiệt độ khí đốt > 1800
O
C; môi trường kiềm, oxy hóa; thời gian lưu cháy
dài và tính ổn định nhiệt cao rất tốt cho tiêu huỷ DDT. Công nghệ này yêu
cầu các thông số công nghệ rất chính xác để tránh gây ảnh hưởng tới quá
trình sản xuất xi măng và phải có hệ thống giám sát khí thải liên tục. Trong
khuôn khổ dự án POP-Pesticide được tài trợ bởi GEF, Công ty xi măng
Holchim – Kiên Giang đã đốt thử nghiệm khoảng vài chục tấn đất nhiễm
DDT nồng độ cao và cho kết quả tốt. 16
1.4.2.3. Đốt trong lò chuyên dụng có can thiệp lạnh cưỡng bức
2
O
2
); Nước sau khi xử lý loại bỏ hết thuốc bảo vệ thực vật
được quay trở lại tiếp tục tái sử dụng.