CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT XẠ HIÊM
[]
BÁO CÁO ĐỀ TÀI KHCN CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC XÁC ĐỊNH MỨC
ĐỘ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC NGUỒN
PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN ĐỂ XÂY DỰNG QUY TRÌNH
CÔNG NGHỆ ĐÁNH GIÁ CHI TIẾT CÁC VÙNG Ô
NHIỄM PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN
7650
LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT XẠ HIẾM CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI ThS. Nguyễn Văn Nam
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
PHẦN I: CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC
NGUỒN PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN 5
CHƯƠNG 1: NGUỒN PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN 5
MÔI TRƯỜNG CÁC NGUỒN PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN 84
4.1. Đối tượng, tỷ lệ, mạng lưới trong đánh giá chi tiết môi trường
các nguồn phóng xạ tự nhiên 84
4.2. Hệ phương pháp đánh giá chi tiết môi trường phóng xạ tự nhiên
ngoài thực địa 87
4.3. Phương pháp tính toán, xử lý tài liệu trong phòng 90
2
PHẦN II: ĐÁNH GIÁ CHI TIẾT VÙNG Ô NHIỄM CỦA MỘT SỐ
NGUỒN PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN 95
CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ CHI TIẾT MÔI TRƯỜNG PHÓNG XẠ
TRÊN MỘT SỐ NGUỒN PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN
ĐIỂN HÌNH Ở VIỆT NAM 95
5.1. Đánh giá chi tiết môi trường phóng xạ tự nhiên
ở Đông Cửu - Thanh Sơn - Phú Thọ 95
5.2. Đánh giá chi tiết môi trường phóng xạ tự nhiên
ở Đông Pao - Lai Châu. 104
5.3. Đánh giá môi trường phóng xạ tự nhiên
ở Bình Đường - Cao Bằng. 104
CHƯƠNG 6: TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ CHI PHÍ ĐỀ TÀI 115
6.1. Khối lượng và kinh phí thực hiện 115
6.2. Tổ chức thực hiện 117
6.3. Sản phẩm của đề tài 118
KẾT LUẬN 119
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
sản, công tác nghiên cứ
u môi trường phóng xạ thời gian qua cũng được triển khai ở
một số mỏ có nguy cơ ô nhiễm môi trường phóng xạ, phục vụ quy hoạch và phát
triển bền vững nền kinh tế, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Công tác đánh giá môi
trường phóng xạ bước đầu đã phát hiện nhiều khu vực, nhiều diện tích trên phạm vi
cả nước có nguy cơ ô nhiễm môi trường phóng xạ. Các khu vực này cần
được đánh
giá chi tiết, làm rõ quy mô, mức độ và khoanh vùng ô nhiễm một cách cụ thể, để
các cấp chính quyền địa phương có cơ sở quy hoạch và phát triển kinh tế, các cấp
quản lý đề xuất cách chính sách xã hội hợp lý, nâng cao chất lượng sống và phát
triển bền vững đất nước.
Nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các hoạt
động xây dựng, san lấp, giải phóng mặt b
ằng, khai thác khoáng sản đang diễn ra ở
nhiều nơi; đòi hỏi các cấp chính quyền địa phương phải nắm bắt được những khu
vực, những vùng có nguy cơ ô nhiễm phóng xạ cũng như mức độ và khả năng ảnh
hưởng của chúng ở địa phương mình để quy hoạch phát triển nền kinh tế. Mặt khác,
công tác nghiên cứu môi trường phóng xạ tự nhiên đến nay chưa có quy trình đo vẽ
chi tiết. Nhiều đơn vị tham gia nghiên cứu môi trường đều dựa trên các kinh
nghiệm, khả năng và trang thiết bị hiện có để đánh giá, xem xét dẫn đến các kết quả
nghiên cứu không đồng bộ, thiếu tính thống nhất, hiệu quả nghiên cứu chưa cao.
4
Chính vì vậy, ngày 10 tháng 4 năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã
cho phép Liên đoàn Địa chất xạ hiếm thực hiện đề tài KHCN cấp Bộ “Nghiên cứu
cơ sở khoa học xác định mức độ ô nhiễm môi trường của các nguồn phóng xạ tự
nhiên để xây dựng quy trình công nghệ đánh giá chi tiết các vùng ô nhiễm phóng
xạ tự nhiên”. Nhằm xác lập các luận cứ khoa học và thực tiễn xác định mức độ ô
nhiễm phóng xạ tự nhiên để xây dựng quy trình đánh giá chi tiết các vùng ô nhiễm
TRƯỜNG CỦA CÁC NGUỒN PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN
Chương 1
NGUỒN PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN
1.1. Một số khái niệm, định nghĩa và mối liên hệ giữa các đại lượng đo lường bức
xạ tự nhiên
1.1.1. Khái niệm về nguồn phóng xạ tự nhiên
Nguồn phóng xạ được chia thành hai loại, gồm: ngu
ồn phóng xạ tự nhiên
(Natural radioactive source) và nguồn phóng xạ nhân tạo (Artificial radioactive
source). Nguồn phóng xạ tự nhiên, mà người ta thường gọi là phông phóng xạ tự
nhiên bao gồm các đồng vị phóng xạ có mặt trong trái đất, trong nước và trong bầu
khí quyển. Nguồn phóng xạ nhân tạo do con người chế tạo ra bằng cách chiếu các
chất trong lò phản ứng hạt nhân hay các máy gia tốc.
1.1.2. Khái niệm phông bức xạ tự nhiên
Nghị định số 50/1998/NĐ-CP Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã quy định:
“Phông bức xạ tự nhiên là những bức xạ có nguồn gốc tự nhiên (như bức xạ
từ vũ trụ, từ các hạt nhân phóng xạ tự nhiên có trong đất đá, không khí, nước, cơ thể
con người và sinh vật, vật liệu …)”.
Hiện nay, các đơn v
ị chính được sử dụng trong đo lường bức xạ là hoạt độ,
liều hấp thụ, liều tương đương, liều hiệu dụng và liều chiếu. Sau đây là định nghĩa
và mối liên hệ giữa các đại lượng này.
1.1.3. Một số đơn vị sử dụng trong đo lường bức xạ tự nhiên và mối liên hệ giữa
chúng
1.1.3.1. Một số đơn vị sử d
ụng trong đo lường bức xạ tự nhiên
1. Hoạt độ phóng xạ (radioactivity)
ăng lượng hấp thụ trên một đơn vị
khối lượng của mô. Khái niệm liều hấp thụ không chỉ dùng cho đối tượng sinh học
mà dùng cho một môi trường vật chất bất kỳ. Do vậy, nó được định nghĩa như sau:
Liều hấp thụ D là tỷ số giữa năng lượng trung bình
ε
d mà bức xạ truyền
cho vật chất trong yếu tố thể tích và khối lượng vật chất dm của thể tích đó.
D =
dm
d
ε
( 1.3)
Đơn vị liều hấp thụ trong hệ SI là Gray (ký hiệu là Gy).
1Gy =1J/kg.
Đơn vị ngoài hệ SI là rad (radiation absorbed dose).
1rad = 0,01Gy.
Suất liều hấp thụ D* là liều hấp thụ tính cho một đơn vị thời gian. Đơn vị
suất liều hấp thụ trong hệ SI là Gy/s, ngoài ra còn dùng rad/s hay rad/h.
3. Liều tương đương
Tác dụng sinh học của các loại bức xạ khác nhau là khác nhau. Đó là do sự
khác nhau về độ mất mát năng lượng trên 1 đơn vị đườ
ng đi của các loại bức xạ
khác nhau và 1Gy của hạt alpha cho hiệu ứng sinh học lớn hơn 20 lần so với 1Gy
của bức xạ gamma.
7
Liều hấp thụ tương đương hay liều tương đương H là đại lượng để đánh giá
mức độ nguy hiểm của các loại bức xạ, bằng tích của liều hấp thụ D với hệ số chất
lượng (Quality Factor) đối với các loại bức xạ, được ký hiệu là QF. Ủy ban Quốc tế
về bảo vệ bức xạ ICRP (International Commission on Radiation Protection) đặt lại
0,1 MeV 7,5 10
0,5 MeV 11 20
> 0,1 MeV - 2 MeV 20
Neutron nhiệt
> 2 MeV - 20 MeV 5
Proton Năng lượng cao 10 5
Hạt alpha, mảnh vỡ phân hạch, hạt
nhân nặng
Không rõ 20 20
4. Liều chiếu (Exposure dose)
Liều chiếu cho biết khả năng ion hóa không khí của bức xạ tại một vị trí nào
đó. Liều chiếu X là tỷ số giữa giá trị tuyệt đối tổng điện tích dQ của tất cả các ion
cùng dấu được tạo ra trong một thể tích nguyên tố của không khí, khi tất cả các
8
electron và positron thứ cấp do các gamma tạo ra bị hãm hoàn toàn trong thể tích
không khí đó và khối lượng dm của thể tích nguyên tố không khí đó.
dm
dQ
X =
(1.7)
Đơn vị liều chiếu trong hệ SI là C/kg. Đơn vị ngoài hệ SI là Roentgen (ký
hiệu là R).
1R = 2,58.10
-4
C/kg. (1.8)
Suất liều chiếu X* là liều chiếu trong một đơn vị thời gian. Đơn vị suất liều
chiếu trong hệ SI là C/kg/s.
10.02,6693,0693,0 ×
===
λ
Bq hay (1.10)
m
AT
a
2/1
23
10.17,4
=
Bq (m tính theo đơn vị là gam) hay (1.11)
m
AT
a
2/1
13
10.13,1
=
Ci (m tính theo g và T
1/2
tính theo giây) (1.12)
Từ các công thức nêu trên, công thức dưới đây thường sử dụng để tính khối
lượng chất phóng xạ khi biết hoạt độ của chúng:
m = 8,85.10
-14
aAT
1/2
(T
1/2
Suất liều tương đương liên hệ với suất liều chiếu như sau:
1Sv/s=100 x W
R
x R/s (1.15b)
Đối với tia X, tia gamma và tia beta có trọng số W
R
= 1 thì
1Sv = 1Gy = 100 rem = 100 rad = 100R hay
1R=1 rad = 1rem = 0,01 Gy = 0,01 Sv
Và
1Sv/s = 1Gy/s = 100 rem/s = 100 rad/s = 100R/s hay (1.16)
1R/s = 1 rad/s = 1rem/s = 0,01 Gy/s = 0,01 Sv/s.
Trong thực tế, các máy đo liều bức xạ thường sử dụng các thang đo là mR/h
và µR/h. Ta có thể suy ra từ công thức (1.16) sự tương đương từ 2 đơn vị này như
sau:
1µSv/h = 0,1 mR/h hay 1mR/h = 10 µSv/h (1.17)
3. Liên hệ giữa suất liều chiếu và hoạt độ phóng xạ của nguồn
10
Nguồn phóng xạ có hoạt độ a (đơn vị Ci) thì suất liều chiếu X* (đơn vị R/h)
tại một vị trí cách nguồn phóng xạ một khoảng r (đơn vị là mét) tuân theo công
thức:
2
*
r
aK
X
γ
=
(R x m
2
/(h x Ci)
60
Co 5,27 năm 1,174; 1,332 1,32
137
Cs 30 năm 0,661 0,33
131
I 8,08 ngày 0,08; 0,284; 0,364; 0,722 0,22
22
Na 2,58 năm 0,511; 1,275 1,20
51
Cr 27,8 ngày 0,325; 0,65 0,016
65
Zn 245 ngày 0,511; 1,12 0,27
75
Se 127 ngày 0,066-0,572 0,19
82
Br 1,5 ngày 0,554-1,91 1,45
124
Sb 60,9 ngày 0,609-2,088 0,97
226
Ra 1620 năm 0,825
1.2. Đặc điểm phân bố các nguyên tố phóng xạ trong môi trường tự nhiên
1.2.1. Các nhân phóng xạ trong vỏ trái đất
Nguồn phóng xạ tự nhiên trên trái đất gồm các nhân phóng xạ tồn tại cả
trước và trong khi trái đất được hình thành. Năm 1896 nhà bác học người Pháp
Becqueral phát hiện ra chất phóng xạ tự nhiên, đó là uranium. Đến nay người ta đã
11
nó có thời gian bán rã là 3,825 ngày, lớn hơn nhiều so với chu kỳ bán rã của thoron
(52 giây) và actinon (3,92 giây). Khí radon từ trong trái đất khuếch tán vào không
khí và các con cháu radon phóng xạ thường ở dạng rắn trong các điều kiện thông
thường, bám vào các hạt bụi khí quyển. Về phương diện an toàn bức xạ, sự chiếu
ngoài của radon và con cháu của nó không tác hại bằng sự chi
ếu trong cơ thể khi
con người hít thở bụi có các nhân phóng xạ bám vào vì chúng là các nhân phát xạ
alpha. Nồng độ radon trong không khí phụ thuộc vào hàm lượng các chất phóng xạ
có trong đất đá. Hình 1.1 dưới đây nêu các đồng vị phóng xạ và chu kỳ bán rã của
mỗi họ phóng xạ trong tự nhiên.
Đặc điểm thứ 3 của ba họ phóng xạ tự nhiên là sản phẩm cuối cùng trong
mỗi họ đều là chì: Pb206 trong họ uranium, Pb207 trong họ actinium và Pb208
trong họ thorium, trong khi thành viên cuối cùng trong họ
neptunium là Bi209.
12
Sơ đồ dãy phân rã phóng xạ tự nhiên
Urani
92
U
Protacti
91
Pa
Th232
14 tỷ năm
Ra228
6,7 năm
Th228
1,9 năm
Rn220
54,5 giây
Ra224
3,64 ngày
Ac228
6,13 giờ
Bi212
11,4 ngày
Pa 231
32500 năm
Bi211
2,14 phút
Pb211
36,1 phút
Po215
1,8.10
- 7
s
Tl 207
4,74 phút
Pb 207
Bền vững
Po211
0,52 giây
Dãy phân rã phóng xạ U235
Ac 227
2,18 năm
U 238
4,5 tỷ năm
Th234
24,1 ngày
U234
25.10
4
năm
Po214
1,6.10
- 4
s
Gamma
1,76 MeV
Dãy phân rã phóng xạ U238
Phân rã alpha
Phân rã bêta
Bên cạnh nguyên tố Bi214
và Tl208 là năng lượng của
tia gamma
Ghi chú:
13
Ngoài các đồng vị phóng xạ trong ba họ phóng xạ uranium, thorium, actinium,
trong tự nhiên còn tồn tại một số đồng vị phóng xạ với số nguyên tử thấp. Các đồng
vị phóng xạ quan trọng nhất được nêu ra trong bảng 1.3 dưới đây:
Bảng 1.3. Các đồng vị phóng xạ với số nguyên tử thấp
Các bức xạ chính
Hạt
nhân
Độ giàu đồng vị
(%)
Thời gian bán
rã (năm)
Các hạt
(MeV)
Gamma
Một trong các đồng vị phóng xạ tự nhiên là K
40
, rất phổ biến trong môi
trường (hàm lượng kali trung bình trong đất đá là 27g/kg và trong đại đương khoảng
380 mg/lit), trong động vật, thực vật và trong cơ thể con người (hàm lượng kali
trong cơ thể con người trung bình vào khoảng 1,7g/kg).
1.2.2. Các nhân phóng xạ phổ biến trong tự nhiên
Trong tự nhiên có nhiều đồng vị phóng xạ (chẳng hạn một loạt đồng vị
phóng xạ xuất hiện trong 3 họ phóng xạ tự nhiên), tuy nhiên các nhân phóng xạ phổ
biến nhấ
t trong vỏ trái đất thường là các đồng vị có thời gian sống dài. Bảng 1.4
dưới đây nêu một số nhân phóng xạ tự nhiên phổ biến nhất trong vỏ trái đất.
Bảng 1.4. Các nhân phóng xạ tự nhiên phổ biến nhất trong vỏ trái đất
Nhân
phóng xạ
Hoạt độ tự nhiên
U
235
Chiếm khoảng 0,72% tổng số khối lượng uran tự nhiên
U
238
Chiếm 99,2745% tổng số uran tự nhiên. Uranium tự nhiên có từ 0,5
đến 4,7 ppm trong đất đá (ppm=g/kg)
Th
232
Có 1,6 đến 20 ppm trong các loại đá.
Ra
226
16 Bq/kg trong các loại đá vôi và 48 Bq/kg trong các đá magma.
Hoạt độ lớp đất 30 cm x 1 m
2
(Bq/m
2
)
U
238
31 12 400
Th
232
52 20 800
Ra
226
500 200 000
Rn
222
63 25 200
K
40
7,4 2 960
Tổng cộng 653 261 200
1.2.4. Các nhân phóng xạ trong vật liệu xây dựng
Bảng dưới đây trình bày số liệu ước tính về hoạt độ của các nhân phóng xạ
uranium, thorium, K40 có trong một số loại vật liệu xây dựng.
Bảng 1.6: hoạt độ phóng xạ trong một số vật liêu xây dựng
Vật liệu Uranium (Bq/kg) Thorium (Bq/kg) K40 (Bq/kg)
Granite 63 8 1184
Cát sỏi 6 7 414
Xi măng 46 21 237
chiếu xạ.
Bức xạ và các chất phóng xạ là đặc tính vốn có và vĩnh cửu của môi trường,
vì vậy những rủi ro liên quan đến chúng chỉ có thể được hạn chế chứ không thể loại
bỏ hoàn toàn. Thêm vào đó, việc sử dụng các chất phóng xạ nhân tạo đang được
phát triển rộng rãi. Các nguồn phóng xạ cũng r
ất quan trọng đối với nhiều ngành
kinh tế. Việc sử dụng năng lượng hạt nhân và ứng dụng sản phẩm phụ của bức xạ
và các chất phóng xạ đang tiếp tục tăng nhanh trên phạm vi toàn cầu.
Sự chấp nhận của cộng đồng đối với những rủi ro liên quan đến bức xạ cần
phải được cân bằng với các nguồn lợi thu đượ
c từ việc sử dụng bức xạ. Bởi vậy, các
16
rủi ro cần phải được hạn chế và bảo vệ bằng việc áp dụng các tiêu chuẩn an toàn
bức xạ.
Các nhân phóng xạ có mặt ở mọi nơi (trong đất, nước, không khí, thức ăn,
nước uống, vật liệu xây dựng, cơ thể con người…) trong môi trường sống của con
người. Ở mọi lúc, mọi nơi trong cuộc sống, con người đều nhận được một liều chi
ếu
từ các tia bức xạ, mức liều phụ thuộc vào nơi chúng ta đang sống, vị trí chúng ta
đang đứng. Ở những vị trí, những vùng miền khác nhau, liều tương đương bức xạ là
rất khác nhau.
Cơ thể người là đối tượng quan trọng nhất khi nghiên cứu các hiệu ứng sinh
học của bức xạ. Có 2 cách chiếu xạ lên cơ thể người, đó là chiếu xạ ngoài (external
exposure) và chiếu xạ trong (internal exposure).
+ Chiếu xạ ngoài là sự chiếu xạ do nguồn bức xạ bên ngoài lên cơ thể.
+ Chiếu xạ trong là sự chiếu xạ do nguồn phóng xạ hở xâm nhập vào trong
cơ thể.
Trong cơ thể con ng
Đối tượng những người bị chiếu xạ được phân ra 3 loại như sau:
- Đối tượng A: gồm nhân viên bức xạ làm việc trực tiếp với các chất phóng
xạ.
- Đối tượng B: những người lân cận.
- Đối tượng C: dân chúng.
Bảng 1.7 và bảng 1.8 dưới đây quy định liều giới hạn hàng năm và định mức
nồng độ giới hạn hàng năm đối v
ới các đối tượng tiếp xúc bức xạ.
Bảng 1.7. Định mức liều giới hạn hàng năm
Liều bức xạ giới hạn (mSv/năm)
Đối tượng
người bị
chiếu xạ
Theo Liên Xô
(1987)
Theo Nga
(1996)
Theo cơ quan năng
lượng nguyên tử
(IAEA) - 1996
Việt Nam
(1996)
A 50 20 20 20
B 5 5
C 1 1 1
Bảng 1.8. Định mức nồng độ giới hạn hàng năm
Nồng độ (hàm lượng) giới hạn
Đối tượng
gây bức xạ
Môi trường phóng xạ được hình thành từ các nguồn bức xạ khác nhau và tồn
tại trong điều kiện tự nhiên luôn biến đổ
i. Sự biến đổi của môi trường phóng xạ tự
nhiên hoặc làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm môi trường hoặc có thể giảm thiểu tác
động của nó. Môi trường phóng xạ tự nhiên là tập hợp môi trường sống của con
người mà ở đó các nhân phóng xạ phát ra các bức xạ ion hóa, tùy theo mức độ có
thể ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe con người sống trong môi trường đó. Các thành
phần chính tạo nên môi tr
ường phóng xạ tự nhiên được thể hiện ở hình 1.2 dưới
đây.
19
(U, Th, K…)
Tia bức xạ
vũ trụ
MÔI TRƯỜNG PHÓNG XẠ
Bức xạ :
α
,
β
,
γLiều tương đương
H=Hn +[Hp+Hd
]
Nồng độ các chất phóng xạ:
- Đất, nước, thực vật
- Vật liệu xây dựng
Chiếu ngoài
(mSv/năm)
Chiếu trong qua đường
hô hấp
(mSv/năm)
Chiếu trong qua
đường tiêu hoá
(mSv/năm)
i sự thống nhất Quốc tế về an
toàn bức xạ đã được xúc tiến: Một Ủy ban hỗn hợp giữa các tổ chức Quốc tế về An
toàn bức xạ (IACRS) đã được thành lập như một diễn đàn trao đổi ý kiến và hợp tác
trong các vấn đề liên quan tới an toàn bức xạ và hạt nhân giữa các tổ chức Quốc tế
21
với nhau. Tham gia vào Ủy ban này gồm: Ủy ban Khối cộng đồng chung Châu Âu
(CEC), Hội đồng tương trợ kinh tế (CMEA), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực
thế giới (FAO), Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), tổ chức lao động
Quốc tế (ILO), Cơ quan Năng lượng Hạt nhân của tổ chức hợp tác Phát triển Kinh
tế (OECD/NEA), Ủy ban Khoa học của Liên Hợp quốc về những
ảnh hưởng của
bức xạ nguyên tử (UNSCEAR) và tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Sau đó, tổ chức Y
tế liên Mỹ cũng tham gia vào.
Các nước phát triển như Mỹ, Liên Xô trước kia (nay là CHLB Nga), Nhật
Bản, Đức, Anh đều đã đề ra các tiêu chuẩn về an toàn bức xạ, đồng thời nghiên cứu,
chế tạo các thiết bị để điều tra, đánh giá môi trường bức xạ tự nhiên.
Về
công tác nghiên cứu, đánh giá môi trường bức xạ tự nhiên: ngay từ những
năm 1930, các nhà địa chất Liên Xô đã sử dụng phương pháp khí phóng xạ nghiên
cứu các mỏ nước khoáng, nước nóng và các vấn đề về địa chất thuỷ văn, địa chất
công trình.
Năm 1954 Liên Xô (cũ) chế tạo ra nhà máy điện nguyên tử đầu tiên và hàng
loạt các ứng dụng được hình thành. Trong đó, lĩnh vực địa chất và môi trường cũ
ng
hình thành hàng loạt các thiết bị đo ghi bức xạ tự nhiên, nhân tạo nhằm các mục
đích khác nhau gồm: các thiết bị phân tích kích hoạt nơtron, thiết bị phân tích
rơnghen huỳnh quang để phân tích các mẫu vật địa chất với độ chính xác và khả
năng phát hiện cao.
Các thiết bị đo ghi bức xạ như máy đo gamma, máy đo phổ gamma, máy đo
đến từng người dân.
1.5.2. Tình hình nghiên cứu môi trường phóng xạ tự nhiên ở Việt Nam
1.5.2.1. Hiện trạng nghiên cứu môi trường phóng xạ tự nhiên ở Việt Nam
Công tác nghiên cứu môi trường phóng xạ ở nước ta đến năm 1980 mới được
cố Giáo sư Nguyễn Đình Tứ đặt nền móng đầu tiên trong đề tài cấp nhà nước mang
mã số 5202 “Cơ sở khoa học về việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bả
o
vệ môi trường”. Trong đó: bốn đề tài nhánh liên quan đến phóng xạ ra đời gồm:
Đề tài nhánh mã số 5202-01: Nghiên cứu ảnh hưởng của phóng xạ đối với
sức khỏe con người nhằm đề ra phương pháp điều trị, do GS-TS. Lê Thế Trung -
Viện trưởng Viện Quân y 103 chủ trì.
Đề tài nhánh mã số 5202-02: Nghiên cứu mức độ ô nhiễm xạ môi trường
không khí tại Việt Nam do Viện hóa học Quân sự Bộ tư lệnh Hóa h
ọc chủ trì.
23
Đề tài nhánh mã số 5202-03: Nghiên cứu xác lập các vùng nhiễm xạ và mức
độ ô nhiễm xạ do GS-TS. Trương Biên - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là
trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội) chủ trì.
Đề tài nhánh mã số 5202-04: Nghiên cứu độ ô nhiễm xạ đất, nước, thực vật
các khu công nghiệp và các thành phố đông dân do TS. Đặng Huy Uyên - Trường
Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nộ
i) chủ trì.
Từ giữa những năm 1990 đến năm 2000, chương trình địa chất Đô thị của
Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã thực hiện các đề tài môi trường đô thị.
Từ năm 2000 đến năm 2006, công tác nghiên cứu môi trường phóng xạ tại
các mỏ chứa phóng xạ được Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm - Cục Địa chất và Khoáng
sản Việt Nam thự
c hiện.
Được Đảng và Nhà nước quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường nói