BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI
Nghiên cứu, xây dựng phương pháp luận phân vùng chức năng
môi truờng phục vụ công tác xây dựng quy họach, kế họach
theo định hướng phát triển bền vững
Đơn vị thực hiện: Tổng cục Môi trường
Chủ nhiệm đề tài: TS Đặng Văn Lợi
7755
02/3/2010
Hà Nội, 2009
Danh sách những người thực hiện chính
1. TS. Đặng Văn Lợi
2. GS. TSKH Đặng Trung Thuận
3. TS. Hoàng Văn Thắng
4. KS. Vũ Đình Thảo
5. ThS. Nguyễn Thị Thiên Phương
6. TS. Nguyễn Phạm Hà
7. ThS. Phạm Thị Kiều Oanh
2.2. Phân vùng chức năng môi trường 16
2.3. Mục tiêu phân vùng chức năng môi trường 16
2.4. Nhiệm vụ của phân vùng chức năng môi trường 17
2.5. Cách tiếp cận trong phân vùng chức năng môi trường 18
2.5.1 Cách tiếp cận h
ệ thống 18
2.5.2 Cách tiếp cận sinh thái 19
2.6. Nguyên tắc phân vùng chức năng môi trường 20
2.6.1. Tôn trọng tính khách quan của vùng 20
2.6.2. Đảm bảo tính đồng nhất tương đối của vùng 20
2.6.3. Phù hợp với chức năng sinh thái của vùng 20
2.6.4. Phù hợp với yêu cầu quản lý 21
2.6.5. Tính khoa học trong phân vùng 21
2.7. Tiêu chí phân vùng chức năng môi trường 21
2.7.1. Quan niệm về hệ thống tiêu chí phân vùng chức năng môi
trường
21
2.7.2. Nguyên tắc xác định, lựa chọn tiêu chí 22
2.7.3. Hệ thống tiêu chí phân vùng chức n
ăng môi trường Việt Nam 23
2.8. Bản đồ phân vùng chức năng môi trường 25
2.8.1 Yêu cầu đối với bản đồ phân vùng chức năng môi trường 25
2.8.2 Các phương pháp chính dùng để thành lập bản đồ phân vùng
chức năng môi trường
27
2.8.3 Tài liệu dùng để thành lập bản đồ phân vùng chức năng môi
trường
29
2.8.4 Nội dung của bản đồ phân vùng chức năng môi trường 29
2.8.5 Quy trình thành lập bản đồ phân vùng chức năng môi trường 31
1
MỞ ĐẦU
Trên thế giới, việc phân vùng chức năng đã được sử dụng rộng rãi trong
quy hoạch đô thị, điều chỉnh sử dụng đất ở Bắc Mỹ, Anh và Úc… Trong khi các
thành phố của châu Âu kiểm soát phát triển từ cuối thế ký 19 mà ngày nay được
biết như phân vùng chức năng, thành phố New York phân vùng đầu tiên vào
năm 1916. Vào cuối những năm 1920 nhiều nước đã thực hiện việc điề
u chỉnh
phân vùng chức năng đáp ứng nhu cầu phát triển.
Phân vùng là việc phân chia lãnh thổ thành các đơn vị tương đối đồng
nhất theo các tiêu chí và các mục tiêu nhất định nhằm đơn giản hóa việc nghiên
cứu hay quản lý có hiệu quả hơn theo đặc thù riêng của từng đơn vị trong vùng.
Phân vùng có thể là: phân vùng kinh tế, phân vùng sinh thái, phân vùng địa lý,
phân vùng môi trường. Từ trước tới nay, ở nước ta trong quá trình lập quy hoạch
phát triển và quản lý lãnh thổ đ
ã thực hiện việc phân vùng kinh tế. Phân vùng
kinh tế được thực hiện theo tiềm năng kinh tế, mức độ phát triển và mối quan hệ
tương hỗ mật thiết giữa các khu vực của vùng được xác định (ví dụ: các vùng
Kinh tế trọng điểm).
Song, vấn đề phân vùng chức năng như trên còn nhiều bất cập, còn nhiều
mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình thực hiện các quy hoạch như quá trình phát
triển làm mất cân b
ằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên, vượt quá sức chịu tải của
hơn, sâu sắc hơn. Tuy nhiên bản chất khách quan và cân bằng nội tại của vùng
vẫn tồn tại, đòi hỏi con người khi tiến hành phân vùng phải tôn trọng điều đó
trong nhận thức cũng như hành động để bảo tồn và hướng đến phát triển bền
vững (Đặng Trung Thuận, 2003).
Vùng là một bộ phận (một đơn vị Taxon cấp cao) của lãnh th
ổ, có một sắc
thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ
tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó, cũng như những mối
quan hệ có chọn lọc và với các không gian các cấp bên ngoài (Lê Bá Thảo,
1998).
Vùng là một đơn vị lãnh thổ có những đặc điểm tương đồng và các mối
liên kết với nhau theo một số
quy luật đặc thù tuỳ theo mục tiêu của hệ thống
phân vùng. (Trương Mạnh Tiến, 2002). Ví dụ:
Vùng kinh tế được chia theo tiềm năng kinh tế, mức độ phát triển và mối
quan hệ tương hỗ mật thiết giữa các khu vực của vùng được xác định (ví dụ: các
vùng Kinh tế trọng điểm).
Vùng sinh thái là một đơn vị lãnh thổ đặc trưng bởi các phản ứng sinh thái
đối với khí hậ
u trái đất, thực vật, động vật và hệ thống thủy vực. Phân định các
vùng sinh thái để tạo cơ sở cho việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên có hiệu
quả tối ưu, phát huy đầy đủ tiềm năng của vùng.
Vùng địa lý được phân theo tính tương đối đồng nhất của các yếu tố địa
lý, khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, địa chất…
Vùng đô thị là một trung tâm đông dân số bao g
ồm một đại đô thị và các
vùng phụ cận nằm trong phạm vi ảnh hưởng của đô thị này hay nói cách khác là
vùng gồm có hơn một thành phố trung tâm gần sát nhau và vùng nằm trong
phạm vi ảnh hưởng của các thành phố trung tâm này. Một hai nhiều thành phố
lớn có thể phục vụ như một trung tâm hay các trung tâm cho toàn vùng. Thông
Nhà địa lý học Mỹ G. P. March (1801 – 1882) vào năm 1864 đã nghiên cứu kỹ
về những thay đổi trong tự nhiên do tác động của con người gây ra và đề xuất
các nguyên lý bảo vệ thiên nhiên.
Trên thế giới, việc phân vùng đã được sử dụng rộng rãi trong quy hoạch
đô thị, điều chỉnh sử dụng đất ở Bắc Mỹ, Anh và Úc… Trong khi các thành phố
của châu Âu kiểm soát phát triển từ cuối thế ký 19 mà ngày nay được biết như
phân vùng chức năng, thành phố New York phân vùng đầu tiên vào năm 1916.
Vào cuối những năm 1920 nhiều nước đã thực hiện việc điều chỉnh phân vùng
chức n
ăng đáp ứng nhu cầu phát triển.
Để hạn chế ảnh hưởng do các xung đột môi trường gây ra bởi việc sự
dụng đất không hợp lý, vùng Santa Maria đã tiến hành phân vùng môi trường
thông qua 6 tiêu chí môi trường là độ dốc, mật độ thóat nước, độ nhám bề mặt
đất, độ che phủ, đất cư trú, tính chất của đất. Các vùng môi trường được xác
định là: Vùng phục hồi, vùng do con người sử dụng, vùng bảo tồn thường
xuyên, vùng b
ảo vệ thường xuyên. Phân vùng môi trường là công cụ được 4
Chính quyền sử dụng nhằm tối ưu hóa việc tổ chức sử dụng không gian lãnh thổ,
cũng như bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Bộ Môi trường và Tài nguyên nước Paraguay cũng đã tiến hành phân
vùng môi trường nhằm bảo vệ thượng nguồn lưu vực sông Paraguay. Dựa trên
các yếu tố địa chất, hình thái địa lý, địa hình, khí hậu và độ che phủ thực vật, lưu
vực sông được chia thành 34 đơn vị
môi trường tự nhiên, trong đó có 24 đơn vị
có địa hình cao và 10 đơn vị có địa hình đồng bằng, đôi khi bị ngập lũ. Dựa vào
các yếu tố kinh tế xã hội như hiện trạng sử dụng đất, tình hình sản xuất, cơ sở hạ
tầng và tổ chức trong vùng, lưu vực sông được chia thành 33 đơn vị môi trường
ội. Mặt khác, điều đó đặt ra các tiền đề quan
trọng làm cơ sở cho các nghiên cứu về sau của Địa lý tự nhiên Việt Nam. Các 5
nhà khoa học Địa lý, với quan điểm tổng hợp của mình đã đóng một vai trò quan
trọng trong công tác trên.
Vùng kinh tế
Phân vùng kinh tế là quá trình nghiên cứu phân chia lãnh thổ đất nước ra
thành một hệ thống các vùng kinh tế, là quá trình vạch ra hoặc tiếp tục điều
chỉnh ranh giới hợp lý của toàn bộ hệ thống vùng; định hướng chuyên môn hoá
sản xuất cho vùng và xác định cơ cấu kinh tế vùng ứng với các kế hoạch phát
triển dài hạn nền kinh tế quốc dân (15-20 năm). Trên cơ sở phân vùng kinh tế,
Nhà nước có kế hoạch tổ chức, lãnh đạo và quản lý kinh tế theo vùng được sát
đúng, cũng như để phân bố sản xuất được hợp lý, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao
nhất với chi phí sản xuất thấp nhất.
Theo phân loại vùng kinh tế, phân vùng kinh tế gồm có phân vùng kinh tế
tổng hợp và phân vùng kinh tế ngành. Phân vùng kinh tế ngành là cơ s
ở để xây
dựng kế hoạch hoá theo ngành và quản lý kinh tế theo ngành, đồng thời còn là
cơ sở để qui hoạch vùng kinh tế tổng hợp theo từng ngành. Phân vùng kinh tế
tổng hợp dài hạn nền kinh tế quốc dân, hoàn thiện kế hoạch hoá theo lãnh thổ để
phân bố lại lực lượng sản xuất hợp lý hơn, đồng thời là cơ sở để cải tạo mạng
lưới địa giới hành chính theo nguyên t
ắc thống nhất sự phân chia vùng hành
chính và vùng kinh tế.
Vùng kinh tế hình thành và phát triển là một tất yếu khách quan nên khi
tiến hành phân vùng kinh tế, cần phải dựa trên những căn cứ khoa học sau:
- Phân vùng kinh tế phải dựa trên nhiệm vụ cơ bản về xây dựng và phát
triển nền kinh tế quốc dân của cả nước do Đảng và Nhà nước đề ra, thể hiện cụ
- Phải thể hiện rõ chức năng cơ bản của nó trong nền kinh tế cả nước bằng
sản xuất chuyên môn hoá.
- Phải đảm bảo cho các mối liên hệ nội tại của vùng phát sinh một cách
hợp lý, để cho sự phát triển của vùng được nhịp nhàng cân đối như một tổng thể
thống nhất, có một tiềm lực kinh tế mạ
nh.
- Phải xoá bỏ những sự không thống nhất giữa phân vùng kinh tế và phân
chia địa giới hành chính.
- Phải bảo đảm quyền lợi của các dân tộc trong cộng đồng quốc gia có
nhiều dân tộc.
Trên cơ sở của phân vùng kinh tế tự nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế
đất nước, việc phân vùng kinh tế và quy hoạch lãnh thổ đã trở thành nhiệm vụ
quan trọng trong những năm 70 – 80. Bên cạnh các vùng nông nghiệp, lâm
nghiệ
p, sản phẩm phân vùng kinh tế do các nhà khoa học đã thống nhất xác định
8 vùng kinh tế phát triển như hiện nay, bao gồm:
- Vùng kinh tế Đông Bắc
- Vùng kinh tế Tây Bắc
- Vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng
- Vùng kinh tế Bắc Trung Bộ
- Vùng kinh tế Duyên hải Nam Trung Bộ
- Vùng kinh tế Tây Nguyên
- Vùng kinh tế Đông Nam Bộ 7
- Vùng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long
Vùng kinh tế trọng điểm
Từ năm 1992, Bộ kế hoạch – Đầu tư và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường đã tiến hành triển khai 3 đề tài trọng điểm cấp nhà nước “Tổ chức lãnh
nhập thành từng huyện vào các thành phố mới mở rộng; các ranh giới và địa
danh lịch sử được duy trì.
- Dân số: dân số trung bình cho mỗi đơn vị vùng trên dưới 1,5 triệu, vùng
đông dân nhất không lớn hơn 3 lần số dân trung bình và vùng ít dân không thấp
dưới 3 lần.
- Kinh tế: Phần lớn có thể hình thành cơ cấu công – nông nghiệp vùng 8
Ngoài ra, các nhân tố tự nhiên, giao thông, trình độ quản lý của cán bộ, an
ninh, quốc phòng cũng được tính đến.
Các vùng chuyên môn lớn
Sản xuất càng phát triển thì phân công lao động theo ngành càng tỉ mỉ và
sự phân công lao động theo vùng càng rõ rệt, các vùng chuyên môn hóa lớn dần
hình thành. Ở nước ta hiện nay, trình độ phát triển sức sản xuất chưa cao, nhưng
sau giai đoạn phát triển lâu dài của lịch sử, một số vùng sản xuất chuyên môn
hóa lớn đặc thù cũng đã
được hình thành như:
- Vùng than - nhiệt điện Quảng Ninh
- Vùng lâm sản - khai thác và chế biến kim loại Việt Bắc
- Vùng lương thực - cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm phía đông
nam đồng bằng Bắc Bộ
- Vùng gỗ giấy và thủy điện Tây bắc Bắc Bộ
- Vùng cơ khí và chế biến hàng tiêu dùng ở Hà Nội và xung quanh Hà Nội
- Vùng khai thác gỗ, hải sản và cây công nghiệp lâu năm dọc Trung Bộ
- Vùng cơ khí – chế biế
n hàng tiêu dùng, hải sản, gỗ giấy, thực phẩm, dầu
lửa, du lịch, ở Đông Nam Bộ.
- Vùng lương thực, thực phẩm Tây nam Bộ
Trên quan điểm phát triển nền kinh tế toàn diện, sử dụng hợp lý và
mục tiêu sau:
- Lựa chọn các tiêu chí vùng và các nguyên tắc phân vùng sao cho đáp
ứng yêu cầu của quy hoạch môi trường, trong đó quan trọng nhất là thừ
a nhận và
tôn trọng tính khách quan của các đơn vị lãnh thổ.
- Xác lập phương pháp phân vùng bao gồm cách tiếp cận và phương thức
tiến hành phân vùng nhằm phản ảnh tính quy luật khách quan, đồng thời đảm
bảo giá trị sử dụng thực tiễn các vùng được phân chia.
Qua nghiên cứu, các tác giả đề xuất hai phương pháp phân vùng phục vụ
cho quy hoạch môi trường, đó là:
Phương pháp thứ nhất: Phân vùng thành những tiểu vùng
Phân chia lãnh thổ nghiên cứu thành những ti
ểu vùng được dựa vào các
tiêu chí sau:
- Đặc điểm tự nhiên – môi trường: địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thảm
thực vật (các hệ sinh thái đặc trưng), các vùng nhạy cảm về môi trường.
- Ranh giới: ranh giới của mỗi tiểu vùng có thể trùng hoặc không trùng
hợp với ranh giới của các đơn vị hành chính.
- Mỗi tiểu vùng được phân chia phải gắn với quy hoạch phát triển KTXH
tại vùng hoặc các địa phương trong vùng. (
điều này không đúng)
Từ các tiêu chí nêu trên các nhà phân vùng quy hoạch có thể phân chia
một vùng lãnh thổ như sau:
- Theo đặc điểm tự nhiên: tiểu vùng đồi núi, tiểu vùng trung du, tiểu vùng
đồng bằng và tiểu vùng ven biển, v.v… 10
- Theo các lưu vực sông: các tiểu vùng được phân chia theo các lưu vực
sông chính (tiểu vùng sông Hồng, tiểu vùng sông Đồng Nai, tiểu vùng
III: môi trường nông nghiệp và nông thôn với 5 tiểu vùng. Vùng IV: môi trường
lâm nghiệp và khu du lịch, với 4 tiểu vùng. Tỉnh Hà Tây (cũ) trong quy hoạch
môi trường và đị
nh hướng phát triển kinh tế phân thành 7 vùng chức năng môi
trường: Vùng bảo tồn kết hợp du lịch sinh thái (vùng núi Ba Vì), diện tích 11
khoảng 13 nghìn ha, chiếm 15,5% diện tích tự nhiên của tỉnh, phân thành 5 tiểu
vùng. Vùng sản xuất ven sông Hồng với diện tích khoảng 49 nghìn ha, chiếm
22,36% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, phân thành 3 tiểu vùng (tiểu vùng sản
xuất, tiểu vùng sản xuất gần các khu dân cư và tiểu vùng nhạy cảm ven sông).
Vùng phát triển ven thành phố Hà Nội, diện tích khoảng 27 nghìn ha chiếm
12,44% diện tích đất tự nhiên và chia thành 4 tiểu vùng. Vùng sản xuất ven sông
Đáy có diện tích gần 20 nghìn ha, diện tích cho chuyên sả
n xuất chiếm khoảng 9
nghìn ha. Vùng đa sử dụng giáp tỉnh Hưng Yên với diện tích khoảng gần 7
nghìn ha, phân bố cho các hoạt động sản xuất, phát triển. Vùng sản xuất giáp
tỉnh Hà Nam, diện tích khoảng 10 nghìn ha chia thành 2 tiểu vùng. Vùng cao núi
đá vôi giáp tỉnh Hoà Bình và Khu di tích chùa Hương diện tích gần 31 nghìn ha
và chia thành 6 tiểu vùng. Bắc Giang được phân thành 14 vùng chức năng môi
trường bao gồm: khu bảo tồn; khu phòng hộ; sản xuất lúa-màu; vùng lúa-thuỷ
sản; vùng xử lý nước thải tập trung; x
ử lý nước sinh hoạt; các hồ sinh học; bãi
chứa rác thải; các trạm quan trắc nước thải; các khu du lịch, lịch sử, văn hoá;
rừng; và các làng nghề.
Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và tỉnh Đồng Nai đã và đang tiến hành
phân vùng chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index -
WQI). Mục đích của việc nghiên cứu là phân vùng chất lượng nước theo chỉ số
chất lượng nước và đánh giá khả
bố các vùng nhạy cảm môi trường của TP. Hải Phòng ở tỷ lệ 1: 50 000 (hình
1.1). Hình 1.1
Bản đồ phân bố các vùng NCMT của TP. Hải Phòng tỉ lệ 1:50 000, các
vùng có hệ sinh thái quan trọng dễ bị tổn thương
Ngoài việc phân vùng chức năng môi trường như trên, các nhà khoa học
còn nghiên cứu phân vùng sinh thái. Đề tài “Phân vùng sinh thái nông nghiệp
vùng đồng bằng sông Hồng” do GS. TS Cao Liêm, trường Đại học Nông nghiệp
I chủ trì (1990), Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới điều kiện sinh
thái của vùng đồng bằng sông Hồng như: khí hậu, nhi
ệt độ, thuỷ văn, lượng
mưa, độ ẩm, địa chất, địa hình, thổ nhưỡng và các yếu tố xã hội khác, đã đề xuất
được tiêu chuẩn một số đơn vị phân vùng sinh thái, xây dựng được một bản đồ
phân vùng sinh thái vùng đồng bằng sông Hồng tỉ lệ 1/250.000 kèm theo bản
chú giải (hình 1.2). Các tác giả đã phân ra 8 vùng và 13 tiểu vùng sinh thái nông
nghiệp, mô tả đặc điểm, hướng sử dụng cho từ
ng vùng sinh thái chính ở đồng 13
bằng sông Hồng là: bạc màu, chua mặn, trũng úng. Sự phân vùng dựa trên cơ sở
các tiêu chuẩn chính sau:
- Có cùng một kiểu khí hậu;
- Có cùng một kiểu đại hình;
- Có cùng một loại đất chính;
- Có cùng một chế độ thủy văn;
- Có cùng một hệ thống cây trồng nông nghiệp chính;
- Có cùng một hướng sử dụng, bảo vệ, nâng cao hiệu suất sử dụng hệ sinh
(
UNESCO), khu dự trữ sinh quyển là những vùng có các hệ sinh thái trên cạn
hoặc ven biển nhằm thúc đẩy các giải pháp để cân bằng giữa bảo tồn đa dạng
sinh học và sử dụng bền vững. Mỗi khu dự trữ sinh quyển có ba chức năng
chính, chúng đều bổ sung và hỗ trợ cho nhau.
Chức năng bảo tồn - đóng góp vào việc bảo tồn đa dạng di truyền, loài, hệ
sinh thái và cả
nh quan.
Chức năng phát triển - thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững về mặt sinh
thái cũng như các giá trị văn hoá truyền thống của cộng đồng địa phương.
Chức năng hỗ trợ - đề cập đến vai trò của khu dự trữ sinh quyển là
“phòng thí nghiệm sống” trong nghiên cứu khoa học và trong việc phân loại đa
dạng sinh học. Nó cũng là nơi giám sát, giáo dục và trao đổi thông tin liên quan
đến v
ấn đề bảo tồn và phát triển bền vững ở cấp địa phương, quốc gia và khu
vực.
Việc phân vùng chức năng môi trường ở Việt Nam còn mới mẻ, chưa có
phương pháp luận thống nhất cũng như chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng
của chúng trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, trong đó
có quy hoạch môi trường nhằm khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo v
ệ môi
trường .
bảo an ninh lươ
ng thực và an sinh xã hội; Vùng dự trữ và cung cấp nước cho
công nghiệp và sinh hoạt; Vùng dự trữ và cung cấp nước cho nông nghiệp v.v ;
Vùng bảo vệ đa dạng sinh học; Vùng rừng phòng hộ đầu nguồn, Vùng rừng
phòng hộ ven biển v.v
3) Chức năng chứa đựng và phân huỷ chất thải bao gồm: Thủy vực tự
nhiên tiếp nhận nước thải. Nơi xây dựng hệ thống xử lý nước thải tậ
p trung; Nơi
xây dựng bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh; Nơi xây dựng khu xử lý, chế biến rác
thải; Nơi xây dựng khu xử lý chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại v.v
Ba chức năng này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, một trong 3 chức
năng đó suy giảm thì ảnh hưởng trực tiếp đến 2 chức năng kia. Mỗi một khu vực
lãnh thổ (vùng, miền ), hoặc một đơn vị
hành chính (thành phố, tỉnh, huyện,
xã) đều có đủ 3 chức năng môi trường, chúng tồn tại đồng thời nhưng tính trội
của các chức năng ở mỗi vùng khác nhau và phân bố ở những vị trí địa lý xác
định. Ngoài 3 chức năng chính trên, theo các tài liệu khác nhau, các tác giả còn
nêu thêm các chức năng khác của môi trường như chức năng lưu trữ thông tin 16
Nhận biết những chức năng đó và sử dụng hợp lý chúng là điều kiện tiên
quyết để đảm bảo phát triển bền vững. Vì vậy phân vùng chức năng môi trường
của một khu vực lãnh thổ là bước đi đầu tiên trong việc quy hoạch, khai thác, sử
dụng tài nguyên một cách hiệu quả.
Trong một vùng lãnh thổ có thể có nhiều kiểu vùng, mỗi kiểu vùng có
những đặc điể
m riêng, không giống với đơn vị liền kề. Kiểu vùng có tính lặp lại
trong không gian. Kiểu vùng được áp dụng để phân chia lãnh thổ theo các dạng
tài nguyên cho mục đích khai thác, sử dụng trong các ngành kinh tế và trong
trong đề tài: "Nghiên cứu xây dựng phương pháp luận phân vùng chức năng môi
trường phục vụ công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch theo định hướng phát
triển bền vững". Theo đó phân vùng chức năng môi trường là bước chuẩn bị,
bước đi đầ
u tiên, nhằm tạo dựng và cung cấp cơ sở dữ liệu về các khía cạnh điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường cho việc lập các quy hoạch phát triển.
Mục tiêu phân vùng chức năng môi trường của một địa phương cụ thể
(tỉnh thành, kể cả huyện thị ) là: 17
- Làm sáng tỏ đặc điểm về tự nhiên của địa phương đó, xác định tính quy
luật trong sự phân hóa các yếu tố tự nhiên theo không gian lãnh thổ, dẫn đến sự
hình thành các vùng có những chức năng mang tính tự nhiên, ví dụ vùng đất
ngập nước nội đồng, vùng đất ngập nước ven biển, vùng rừng mưa nhiệt đới ẩm
v.v
- Phân tích, đánh giá các hoạt động nhân sinh trong quá trình hoạt động
sống, cũng như trong phát tri
ển kinh tế xã hội, làm biến đổi những vùng có chức
năng mang tính tự nhiên, dẫn đến sự hình thành các vùng có những chức năng
mang tính nhân sinh, ví dụ vùng đất trống đồi trọc do tàn phá rừng, vùng đô thị
như là kết quả của phát triển kinh tế xã hội do, vùng công nghiệp do quá trình
công nghiệp hóa v. v
- Lập bản đồ phân vùng chức năng môi trường để thể hiện kết quả phân
vùng một cách rõ ràng theo không gian lãnh thổ, đó chính là tư liệ
u tổng hợp
phục vụ đắc lực công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển và quản lý
lãnh thổ theo định hướng phát triển bền vững.
2.4. Nhiệm vụ của phân vùng chức năng môi trường
Phân vùng chức năng môi trường là việc phân chia lãnh thổ thành các
Phân vùng chức năng môi trường một địa phương cụ thể có thể dựa vào
các cách tiếp cận sau khác nhau, vì vậy khi tiến hành phân vùng cần lựa chọn
các tiếp cận phù hợp. Dưới đây giới thiệu các cách tiếp cận thường sử dụng
trong phân vùng chức năng môi trường.
2.5.1 Cách tiếp cận hệ thống
Phương pháp tiếp cận hệ thống phù hợ
p cho việc nghiên cứu phân vùng
chức năng môi trường, phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ, trên cơ sở phân tích
khả năng cung cấp tài nguyên, sức chịu tải của hệ thống lãnh thổ, quan hệ liên
vùng, liên ngành của vùng lãnh thổ (hệ thống mở), để phân chia các khu chức
năng cho mục đích quy hoạch phát triển nhằm sử dụng hợp lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Dưới góc độ phân vùng chứ
c năng
môi trường theo cách tiếp cận hệ thống thì phải đảm bảo nguyên tắc là trong mỗi
tiểu vùng có những nét đặc trưng của toàn vùng, lợi ích cục bộ phải phục vụ lợi
ích chung của toàn hệ thống.
Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố đối với cùng loại hoặc cùng chức năng
có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thố
ng nhất (Từ
điển Tiếng Việt).
Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tương tác giữa các tổ
phần tạo nên nó (Ludwig von Bertalanffy, 1956).
Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận
của hệ thống lớn hơn. Một hệ thống thường có nhiều chức năng, trong đ
ó có ít
nhất một chức năng chính và nhiều chức năng phụ.
Đáng chú ý nhất của hệ thống là khả năng cung cấp tài nguyên, sức chịu
tải của hệ thống lãnh thổ, tiếp đến là quan hệ liên vùng, liên ngành của vùng
lãnh thổ.
Tiểu hệ thống là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ. Các tiểu hệ thống
Vì vậy, khi phân vùng chức năng môi trường, chúng ta phải xem vùng lãnh
thổ được nghiên cứu và các tiểu vùng ở cấp vị nhỏ hơn đều là những hệ thống
mở với các đặc trưng nêu trên.
2.5.2 Cách tiếp cận sinh thái
Hệ sinh thái là một đơn vị tự nhiên gồm các quần xã sinh vật và các yếu tố
vô sinh của môi trường tại một khu vực nhất định, mà ở đó luôn luôn có tác
động qua lại và trao đổi vật chấ
t, năng lượng trong hệ và với các hệ khác. Con
người là một phần của hệ sinh thái, là yếu tố quan trọng đảm bảo cân bằng của
hệ sinh thái bằng cách điều chỉnh các điều kiện vật lý, hóa học của môi trường,
thay đổi mối tương tác sinh học. Có thể xem vùng lãnh thổ là một hệ sinh thái.
Nhiệm vụ của phân vùng chức năng là phân tích, đánh giá hệ thống này cho mục
đích quy hoạch, qu
ản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường. Mục đích
của việc phân vùng dựa trên hệ sinh thái là tìm cách tốt nhất, hợp lý nhất để con
người khi sử dụng hệ sinh thái có thể đạt được sự hài hòa giữa lợi ích thu được
từ tài nguyên của hệ sinh thái với việc duy trì khả năng của hệ sinh thái tiếp tục
cung cấp được những lợi ích đó ở mức độ bền vững, lâu dài.
Hệ sinh thái là m
ột hệ thống mở bao gồm các sinh vật tác động qua lại với
môi trường bằng các dòng năng lượng tạo nên cấu trúc dinh dưỡng nhất định đa
dạng về loài và các chu trình vật chất.
Hệ sinh thái là đơn vị cơ bản của sinh thái học và được chia thành hệ sinh
thái nhân tạo và hệ sinh thái tự nhiên như hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái
rừng, hệ sinh thái biển, hệ sinh thái ao hồ, hệ sinh thái đồng cỏ tự nhiên, h
ệ sinh
thái đô thị Đặc điểm của hệ sinh thái là một hệ thống mở có 3 dòng (dòng
vào, dòng ra và dòng nội lưu) vật chất, năng lượng, thông tin.
Hệ sinh thái cũng có khả năng tự điều chỉnh để duy trì trạng thái cân
bằng, nếu một thành phần thay đổi thi các thành phần khác cũng thay đổi theo ở
các tiêu chí phân vùng, tuy nhiên không thể có sự đồng nhất tuyệt đối, mà đó chỉ
là sự đồng nhất tương đối. Vì vậy, vấn đề quan trọng là xác định được các tiêu
chí chính, mang tính chủ đạo và tiêu chí phụ mang tính bổ trợ đối với từng cấp
độ phân vùng.
Ở mỗi cấp độ phân vùng yếu tố trội đặc trư
ng được lựa chọn để làm cơ sở
cho việc phân vùng và sự đồng nhất của vùng trước hết phải thể hiện được theo
yếu tố đó. Đối với cấp vùng trong phân vùng chức năng môi trường ở các tỉnh
ven biển miền Trung, có thể dựa vào yếu tố mang tính trội là địa hình để phân
vùng, ví dụ vùng miền núi, vùng đồng bằng, vùng biển ven bờ và hải đảo; hoặc
dựa vào các quầ
n cư để phân ra vùng đô thị, vùng nông thôn.
Đối với cấp tiểu vùng, đó có thể là chức năng đặc dụng của lớp phủ thực
vật, ví dụ chia ra: rừng phòng hộ, rừng sản xuất, rừng cảnh quan. Các tiểu vùng
tuy có những đặc điểm riêng, khác với tiểu vùng liền kề, nhưng cũng có một số
tiểu vùng giống nhau, có tính lặp lại trong không gian với các vị trí phân bố
khác nhau, dựa vào
đó có thể phân ra các kiểu tiểu vùng. Như vậy, mỗi kiểu tiểu
vùng gồm 2 hay nhiều hơn số lượng tiểu vùng.
2.6.3. Phù hợp với chức năng môi trường
Đây là nguyên tắc chủ đạo. Với cách tiếp cận sinh thái trong phân vùng
thì mỗi vùng là một hệ sinh thái lớn, mỗi tiểu vùng là một hệ sinh thái nhỏ hơn.
Tính chức năng của vùng thể hiện sự gắn kết chặt chẽ theo chiều ngang giữ
a các 21
hợp phần trong mỗi vùng, từ trung tâm đến ngoại vi. Mỗi hệ sinh thái đều có
một vài chức năng chính riêng và một số chức năng khác, ví dụ hệ sinh thái rừng
đầu nguồn có chức năng phòng hộ, vừa có chức năng tạo cảnh quan; hệ sinh thái
các tiêu chí phân vùng những tiêu chí phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của địa
phương tỉnh thành.
2.7. Tiêu chí phân vùng chức năng môi trường
2.7.1. Quan niệm về hệ thống tiêu chí phân vùng chức năng môi trường
Hệ thống tiêu chí phân vùng chức năng môi trườ
ng là một hệ thống các
tiêu chí, thông số làm căn cứ để xác định sự tương đồng, hoặc khác biệt theo
chức năng môi trường giữa các khu vực của không gian lãnh thổ. Từ đó phân
định, chia tách vùng lãnh thổ ra thành các vùng, miền có một hay nhiều những
chức năng đã nêu ở trên.
Các tiêu chí, thông số v.v… được sử dụng để diễn tả, đánh giá sự khác
biệt của các hiện tượng, các quá trình tự nhiên. Hiện nay có rấ
t nhiều các thuật