ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
LÊ TRẦN ANH VÂN NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA DU LỊCH SINH THÁI DỰA
VÀO CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN
CÙ LAO CHÀM – HỘI AN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội – Năm 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1. Khu Dự trữ sinh quyển 5
1.1.1. Khái niệm về khu DTSQ 5
1.1.2. Cấu trúc và chức năng của khu DTSQ 6
1.1.3. Công tác quản lí khu DTSQ 7
1.1.4. Các yếu tố để quản lí thành công khu DTSQ 13
1.2. Mối quan hệ giữa Phát triển bền vững và khu DTSQ 14
1.2.1. Các vấn đề chung của Phát triển bền vững 14
1.2.2. Khu DTSQ là "Phòng thí nghiệm học tập cho PTBV 16
1.3. Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (CBET) 19
1.3.1. Du lịch sinh thái 20
1.3.2. Cộng đồng 21
1.3.3. Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 22
Chƣơng 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1. Địa điểm nghiên cứu 33
2.2. Thời gian nghiên cứu 33
2.3. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1. Phương pháp luận 33
2.3.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 35
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 40 ii
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên 40
3.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội 43
3.3. Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An 47
3.2.1. Khái quát chung 47
Bảo tồn biển
BTB CLC
Bảo tồn biển Cù Lao Chàm
CBCRM
Bảo tồn tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng
CBET
Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (Community-based
tourism)
CBNRM
Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng
CRES
Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng
DLST
Du lịch sinh thái
DTSQ
Dự trữ sinh quyển
ĐDSH
Đa dạng sinh học
HST
Hệ sinh thái
Homestay
Dịch vụ lƣu trú tại nhà dân
MAB
Chƣơng trình Con ngƣời và Sinh quyển
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PTBV
Phát triển bền vững
SWOT
Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Đe dọa
Bảng 2.1. Ma trận phân tích SWOT 36
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ẢNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1. Sơ đồ cấu trúc hệ thống MAB và các khu DTSQ của Việt Nam 12
Hình 1.2. Ba khía cạnh chính của CBET 25
Hình 2.1. Hệ thống sinh thái nhân văn trong quản lý tài nguyên 35
Hình 3.1. Quần đảo Cù Lao Chàm 44
Hình 3.2. Một số sinh kế của ngƣời dân Cù Lao Chàm 45
Hình 3.3. Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An 46
Hình 3.4. Bản đồ quy hoạch các cùng chức năng của khu bảo tồn biển Cù Lao
Chàm 53
Hình 3.5 Nghệ nhân làm võng Cù Lao Chàm 56
Hình 3.6. Ốc vú nàng Cù Lao Chàm 60
Hình 3.7. Cua đá Cù Lao Chàm 60
Hình 3.8. Hòn Chồng tại Bãi Chồng 65
Hình 3.9 Hang Yến Cù Lao Chàm 65
Hình 3.10. Chùa Hải Tạng 69
Hình 3.11. Miếu tổ Nghề Yến 69
Hình 3.12 Tour leo núi ở Bãi Hƣơng 74
Hình 3.13. Du khách tắm biển tại bãi Chồng 74
Hình 3.14 Dịch vụ lƣu trú tại nhà dân ở bãi Hƣơng 76
Hình 3.15. Dịch vụ ăn uống ở bãi Làng 76
Hình 3.16. Mô hình CBET đề xuất tại Cù Lao Chàm 84 1
2
hoạch hoạt động, bảo tồn tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng là những thách thức
không nhỏ đối với các địa phƣơng có khu DTSQ. Việc tìm ra các giải pháp để hoàn
thiện kế hoạch quản lí cũng nhƣ thực hiện có hiệu quả việc quản lí các khu DTSQ
Việt Nam là vấn đề cần đƣợc quan tâm và nghiên cứu.
Du lịch đang ngày càng thể hiện rõ vai trò mũi nhọn trong quá trình phát triển, là
ngành công nghiệp không khói mang lại hiệu quả kinh tế cao, đã đang và sẽ trở
thành trọng tâm trong chiến lƣợc phát triển kinh tế của các tỉnh, thành phố đặc biệt
là các vùng biển. Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (CBET) cũng đã trở thành
một xu thế phát triển và ngày càng chiếm đƣợc sự quan tâm của nhiều ngƣời. CBET
đã mở ra triển vọng trong việc nâng cao công tác bảo tồn TNTN, môi trƣờng và
phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng địa phƣơng. Các khu bảo tồn và VQG
cũng nhƣ các khu DTSQ trên thế giới và Việt Nam bắt đầu đầu tƣ và phát triển
mạnh mẽ loại hình này. Chuyển từ khai thác để phát triển sang chiến lƣợc bảo tồn
để phát triển là tiêu chí của PTBV trong đó tạo nên sự thành công là vai trò quyết
định của địa phƣơng và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Việc đƣa cộng đồng
địa phƣơng trở thành yếu tố trực tiếp tham gia vào các hoạt động quản lí khu DTSQ
dƣới nhiều hình thức khác nhau đã từng bƣớc khẳng định hiệu quả không chỉ trong
việc nâng cao mức sống tạo sinh kế bền vững cho cƣ dân tại đây, mà còn mang lại
hiệu quả trong công tác bảo tồn TNTN và nguồn TNNV quý giá. Vì vậy có thể nói
CBET là hƣớng đi thực hiện và lồng ghép đƣợc cả 3 vấn đề của PTBV: kinh tế, xã
hội và môi trƣờng.
Ngày 26/05/2009, Cù Lao Chàm cùng với Mũi Cà Mau chính thức đƣợc
UNESCO công nhận là khu DTSQ thế giới. Diện tích khu DTSQ Cù Lao Chàm –
Hội An và khu Di sản văn hóa thế giới đã chiếm 40km
2
trên tổng diện tích hơn
60km
2
của thành phố Hội An, nên nhiều nhà khoa học đã nhận định rằng “Hội An là
khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An khi thực hiện CBET. Qua đó đề xuất mô hình
thực hiện CBET và những định hƣớng phát triển CBET tại Cù Lao Chàm trong
công tác quản lí theo định hƣớng PTBV khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4
- Khu vực nghiên cứu có tiềm năng to lớn về TNTN, các giá trị nhân văn để phát
triển loại hình CBET và các nghiên cứu về quản lí khu DTSQ vẫn chƣa đƣợc triển
khai tại đây. Các kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm tìm ra những lợi ích mà CBET
có thể mang lại trong công tác quản lí khu DTSQ. Từ đó có thể giải quyết các mục
tiêu về bảo tồn TNTN, các giá trị văn hóa truyền thống, góp phần nâng cao đời sống
cho ngƣời dân địa phƣơng và nâng cao năng lực cho cộng đồng trong việc quản lí
nguồn tài nguyên của mình, thực hiện mục tiêu PTBV chung của Việt Nam và
Chƣơng trình nghị sự 21 của tỉnh Quảng Nam (LA21).
- Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ quản lí nhà nƣớc đối với các khu
DTSQ ở Việt Nam và cũng là cơ sở cho việc xây dựng các dự án, phƣơng án quy
hoạch, kế hoạch quản lí sử dụng và phát triển các nguồn TNTN và TNNV theo mục
tiêu PTBV.
- Cung cấp cơ sở khoa học về vấn đề nghiên cứu đến các nhà quản lí địa
phƣơng, quản lí ngành và BQL khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An.
- Huy động sự tham gia tích cực của cộng đồng vào việc quản lí bền vững các
nguồn TNTN và TNNV trong khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An.
- Đây là đề tài nghiên cứu khoa học phục vụ cho luận văn thạc sĩ đầu tiên đƣợc
thực hiện tại Cù Lao Chàm về CBET cũng nhƣ về quản lí khu DTSQ.
Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn bao gồm 5 phần sau:
Phần mở đầu: Nêu lý do lựa chọn đề tài, đối tƣợng nghiên cứu, mục tiêu
nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn.
Chƣơng 1: Tổng quan các tài liệu về khu DTSQ, CBET và các vấn đề liên
quan đã đƣợc công bố trên thế giới và Việt Nam.
tiêu chuẩn mà UNESCO đã đƣa ra.
Mỗi khu DTSQ phải kết hợp đƣợc ba chức năng sau đây: (1) chức năng Bảo tồn:
đóng góp vào việc bảo tồn đa dạng cảnh quan, HST, loài và di truyền; (2) chức năng
Phát triển: thúc đẩy phát triển kinh tế trên cơ sở bền vững môi trƣờng và văn hóa;
và (3) chức năng Trợ giúp: nghiên cứu, giám sát, đào tạo và giám sát về bảo tồn và
PTBV ở phạm vi địa phƣơng, quốc gia, khu vực và quốc tế.
Ý tƣởng xây dựng khu DTSQ nhằm giải quyết một trong những vấn đề thực tiễn
quan trọng nhất mà con ngƣời đang đối mặt hiện nay là làm thế nào để có thể tạo
nên sự cân bằng giữa bảo tồn ĐDSH, các nguồn TNTN với sự thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội, duy trì các giá trị văn hóa truyền thống đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của con ngƣời. Mô hình khu DTSQ vừa cung cấp cơ sở lí luận vừa là công cụ
thực hiện chƣơng trình nghiên cứu đa quốc gia về Con ngƣời và Sinh quyển, thể
hiện phƣơng pháp luận và cách tiếp cận cơ bản là “Con ngƣời là một phần của Sinh
7
quyển”, là “Công dân sinh thái”. Mặc dù các khu DTSQ có bối cảnh văn hóa, kinh
tế và vị trí địa lí khác nhau nhƣng đều có mục đích chung là tìm kiếm giải pháp cho
sự hài hòa giữa bảo tồn ĐDSH và sử dụng bền vững nguồn lợi thiên nhiên vì lợi ích
của ngƣời dân địa phƣơng. Năm 1969, Ban Tƣ vấn Khoa học của Chƣơng trình Con
ngƣời và Sinh quyển đã đề xuất việc thành lập mạng lƣới hợp tác trên toàn thế giới
bao gồm cả các VQG, khu DTSQ và các hình thức bảo tồn khác phục vụ cho công
tác bảo tồn cũng nhƣ đẩy mạnh các công trình nghiên cứu, giáo dục và đào tạo.
Mạng lƣới các khu DTSQ thế giới đóng góp vào việc thực hiện mục đích của Công
ƣớc Đa dạng sinh học và Chƣơng trình nghị sự 21 do Hội nghị của Liên hợp quốc
về Môi trƣờng đề ra năm 1992 [15].
1.1.2. Cấu trúc và chức năng của khu DTSQ
Để thực hiện mục đích bảo tồn và sử dụng nguồn lợi thiên nhiên, các khu DTSQ
đƣợc phân thành 3 khu có quan hệ mật thiết lẫn nhau, gồm vùng lõi, vùng đệm và
vùng chuyển tiếp [15]:
Vùng lõi: Vùng này đƣợc thiết lập có tính chất lâu dài nhằm bảo tồn cảnh quan,
đƣợc thực hiện qua các tờ tin, tap chí, mạng Internet, các hội thảo khoa học. Một số
châu lục và khu vƣc địa lý còn thành lâp mạng lƣới điều phối các hoạt động của các
khu DTSQ trong khu vực, ví dụ: EUROMAB – mạng lƣới điều phối các hoạt động
của các khu DTSQ ở Châu Âu và Bắc Mỹ, SEABRNet – mạng lƣới các khu DTSQ
vùng Đông Nam Á. Các mạng lƣới này trợ giúp công tác quản lí của mỗi khu
DTSQ thông qua việc trao đổi thông tin, tài liệu, tập huấn, cung cấp cơ sở dữ liệu
cho công việc giám sát nguồn lợi. Ngoài ra, một đội ngũ các nhà khoa học, các
chuyên gia trên thế giới có kinh nghiệm sẵn sàng trợ giúp các khu DTSQ khi có yêu
cầu. Ủy ban Quốc gia Chƣơng trình Con ngƣời và Sinh quyển (MAB) trực tiếp điều
phối các hoạt động của mạng lƣới quốc gia các khu DTSQ. Ủy ban có trách nhiệm
liên hệ với các cấp chính quyền địa phƣơng tạo điều kiện cho các hoạt động của các
khu DTSQ. Một trong những nhiệm vụ chính của Ủy ban Quốc gia là cung cấp tƣ
vấn các vấn đề kỹ thuật, các chuyên gia, các nhà khoa học trên các lĩnh vực nghiên
cứu, giáo dục đào tạo và quản lí [38].
9
Sự khác nhau giữa các khu DTSQ với các VQG và khu bảo tồn ở chỗ các khu
DTSQ không trực tiếp quản lí về mặt lãnh thổ. Công việc quản lí các khu DTSQ là
điều phối các hoạt động với sự tham gia của cộng đồng địa phương, là sự thể hiện
mối quan hệ giữa con người và sinh quyển. Các khu DTSQ đƣợc thế giới công nhận
cũng có nghĩa là việc quản lí phải tuân thủ hƣớng dẫn thực hiện của các công ƣớc
quốc tế nhƣ đã cam kết. Hầu hết các vùng lõi của khu DTSQ là các VQG hoặc khu
bảo tồn nên phải tuân theo các quy định của Chính phủ về quản lí các khu này.
Vùng đệm và vùng chuyển tiếp nằm dƣới sự quản lí trực tiếp của chính quyền địa
phƣơng hoặc các đơn vị kinh tế - xã hội. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất,
thay đổi quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho phù hợp với PTBV do cơ
quan địa phƣơng có thẩm quyền quyết định (UNEP, 1999; UNESCO (Ed.)). Công
việc điều phối các khu DTSQ dựa trên các mối quan hệ hành chính và ngoài hệ
thống hành chính tạo nên mối liên kết và hợp tác trong các lĩnh vực: bảo tồn ĐDSH,
đa dạng văn hóa, PTBV, kêu gọi đầu tƣ và trợ giúp các hoạt động nghiên cứu giám
Các tổ chức
khác
Trung
Quốc
24
Hệ thống các khu
bảo tồn quốc gia
Viện Hàn lâm
khoa học Trung
Quốc Tƣ vấn và
ủng hộ tài
chính
Mỹ
47
Tiểu ban cố vấn
về các khu DTSQ
tại thƣợng viện
Tƣ vấn và ủng
hộ tài chính
Hệ thống các
trƣờng đại học và
viện nghiên cứu
Ủng hộ tài
chính
Tƣ vấn và
ủng hộ tài
Ủng hộ tài
chính
Tƣ vấn và
ủng hộ tài
chính
Tƣ vấn và
ủng hộ tài
chính
11
Vùng lõi: Mục tiêu quản lí vùng lõi là bảo tồn ĐDSH, hạn chế các hoạt động của
con ngƣời. Một số vùng lõi bảo tồn các loài động vật di cƣ hoặc kiếm ăn trong phạm vi
rộng lớn (chim di cƣ, bò biển, rùa biển…) thì việc bảo tồn không chỉ giới hạn ở vùng
lõi mà cần phối hợp chặt chẽ với vùng đệm và vùng chuyển tiếp. Các hoạt động nghiên
cứu, quản lí HST có thể tiến hành ở mức độ cụ thể.
Vùng đệm: Mục tiêu quản lí vùng đệm là tạo nên một hành lang an toàn cho bảo tồn
vùng lõi, khai thác và sử dụng bền vững TNTN, phát triển kinh tế xã hội. Việc quản lí
vùng đệm không làm ảnh hƣởng mà trợ giúp cho hiệu quả bảo tồn ĐDSH vùng lõi. Các
hoạt động phát triển nông nghiệp, thủy sản, nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, tuyên truyền,
du lịch, giải trí phát triển dựa trên cơ sở sinh thái học trong việc sử dụng hợp lí TNTN.
Vùng chuyển tiếp: Mục tiêu quản lí vùng chuyển tiếp là nơi thực hiện sự cộng tác
chặt chẽ và có hiệu quả của các nhà khoa học, nhà quản lí và ngƣời dân địa phƣơng
trong phát triển kinh tế xã hội. Các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch, dịch vụ đi đôi
với tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng.
Hiệu quả của các hoạt động của khu DTSQ kể cả xây dựng và điều hành kế hoạch
quản lí phụ thuộc phần lớn vào bộ máy quản lí. Thông thƣờng, mỗi khu DTSQ đều có
một Ban điều hành và một Hội đồng tƣ vấn. Thành phần và cách thực hiện khác nhau
Nhiều nƣớc đã tự trang trải các chuyến đi học hỏi kinh nghiệm và trao đổi về công tác
quản lí đã mang lại hiệu quả rõ rệt, đặc biệt là phát triển DLST tạo nên một nguồn vốn
lâu bền cho công tác quản lí [15].
Hình 1.1. Sơ đồ cấu trúc hệ thống MAB và các khu DTSQ của Việt Nam [ 15]
13
Hiện nay Việt Nam là quốc gia có số lƣợng khu DTSQ cao nhất Đông Nam Á,
chiếm 8 trong tổng số 553 khu DTSQ thế giới (107 nƣớc) đƣợc UNESCO công nhận,
gồm có: khu DTSQ Cần Giờ, khu DTSQ Cát Tiên, khu DTSQ Cát Bà, khu DTSQ Miền
Tây Nghệ An, khu DTSQ Kiên Giang, khu DTSQ Đồng bằng Châu thổ sông Hồng, khu
DTSQ Mũi Cà Mau và khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An. Sau khi đƣợc UNESCO
công nhận là khu DTSQ thế giới thì khu DTSQ Cát Bà đã chủ động hợp tác trong
“Sáng kiến Jeju” với mực tiêu nhằm xác định các biện pháp bảo vệ nguồn nƣớc sạch
trên thế giới [54]. Diện tích và dân số trong các khu DTSQ của Việt Nam đƣợc trình
bày ở bảng 1.2.
Bảng 1.2: Diện tích và dân số trong các khu DTSQ của Việt Nam [46]
Khu DTSQ
Vùng lõi
(ha)
Vùng
đệm
(ha)
Vùng
chuyển
tiếp (ha)
Tổng
(ha)
Số ngƣời
1. Khu DTSQ Cần Giờ
6. Khu DTSQ Miền Tây
Nghệ An
191.922
503.270
608.093
1.303.285
473.822
7. Khu DTSQ Mũi Cà Mau
17.329
43.309
310.868
371.306
170.321
8. Khu DTSQ Cù Lao Chàm
2.214
6.045
28.887
33.146
83.792
Tổng
347.708
1.058.576
2.423.723
3.825.807
1.088.156
Phần trăm (%)
9.08
23.66
63.35
100
Không có tham nhũng
Nghèo đói
Phù hợp với tình hình địa
phƣơng
Văn bản pháp luật và các
chƣơng trình bảo tồn thiên
nhiên hiện đại
Thay đổi lối sống và cách
thức tiêu dùng
Các biện pháp bảo tồn thiên
nhiên thực tế: trồng rừng,
chống xói mòn
Thiếu các chƣơng trình hiệu
quả và có tính cạnh tranh
của chính phủ
Khai thác tài nguyên phục
vụ cho thƣơng mại (ví dụ:
khai thác mỏ)
Sự đánh giá các biện pháp
quản lí thích nghi
Đƣa ra thể chế đầy đủ; Phân
công trách nhiệm chính xác
giữa các bên liên quan
Xung đột giữa các nhóm
dân cƣ/quần thể khác nhau
Sự cộng tác tốt giữa các bên
Sự bồi thƣờng cho những
Sự gia tăng dân số
15
kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên đƣợc tạo điều kiện thuận
lợi và sử dụng những nguồn TNTN cho các hoạt động kinh tế đƣợc chia sẻ bình đẳng.
Khẳng định sự tồn tại cũng nhƣ phát triển của bất cứ ngành kinh doanh, sản xuất nào cũng
đƣợc dựa trên những nguyên tắc đạo lí cơ bản. Yếu tố đƣợc chú trọng ở đây là tạo ra sự
thịnh vƣợng chung cho tất cả mọi ngƣời, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một
16
số ít, trong một giới hạn cho phép của HST cũng nhƣ không xâm phạm đến những quyền
cơ bản của con ngƣời [63]
Tại Hội nghị thƣợng định thế giới năm 1992 ở Rio de Janerio đƣa ra 8 mục tiêu của
PTBV, gồm có: (i) Xóa tình trạng nghèo đói cùng cực; (ii)Thực hiện phổ cập giáo dục
tiểu học; (iii) Khuyến khích bình đẳng giới và nâng cao địa vị của phụ nữ; (iv) Giảm tỉ lệ
tử vong ở trẻ em; (v) Nâng cao sức khỏe sinh sản; (vi) Phòng chống HIV/AID, sốt rét và
các bệnh khác; (vii) Bảo đảm bền vững về môi trƣờng; (viii) Phát triển quan hệ đối tác
toàn cầu phục vụ hoạt động phát triển. Tại Hội nghị này, các nhà hoạt động về kinh tế, xã
hội, môi trƣờng cùng với các nhà chính trị cũng đã thống nhất về quan điểm PTBV, coi
đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại và đồng thuận thông qua
tuyên bố Rio gồm 27 nguyên tắc cơ bản về PTBV và Chƣơng trình nghị sự 21, xác định
các hành động cho sự PTBV của toàn thế giới trong thế kỉ thứ 21. Đây là những nguyên
tắc chung nhất để các quốc gia có thể vận dụng vào việc xây dựng các nguyên tắc PTBV
cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội và thể chế chính sách riêng
của nƣớc mình. Sau hội nghị này, nhiều nƣớc đã xây dựng Chƣơng trình nghị sự 21 quốc
gia [19].
Năm 2006, Việt Nam đã thành lập Hội đồng PTBV Quốc gia và Chính phủ phê duyệt
bản Định hƣớng Chiến lƣợc về PTBV ở Việt Nam (Chƣơng trình Nghị sự 21 của Việt
Nam) trong đó co nêu 8 nguyên tắc PTBV của Việt Nam gồm:
(1) Con ngƣời là trung tâm của PTBV.
(2) Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới.
(3) Bảo vệ và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng phải đƣợc coi là một yếu tốt không thể
tách rời của quá trình phát triển.
PTBV” bao gồm một số tính năng nhƣ:
- Các không gian đƣợc xem xét phải bao gồm toàn bộ khu DTSQ: vùng lõi, vùng đệm
và vùng chuyển tiếp.
- Bảo tồn và phát triển phải đƣợc xem là có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và áp
dụng cho các chức năng của cả ba khu vực. Đối với vùng lõi, không chỉ nghĩ về mục đích
bảo tồn, hay chỉ quan tâm đến ĐHSH trong vùng lõi, mà còn phải quan tâm đến mối quan
hệ để có thể phát triển xã hội và kinh tế trong không gian sinh quyển rộng lớn hơn. Tƣơng
tự, phát triển trong vùng đệm và vùng chuyển tiếp phải đƣợc gắn với việc cải thiện môi
trƣờng, bao gồm sử dụng bền vững và bảo tồn ĐDSH.