BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Hồng
Chuyên ngành : Địa lí học
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM XUÂN HẬU
Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
LỜI CẢM ƠN
cầu đi du lịch của người dân ngày càng tăng, đặc biệt là nhu cầu du lịch sinh thái (DLST). Do vậy,
những nơi có điều kiện để phát t
riển loại hình DLST hiện nay đang là mảnh đất rất màu mỡ của các
nhà đầu tư bởi những món lợi khổng lồ mà họ sẽ có được. Tuy nhiên, loại hình DLST này muốn tồn tại
và phát triển liên tục theo thời gian, đem lại hiệu quả kinh tế lâu dài rất cần có sự quy hoạch, khai thác,
sử dụng và bảo vệ một cách hợp lí bởi tính rất nhạy cảm của nó trong quá trình khai thác và sử dụng.
Khu
bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Bình Châu - Phước Bửu có tiềm năng rất lớn để phát triển loại
hình du lịch (LHDL) này. Vì vậy, khu bảo tồn đã tiến hành khai thác, phát triển LHDL này theo Quyết
định số 4102/QĐ.UB ngày 20 tháng 5 năm 2002 của uỷ ban nhân dân (UBND) Tỉnh về việc phê duyệt
dự án phát triển DLST ở khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu giai đoạn 2002 – 2006. Trong quá trình
khai thác, phát triển DLST tại khu bảo tồn đã nảy sinh một số vấn đề như: bê tông hoá
tự nhiên, một số
nguồn tài nguyên thiên nhiên bị tác động ngược, hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường… vẫn còn hạn
chế. Do đó, khi được tiếp cận với bộ môn “các vấn đề tổ chức lãnh thổ du lịch”, Tác giả đã chọn đề tài
“Đánh giá tiềm năng và xây dựng định hướng phát triển bền vững khu du lịch sinh thái Bình Châu -
Phước Bửu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” để nghiên cứu.
2. Mục đích, nhiệm vụ ng
hiên cứu
2.1. Mục đích
- Tìm hiểu, củng cố những lí luận về DLST và phát triển bền vững (PTBV) du lịch.
- Đánh giá tiềm năng và hiện trạng khai thác tài nguyên phát triển DLST tại khu Bình Châu –
Phước Bửu.
- Xây dựng định hướng PTBV du lịch.
2.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu những lí luận về DLST và PTBV du lịch.
- Điều tra, khảo sát, thu thập tư liệu, thông tin phục vụ cho việc đá
nh giá tiềm năng và hiện trạng
khai thác tài nguyên phát triển DLST tại khu Bình Châu – Phước Bửu.
- Xây dựng định hướng PTBV du lịch.
Ngày 14/6/1992, tại Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED) đã diễn ra
Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất (Earth sumit). Tại hội nghị này, 182 chính phủ đã thông qua chương
trình nghị sự 21 (Agenda 21), một chương trình hành động toàn diện nhằm bảo đảm một tương lai bền
vững cho nhân loại bước vào t
hế kỉ XXI.
Từ đầu những năm 1990, nhiều nhà nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững nhằm hạn chế các
tác động tiêu cực của hành động du lịch, đảm bảo sự phát triển lâu dài đã được tiến hành. Một số
LHDL quan tâm đến môi trường đã bắt đầu xuất hiện như : “DLST”, “Du lịch khám phá”, “Du lịch
gắn với thiên nhiên”, “Du lịch thay thế”, “Du lịch mạo hiểm”,… đã góp phần nâ
ng cao hình ảnh về
một LHDL có trách nhiệm, đảm bảo sự PTBV.
Năm 1996, hưởng ứng chương trình hành động của Hội nghị Earth Sumit, ngành du lịch toàn cầu
đại diện bởi 3 tổ chức quốc tế gồm Hội đồng lữ hành du lịch thế giới (WTTC), Tổ chức du lịch thế giới
và Hội đồng Trái Đất (Earth council), đã ứng dụng những nguyên tắc của Agenda 21 vào du lịch, phối
hợp xây dựng một chương trình hành động với tên gọi “Chương trình nghị sự 21 về du lịch hướng tới
PTBV về môi trường”. Chương trình này c
ó ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp du
lịch, các Chính phủ, các cơ quan du lịch quốc gia, các tổ chức thương mại và người đi du lịch.
Chương trình nghị sự 21 về du lịch đã đưa ra các lĩnh vực ưu tiên hành động với mục đích xác
định và dự kiến các bước tiến hành. Chương trình này nhấn mạnh sự cần thiết phải phối hợp hà
nh động
giữa Chính phủ, ngành du lịch và các tổ chức phi Chính phủ, phân tích tầm quan trọng về chiến lược
và kinh tế của ngành du lịch, đồng thời nêu bật những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch theo hướng
bền vững.
5.2. Ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về du lịch được quan tâm nhiều từ thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại
đây cùng với sự khởi sắc của ngành du lịch nước ta. Các công trình nổi bật như: “Tổ chức lãnh thổ du
lịch Việt Nam” của Viện nghiên cứu phát triển du lịch (1991); “Quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch
Việt Nam 1995 – 2010” của Tổng cục du lịch (1994); “Địa lí du lịch” của nhóm tác giả: Nguyễn Minh
tác giả hoàn thành đề tài luận văn của mình.
6. Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1. Những quan điểm chủ yếu
6.1.1. Quan điểm hệ thống lãnh thổ
Phát triển DLST ở bất kì cấp vùng hoặc trung tâm nào cũng phải là một phần cấu thành không
tách rời trong hệ thống du lịch chung của cả nước. Quan điểm hệ thống c
òn đặc biệt có ý nghĩa trong
quá trình nghiên cứu các hệ sinh thái đặc thù với sự phân hóa theo lãnh thổ từ cấp quốc gia tới cấp
vùng và điểm. Mặt khác, các đối tượng nghiên cứu của sinh thái cần được xác định trên lãnh thổ để
phân tích, nghiên cứu tìm ra những khác biệt và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.
6.1.
2. Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp là quan điểm truyền thống của địa lí học nói riêng và nghiên cứu tự nhiên
nói chung được xét dưới hai góc độ khác nhau:
- Nghiên cứu đồng bộ toàn diện về các điều kiện tự nhiên, tài nguyên DLST đứng từ góc độ tự
nhiên và nhân văn, các yếu tố kinh tế, sự phân bố và biến động của chúng, những mối quan hệ tương
tác, chế ngự lẫn nhau giữa các yếu tố hợp phần của các tổng thể địa lí.
- Sự kết hợp, phối hợp có quy luật, có hệ thống trên cơ sở phâ
n tích đồng bộ và toàn diện các yếu
tố hợp phần của các thể tổng hợp lãnh thổ du lịch, phát hiện và xác định những đặc điểm đặc thù của
các thể tổng hợp lãnh thổ địa lí.
6.1.3. Quan điểm môi trường – sinh thái
Du lịch hiện na
y đã thực sự trở thành một ngành kinh tế, mà hoạt động kinh tế rõ ràng phải tính
đến lợi ích và chi phí. Những lợi ích thu về trong HĐDL không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế và văn
hoá mà còn phải tính đến lợi ích về môi trường sinh thái. Do đó phải tính đến những thiệt hại tới môi
trường, tới hệ sinh thái ở các điểm - tuyến du lịch do tác động của HĐDL
. Điều này có ý nghĩa đặc biệt
đối với phát triển DLST bởi sự tồn tại của LHDL này phụ thuộc hoàn toàn vào tình trạng của các hệ
sinh thái và môi trường.
năng DLST căn cứ vào mức độ quan trọng và phân hoá lãnh thổ của các tài nguyên và điều kiện có liên
quan cũng như để phân tích phát hiện mối quan hệ trong tổ chức không gian DLST.
6.2.4. Phương pháp thu thập tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập các số liệu, tư liệu từ nhiều nguồn
khác nhau: sách, báo, c
ác báo cáo của Sở du lịch, Sở kế hoạch đầu tư, báo cáo của Ban quản lí các khu
du lịch, phòng kinh tế huyện Xuyên Mộc, khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, khu du lịch
suối khoáng nóng Bình Châu, niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, các Website…
6.2.5. Phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp
Các tư liệu sau khi tiến hành thu thập từ các nguồn khác nhau luôn có những chênh lệch và mang
tính rải rác, liệt kê. Do đó, để các tư liệu đó t
hể hiện được đầy đủ, chính xác, rõ ràng vấn đề, tác giả đã
tiến hành xử lí, so sánh đối chiếu các số liệu, dữ liệu với nhau và phân tích, tổng hợp thành nội dung
hoàn chỉnh.
6.2.6. Phương pháp phân tích hệ thống
Đối tượng nghiên cứu địa lí KT - XH là những hệ thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử
nhỏ có bản chất khác nhau, thường xuyên tác động và mối quan hệ tác động qua lại của chúng. Do đó,
cần phải phân tích mối liên hệ đa dạng, đa chiều trong và ngoài hệ thống về các mặt quy mô số lượng,
tốc độ tăng trưởng,…
7. Cấu trúc đề tài
Tên đề tài : “Đánh giá tiềm năng và xây dựng định hướng phát triển bền vững khu du lịch sinh
thái Bình Châu - Phước Bửu (
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)”
Đề tài gồm có 3 phần: mở đầu, nội dung và kết luận
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về phát triển bền vững du lịch sinh thái
Chương 2: Đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái ở Bình Châu - Phước
Bửu
Chương 3: Những định hướng phát triển bền vững khu du lịch sinh thái Bình Châ
u - Phước Bửu
Về nội dung, DLST là LHDL thăm quan, thám hiểm, đưa du khách tới những môi trường còn
tương đối nguyên vẹn, về các vùng thiên nhiên hoang dã, đặc sắc để tìm hiểu nghiên cứu các hệ sinh
thái và các nền văn hoá bản địa độc đáo, làm thức dậy ở du khách tình yêu và trách nhiệm bảo tồn, phát
triển đối với tự nhiên và cộng đồng địa phương.
Nói một cách khác, DLST là LHDL với những hoạt động có sự nhận thức mạnh mẽ về thiên
nhiê
n và ý thức trách nhiệm đối với xã hội. Thuật ngữ “Responsible Travel” (Du lịch trách nhiệm) luôn
gắn liền với khái niệm DLST. Đây là hình thức du lịch có trách nhiệm, không làm ảnh hưởng đến môi
trường và góp phần duy trì, phát triển cuộc sống của cộng đồng người dân địa phương.
Tóm lại, có thể coi DLST là LHDL có những đặc tính cơ bản:
- Phát triển dựa vào những giá trị hấp dẫn của thiên nhiên và văn hoá bản địa.
- Được quản lí bền vững về môi trường sinh thái.
- Có giáo dục và diễn giải về môi trường.
- Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng.
Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST lần đầu tiên được Hector Ceballos – Lascurain đưa ra
năm 1987: “DLST là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi với những mục đích đặc
biệt: nghiên cứu, thăm quan với ý thức trân trọng Thế giới hoang dã và những giá trị văn hoá được
khám phá”.
Đến nay, định nghĩa về DLST đư
ợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đưa ra, điển hình là:
“DLST là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi
trường tự nhiên và văn hoá mà không làm thay đổi sự vẹn toàn của các hệ sinh thái. Đồng thời tạo
những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân
địa phương” (Wood, 1991).
“DLST đư
ợc phân biệt với những LHDL thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi
trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. DLST tạo ra mối quan
hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến bản thân khách du
lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng
nguồn lợi tài chính do du lịch m
DLST đã có sự thay đổi: từ chỗ đơn thuần coi hoạt động DLST là LHDL ít tác động đến môi trường tự
nhiê
n sang cách nhìn tích cực hơn, theo đó DLST là LHDL có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo
dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa
phương.
Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập kỉ 90 của thế kỉ XX, song đã
thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu. Do trình độ nhận t
hức khác nhau, ở những
góc độ nhìn nhận khác nhau nên khái niệm về DLST cũng còn nhiều quan điểm chưa thống nhất.
Theo Phạm Trung Lương và Nguyễn Tài Chung (1998) - Viện nghiên cứu và phát triển du lịch:
“DLST là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường, có tác động
tích cực tới việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa
phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”.[
12]
Theo Lê Huy Bá (2000):
“DLST là một LHDL lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những
du khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ
sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu
về những cảnh đẹp của quốc gia, cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và
tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”.[1]
Để có được sự thống nhất về khái niệm làm cơ sở cho công tác nghi
ên cứu và hoạt động thực tiễn
phát triển DLST, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như ESCAP,
WWF, IUCN… có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học Quốc tế và Việt Nam về DLST
và các lĩnh vực liên quan, tổ chức hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt
Nam” từ ngày 7 đến ngày 9/
9/1999. Một trong những kết quả quan trọng của hội thảo là lần đầu tiên đã
đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam, theo đó:
“ DLST là LHDL dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa có gắn với giáo dục môi trường, có
đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa
thái cụ thể đư
ợc khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ mục đích phát triển du lịch
nói chung, DLST nói riêng mới được coi là tài nguyên DLST.
Tài nguyên DLST rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên một số loại tài nguyên DLST chủ yếu
thường được nghiên cứu khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách DLST bao gồm:
- Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt là các nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài
sinh vật đặc hữu, quý hiếm (các vườn quốc gia, khu BTTN, các sân chim
,…)
- Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa cây cảnh,…)
- Các giá trị văn hoá bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại của hệ sinh thái tự
nhiên như các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống gắn với truyền thuyết… của
cộng đồng.
Như vậy, có thể hiểu: Tài nguyên DLST là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao
gồm các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hoá bản địa gắn với một hệ sinh thái
cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói
chung và DLST nói riêng.
1.1.3. Phát triển bền vững
Theo Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc năm 1987 đã đưa ra khái niệm P
TBV:
“PTBV là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự
thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”.
Định nghĩa PTBV của Uỷ ban Brundtland: “PTBV là khả năng tạo PTBV để đảm bảo rằng sự
phát triển đó đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm hại tới cái khả năng đáp ứng nhu cầu của c
ác thế
hệ tương lai”.
Theo Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) vào tháng 6/1992 thì
PTBV được hiểu là “sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại nhưng không gây tổn hại
cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Đó là sự phát triển cả về kinh tế, xã hội, văn hoá,
môi trường và tài nguyên thiên nhiên nhằm đáp ứng những nhu cầu về vật chất, tinh thần của thế hệ
các thế hệ trong tương lai.
Như vậy, để PTBV thì phải cùng đồng thời thực hiện 3 mục tiêu: (1) Phát triển có hiệu quả về
kinh tế; (2) Phát triển hài hòa các mặt xã hội; nâng cao mức sống, trình độ sống của các tầng lớp dân
cư; (3) Cải thiện môi trường môi sinh, bảo đảm phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai
sau. Thể hiện qua hì
nh 1.1 và hình 1.2 sau đây:
Mục tiêu kinh tế
Phát triển
bền vững Mục tiêu xã hội
Mục tiêu sinh thái Hình 1.
1: Mô hình phát triển bền vững của ngân hàng Thế giới World Bank
Giá trị máy móc
Cạnh tranh quốc tế
Kinh tế
Nông nghiệp bền vững
Bảo vệ nguồn nước
Kiểm soát thuốc BVTV
Các giá trị giải trí
Chống t
hất nghiệp
Hình 1.
2: Mô hình phát triển bền vững của Villen, 1990
1.1.4. Du lịch bền vững
Khái niệm về du lịch bền vững mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến và nâng cấp khái niệm về du lịch
mềm của những năm 90 và thực sự chú ý rộng rãi trong những năm gần đây. Theo Hội đồng Du lịch và
Lữ hành quốc tế (WTTC), 1996:
“Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm
bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương l
ai”.
“Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lí tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta
có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các
quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống”.(Hens L, 1998)
Mục tiêu của du lịch bền vững là:
- Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường.
- Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển.
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa.
- Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khác
h.
- Duy trì chất lượng môi trường. (Inskeep,1991)
Chiến lược để đạt đến du lịch bền vững còn chưa được xây dựng hoàn chỉnh, đang cần cố gắng để
đư
ợc chấp nhận rộng rãi. Mỗi một tình huống đỏi hỏi những tiếp cận và giải pháp khác nhau. Tuy
nhiên, nếu thực sự du lịch đem lại lợi ích cho môi trường tự nhiên, xã hội và bền vững lâu dài thì tài
nguyên không có quyền được sử dụng quá mức. Tính đa dạng tự nhiên, xã hội và văn hoá phải được
bảo vệ, phát triển du lịch phải được lồng ghép vào chiến lược phát
triển của địa phương và quốc gia,
trường trong khuôn khổ các nguyên tắc và các giá trị đạo đức”. (Allen K, 1993)
1.2. C
ác chỉ tiêu đánh giá
1.2.1. Tính đa dạng sinh học
Giá trị của đa dạng sinh học trên Trái Đất đã từng được rất nhiều người nhắc đến, song để đánh
giá được nó là cả một vấn đề lớn. Những phương thức tiếp cận thông thường và tìm cách đánh giá bằng
ước đoán để nhận được giá trị bình quân sau đó nhân với tổng số loài hiện c
ó nếu quả thực chúng ta
biết được con số đó. Điều cần được nhấn mạnh ở đây là loài có thể có giá trị về mặt hàng hoá (giá trị
sử dụng về kinh tế), thẩm mỹ và giá trị đạo đức.
Đối với loại hình DLST, tính đa dạng sinh học là yếu tố có giá trị hàng đầu. Yêu cầu đầu tiên có
thể tổ chức được DLST là sự tồn tại của các hệ sinh thá
i tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học
cao.
- Tính rất đa dạng sinh học: Có từ 3 – 5 giá trị về mặt sử dụng kinh tế, đạo đức và thẩm mỹ.
- Tính khá đa dạng sinh học: Có từ 2 – 3 giá trị về mặt sử dụng kinh tế, đạo đức và thẩm mỹ.
- Tính trung bình về đa dạng sinh học: Có từ 1 – 2 giá trị về mặt sử dụng kinh tế, đạo đức và thẩm
mỹ.
- Tính kém
về đa dạng sinh học: Giá trị về mặt sử dụng kinh tế, đạo đức, thẩm mỹ không có hiệu
quả.
1.2.2. Độ hấp dẫn
Độ hấp dẫn khách du lịch là yếu tố có tính chất tổng hợp và thường được xác định bằng vẻ đẹp
của phong cảnh, sự đa dạng của địa hình, sự thích hợp của khí hậu,
sự đặc sắc và độc đáo của các hiện
tượng tự nhiên.
- Rất hấp dẫn (chỉ mức độ rất thuận lợi): Phải có trên 5 phong cảnh đẹp, đa dạng. Có 3 hiện
tượng, di tích tự nhiên đặc sắc, độc đáo, đáp ứng được trên 5 loại hình du lịch (LHDL).
- Khá hấp dẫn (chỉ mức độ khá thuận lợi): Có từ 3 – 5 phong cảnh đẹp, đa dạng. C
ó 3 hiện tượng,
Độ bền vững của môi trường tự nhiên nói lên khả năng bền vững của các thành phần và bộ phận
tự nhiên trước áp lực HĐDL
của khách du lịch và các đối tượng khác hoặc thiên tai.
- Rất bền vững (chỉ mức độ rất thuận lợi): Không có thành phần và bộ phận tự nhiên nào bị phá
hoại, nếu có thì ở mức độ nhẹ, có khả năng tự phục hồi, tồn tại vững chắc trên 100 năm, HĐDL diễn ra
liên tục.
- Khá bền vững (chỉ mức độ khá thuận lợi)
: Có 1 – 2 thành phần và bộ phận tự nhiên bị phá hoại
ở mức độ nhẹ, có khả năng tự phục hồi, tồn tại vững chắc từ 50 - 100 năm, HĐDL diễn ra thường
xuyên.
- Trung bình (chỉ mức độ thuận lợi trung bình): Có 1 – 2 thành phần và bộ phận tự nhiên bị phá
huỷ đáng kể, phải có sự hỗ trợ của con người mới phục hồi nhanh được, tồn tại vững chắc từ 10 - 50
năm, HĐDL có thể bị hạn chế.
- Kém bền vững (chỉ mức độ kém thuận lợi): Có 1 – 2 thành phần và bộ phận tự nhiên bị phá huỷ
nặng, phải có sự phục hồi của con người, tồn tại vững chắc dưới 10 năm, HĐDL
bị gián đoạn.
1.2.6. Vị trí của điểm du lịch
Vị trí của điểm du lịch đối với nơi cung cấp nguồn khách du lịch để tiến hành HĐDL.
- Rất thích hợp (chỉ mức độ khá thuận lợi): Chỉ khoảng cách từ 10 – 100 km, thời gian đi đường
không quá 3 giờ, có thể đến bằng 2 – 3 loại phương tiện thông dụng.
- Khá thích hợp (chỉ mức độ khá t
huận lợi): Chỉ khoảng cách từ 100 – 200 km, thời gian đi đường
trên 3 giờ, có thể đến bằng 2 – 3 loại phương tiện thông dụng.
- Trung bình (chỉ mức độ thuận lợi trung bình): Chỉ khoảng cách từ 200 – 500 km, thời gian đi
đường trên 5 giờ, có thể đến bằng 1 – 2 loại phương tiện thông dụng.
- Kém thích hợp (chỉ mức độ ké
m thuận lợi): Chỉ khoảng cách trên 500 km, thời gian đi đường
trên 10 giờ, có thể đến bằng 1 – 2 loại phương tiện thông dụng.
1.2.7. Cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật du lịch
Cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật du lịch (CSHT – CSVCKTDL) tạo điều kiện biến những tiềm
- DLST nên khởi đầu với sự giúp đỡ của những thông tin cơ bản nhưng đa dạng của cộng đồng và
cộng đồng nên duy trì việc kiểm soát sự phát triển của du lịch.
- Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên, xã hội,
văn hoá. Việc sử dụng bền vững tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc phát triển D
LST bền
vững.
- Chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lí di sản và các tài nguyên thiên nhiên
nên được thành lập. Giảm tiêu thụ, giảm chất thải một cách triệt để nhằm nâng cao chất lượng môi
trường.
- Duy trì tính đa dạng về tự nhiên, văn hoá, xã hội,… (chủng loại thực vật, động vật, bản sắc văn
hoá dân tộc,…)
- Lồng ghép các chiến lược phát triển du lịch của địa phương với quốc gia.
- Phải hỗ trợ kinh tế địa phương, t
ránh gây thiệt hại cho các hệ sinh thái ở đây.
- Phải thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương. Điều này không chỉ đem lại lợi ích cho
cộng đồng, cho môi trường sinh thái mà còn nhằm tăng cường khả năng đáp ứng các thị hiếu của du
khách.
- Phải biết tư vấn các nhóm quyền lợi và c
ông chúng. Tư vấn giữa công nghiệp du lịch và cộng
đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan nhằm đảm bảo cho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các
xung đột có thể nảy sinh.
- Đào tạo các cán bộ, nhân viên phục vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch nhằm nâng cao chất
lượng dịch vụ du lịch.
Nghiên cứu hỗ trợ cho du lịch. Phải cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách
nhiệm nhằm nâng cao sự tôn
trọng của du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hoá khu du
lịch, qua đó góp phần thoả mãn các nhu cầu của du khách.
1.4. Những tác động lên môi trường của hoạt động DLST
Hoạt động của ngành kinh tế du lịch là hoạt động khai thác các tiềm năng du lịch (tiềm năng tự
nhiên và tiềm năng KT - XH và nhân văn) phục vụ kinh doanh du lịch. Vì vậy, HĐDL (khai thác, kinh
chưa được nghiên cứu cụ thể nhưng đã đến mức báo động và rất khó kiểm soát.
Ảnh hưởng đến tài nguyên đất: Phát triển du lịch sẽ kéo theo việc xây dựng kết cấu hạ tầng như
khách sạn, các công trình phục vụ du lịch khác sẽ làm cho diện tích đất bị xâm lấn, thu hẹp. Ngoài
ra,
quy hoạch DLST không đúng nơi, xây dựng các công trình hạ tầng không đúng quy cách cũng làm cho
tài nguyên đất bị phá vỡ.
Ảnh hưởng đến tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học: HĐDL làm gia tăng lượng rác thải, khí
thải, một khi không có hoặc thiếu những phương tiện thu gom và dụng cụ chứa và xử lí rác sẽ gây ảnh
hưởng không tốt cho môi trường sống xung quanh của sinh vật.
Ở một số khu BTTN lượng khách du lịch hằng năm tăng ca
o nên cần có nhiều phương tiện, chỗ
lưu trú, các dịch vụ khác để đáp ứng cho các nhu cầu của du khách cũng tăng theo, do đó thiệt hại về
tài nguyên thiên nhiên càng tăng thêm. Do phá rừng xây nhà lưu trú, chặt gỗ bán ngày càng tăng… đã
làm cho gỗ quý ngày càng cạn kiệt. Đây là một thiệt thòi lớn cho con người và khó có thể phục hồi lại.
1.4.2. Tác động đến tài nguyên sinh vật và môi trường ở các khu DLST
- Du khách thăm quan trong một số khu rừng chưa được quản lí nghiêm ngặt thường đi thành
từng đoàn khoảng 70 – 80 người. Họ ồn ào và xả rác trong rừng, điều này làm ảnh hưởng đến không
gian và môi trường sống của một số loài động vật. Khi một loài động vật
nào đó sống trong môi trường
căng thẳng vì có đông du khách thì không bao lâu nó sẽ bị loại trừ ra khỏi môi trường đó. Đây là kết
quả tất yếu của quá trình chọn lọc tự nhiên.
- Rác thải của những du khách sau một đợt nghỉ chân trong rừng sẽ làm ô nhiễm khu vực đó vì
thường rác thải của họ để lại là n
hững túi nilon, những chiếc hộp,.. các loại rác thải này rất khó phân
huỷ. Nếu chúng ta không có biện pháp quản lí, thu gom và xử lí thích hợp thì chỉ một thời gian ngắn
thực vật và ngay cả các cây địa y cũng không mọc nổi vì mặt đất tràn đầy rác.
- Một số hành động thái quá của du khách như chặt cây, bẻ cành, săn bắn chim thú và sự săn bắn
tự do các thú rừng quí hiếm, hoang dã như: nai, gấu, heo rừng, gà lôi lam,… của người dân để phục vụ
du lịch cũng là nguyên nhân làm giảm sú
t cả số lượng và chất lượng của sinh vật trong phạm vi khu du
nhiều thành phần, nhiều giai
cấp và thường rất khác với nếp sống, suy nghĩ của người dân địa phương. HĐDL phát triển, người dân
địa phương quan hệ nhiều với du khách lâu ngày sẽ làm thay đổi các hệ thống giá trị, tư cách, cá nhân,
quan hệ gia đình, lối sống tập thể, những lễ nghi truyền thống và tổ chức của cộng đồng.
- Sự phát triển DLST đem lại công ăn việc làm, tăng thu nhập c
ho người dân nhưng nó cũng tác
động đến việc di cư một lực lượng lao động. Nhập cư lao động là một hiện tượng khá phổ biến ở các
khu du lịch. Lực lượng này nếu không quản lí tốt tốt sẽ là mầm mống của tệ nạn và ảnh hưởng đến trật tự
an toàn xã hội ở địa phương.
- Những việc làm trong ngành du lịch đòi hỏi lực lượng lao động đa số là phụ nữ và trẻ em (buôn
bán hàng rong, làm các hình ảnh, đồ thủ c
ông mỹ nghệ của khu du lịch cho du khách). Do đó, vai trò
người phụ nữ cũng thay đổi. Họ đã đi làm thay vì ở nhà trông con như trước đây.
Chương 2 : ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG KHU DU LỊCH SINH THÁI BÌNH CHÂU -
PHƯỚC BỬU
2.1. Khái quát
Khu DLST Bình Châu - Phước Bửu được xây dựng và đưa vào hoạt động, phát triển dựa trên
quyết định số 4102/QĐ-UB ngày 30 tháng 5 năm 2002 của UBND tỉnh về việc: Phê duyệt dự án phát
triển DLST ở khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu giai đoạn 2002 - 2006.
Khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu thuộc huyện Xuyên Mộc, nằm trên địa bàn hành chính của 4
xã: Bình Châu, Bưng Riềng, Bông Trang và Phước Thuận. Phía Đông giáp huyện Hàm Tân - tỉnh Bình
Thuận, phía Bắc giáp lâm trường Xuyên Mộc, phía Tây giáp sông Hoả và xã Phước Thuận, phía Na
m
giáp biển Đông từ ấp Thuận Biên (xã Phước Thuận) đến Bến Lội (xã Bình Châu). Khu bảo tồn có diện
tích 11.869ha, phân thành các phân khu chức năng: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 4.869ha, phân khu
phục hồi sinh thái 6.248ha và phân khu hành chính dịch vụ 275ha.
Chức năng của khu bảo tồn là bảo vệ một di sản của rừng cây họ Dầu ở vùng ven biển miền Đông
Nam Bộ. Bảo vệ đa dạng nguồn gien động vật, thực vật rừng và đa dạng của các hệ sinh thái, cung cấp
nơi cư trú cho các loài sinh vật đặc biệt là những loài động, t
loài ghi trong công ước CITES cấm buôn bán trên Thế giới).
Ngoài ra trong khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu còn có tài nguyên du lịch vô cùng quý giá đó
là khu suối nước khoáng nóng Bình Châu trên địa bàn xã Bình Châu, phía Đông Bắc của khu bảo tồn,
do công ty cổ phần du lịch Sài Gòn – Bình Châu quản lí, khai thác với diện tích 33ha. Vùng suối nước
khoáng rộng khoảng 1km
2
gồm nhiều hồ, vũng lớn liên kết với nhau bởi các mạch thông nhau. Hành
lang rừng dẫn du khách thăm quan các điểm phun nước có độ nóng khác nhau từ 40
o
c – 60
o
C – 70
o
C…
nhưng xung quanh đều có cây xanh mọc. Khu này đã được xây dựng các công trình, cơ sở lưu trú, nghỉ
dưỡng, các khu điều dưỡng chữa bệnh như vật lý trị liệu, tắm bùn, đắp bùn, tắm nước khoáng nóng.
Loại hình DLST thăm cảnh quan rừng trên khu vực 33ha trong khu du lịch suối khoáng nóng Bình
Châu và của khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu đã và đang được nhiều du khách ưa thích.
2.2. Tiềm năng
2.2.1. Tài nguyên du lịch
2.2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
a. Vị trí địa lí
Khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nằm
trên địa bàn hành chính của 4 xã: Bình Châu, Bưng Riềng, Bông Trang và Phước Thuận, có tọa độ địa
lí: từ 10
o
27
’
57
nh
Khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu nhìn chung có địa hình tương đối bằng phẳng, thoai thoải
từ 4 phía đổ vào trung tâm, tạo thành 4 vùng địa hình khác nhau như sau:
- Vùng bằng phẳng chiếm diện tích 9.902ha, trải rộng từ phía Bắc đến phía Nam, độ cao 20 –
50m so với mực nước biển, độ dốc bình quân từ 3
o
– 5
o
.
- Vùng đồi gồm 1 số ngọn đồi có độ cao tuyệt đối từ 60 đến 160m như : Hồng Nhung (118m),
cụm Hồ Linh ( cao từ 100 -162m) nằm ven biển, khu vực Mộ Ông, Gái Ma… ở phía Tây Nam. Tổng
diện tích của vùng có địa hình đồi là 350ha.
- Vùng cồn cát ven biển diện tích 940ha, chạy dọc trên 17km bờ biển, ở phía Nam khu bảo tồn
từ ấp Thuận Biên (xã Phước Thuận) đến Bến Lội (xã Bình Châu), gồm đồi cát đã ổn định có thảm thực
vật che phủ và cồn c
át đang di động chưa có thảm thực vật che phủ, độ cao từ 30 – 60m so với mặt
biển.
- Vùng bàu, hồ diện tích khoảng 200ha, nằm rải rác trong khu bảo tồn.
Các dạng địa hình khác nhau và thảm thực vật rừng tự nhiên đã tạo cho khu bảo tồn có các
cảnh quan sinh động, đa dạng gồm: đồi, núi, suối, hồ, biển và rừng, nơi đây tạo thành nơi cư trú rất đa
dạng cho các loài động, thực vật.
c. Địa chất
* Đá mẹ: Trong khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu gồm nhiều loại đá mẹ khác nhau: Đá
bazan hình thành do hoạt động của núi lửa, phù sa cổ, trầm tích biển, nhóm đá thuộc sản phẩm macma
xâm nhập.
* Đất: Các loại đất được hình thành từ các loại đá mẹ trên gồm :
- Đất feralit nâu đỏ, nâu vàng trên đá bazan (1818ha)
- Đất feralit màu xám và vàng nhạt phát triển trên đá granit và đaxit (756ha)
- Đất màu xám và màu nâu phát triển trên phù sa cổ (3603ha)