THÁNG 5 NĂM 2006
DIỄN ĐÀN PTBV CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI
KẾT QUẢ XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP
TS. Đặng Tùng
Vụ trưởng Vụ KHCN,
Phó Trưởng Ban chỉ đạo PTBVCN.
Ngày 17/8/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg
ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị
sự 21 của Việt Nam) nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ,
hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Thực
hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, được sự hỗ trợ của Dự án VIE/01/021, Bộ
Công nghiệp triển khai xây dựng Định hướng chiến lược phát triển bền vững công
nghiệp (Chương trình Nghị sự 21 ngành công nghiệp) nhằm đưa ra những định hướng
lớn, mang tính chiến lược để các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp làm căn cứ để
xây dựng các chương trình hành động thực hiện phát triển bền vững trong giai đoạn
đến năm 2010 và định hướng đến 2020.
Việc xây dựng Chương trình nghị sự 21 ngành công nghiệp được thực hiện
trong điều kiện có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức.
Thuận lợi cơ bản là sự ổn định về chính trị - xã hội, những thành tựu về phát triển
kinh tế đất nước, những thắng lợi về ngoại giao, an ninh, quốc phòng, những
chuyển biến mạnh mẽ về cải cách hành chính và luật pháp trong giai đoạn vừa qua
đã tạo ra các điều kiện thuận lợi cho công nghiệp phát triển.
I. Thực trạng và thách thức đối với phát triển bền vũng ngành công
nghiệp
a) Thành tựu và thách thức trong phát triển sản xuất công nghiệp
Triệt để khai thác các điều kiện thuận lợi, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, sản
xuất công nghiệp trong giai đoạn vừa qua đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và đạt
được những thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào nhịp độ phát triển kinh tế của đất
trường và năng lực sản xuất, chế tạo thiết bị. Cơ cấu của các thành phần kinh tế trong
công nghiệp cũng có chuyển biến tích cực: khu vực nhà nước có xu hướng giảm dần từ
41,8% vào năm 2000 xuống 35,5% năm 2005; khu vực ngoài quốc doanh và khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng dần. Sự tham gia của các thành phần kinh
tế trong sản xuất công nghiệp đã thúc đẩy sản xuất công nghiệp đa dạng hơn cả về quy
mô sản xuất, trình độ công nghệ, chủng loại và chất lượng sản phẩm, đáp ứng những
nhu cầu khác nhau của các tầng lớp dân cư có mức thu nhập khác nhau cũng như yêu
cầu của từng thị trường xuất khẩu khác nhau.
Tuy nhiên, ngành công nghiệp cũng gặp không ít khó khăn, thách thức trong việc
duy trì sự phát triển bền vững trong giai đoạn tới, đặc biệt khi Việt Nam gia nhập
WTO. Đó là sự cạnh tranh ác liệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng, trong khi công nghệ của các ngành công nghiệp nước ta phần lớn còn lạc hậu, chậm
được đổi mới, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, trình độ và công
cụ quản lý kinh doanh trong các doanh nghiệp còn yếu làm cho sức cạnh tranh của sản
phẩm công nghiệp thấp. Sự thiếu chủ động về nguyên liệu vật tư đầu vào cho sản xuất
trong nước, thiếu các thương hiệu mạnh cho các sản phẩm công nghiệp, chất lượng tăng
trưởng công nghiệp và giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp của nhiều ngành thấp ...
cũng là những khó khăn, thách thức không nhỏ cho sự phát triển bền vững của ngành
công nghiệp trong những năm tới. Thêm vào đó, trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới, khi hàng rào thuế hạ thấp, các sản phẩm của Trung Quốc và nhiều nước
ASEAN dễ dàng thâm nhập vào thị trường Việt Nam, cạnh tranh sẽ diễn ra càng gay
gắt hơn trên thị trường nội địa.
b) Các hoạt động bảo vệ môi trường công nghiệp
Bên cạnh những thách thức về duy trì tốc độ tăng trưởng và năng lực cạnh tranh,
các ngành công nghiệp cũng gặp không ít những vấn đề thách thức về môi trường. Do
một tỉ lệ khá lớn các nhà máy, xí nghiệp được đầu tư từ thời bao cấp với công nghệ, thiết
bị lạc hậu; nhiều cơ sở hoạt động không có hệ thống xử lý khí thải và nước thải hoặc hệ
thống hoạt động kém hiệu quả, phân bố gần hoặc đan xen với các khu dân cư (thường
hình thành sau khi có nhà máy) nên tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, môi trường
nước khá nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống của người dân xung quang nhà máy.
thiểu ô nhiễm, Bộ Công nghiệp đã phối hợp với UBND Thành phố Hồ Chí Minh
triển khai thực hiện chương trình di dời các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng trên địa bàn Thành phố. Đến nay đã có 465 cơ sở thực hiện di
dời, 372 cơ sở đã ngưng sản xuất, 47 cơ sở đã thay đổi ngành nghề.
Bộ Công nghiệp cũng đã chỉ đạo tổ chức tốt mạng lưới quản lý môi trường
ngành nhằm giúp Bộ quản lý tốt các hoạt động BVMT, ngăn ngừa và nắm bắt kịp thời
các vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh, nhanh chóng đưa ra các biện pháp quản lý
phù hợp. Hoạt động nghiên cứu, đào tạo nâng cao nhận thức và năng lực quản lý và
BVMT cũng được Bộ quan tâm chỉ đạo triển khai có kết quả:
- Chỉ đạo triển khai nhiều chương trình, dự án nghiên cứu phục vụ BVMT như
Dự án “Kế hoạch tổng thể ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp” với sự tài trợ của JICA Nhật
Bản, Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Bộ về sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 102/2003/NĐ-CP phê duyệt Chương
trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 20062015 (Quyết định số 79/2006/QĐ-TTg), ....
- Chỉ đạo các Tổng Công ty xây dựng các Quy chế BVMT ngành, Chiến lược
và Chương trình BVMT lồng ghép trong các Chiến lược, quy hoạch phát triển ngành
như các ngành điện, than, dệt may...
- Tổ chức nhiều lớp tập huấn và hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp công
nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn và hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO
14000, tổ chức các phong trào xanh sạch đẹp trong các doanh nghiệp công nghiệp,
3
THÁNG 5 NĂM 2006
DIỄN ĐÀN PTBV CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI
phát động các tuần lễ Quốc gia về Nước sạch và vệ sinh môi trường; Ngày môi trường
thế giới ...
3. Từng bước tái cơ cấu công nghiệp theo hướng giảm dần tỷ trọng khu vực nhà
nước, tăng dần khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài; chú trọng phát triển hệ thống
doanh nghiệp vừa và nhỏ; hình thành các tập đoàn công nghiệp đa thành phần, đa ngành
nghề để phối hợp sức mạnh và lợi thế của các thành phần, các ngành nghề, đồng thời làm
đối tác cho các hoạt động kinh tế quốc tế, trụ cột cho nền kinh tế quốc dân.
4. Thực hiện cơ cấu phân bố công nghiệp theo hướng phát triển và dịch chuyển
các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động về nông thôn, hình thành công nghiệp
nông thôn, phát triển mạnh doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn cho hoạt động sơ
chế, chế tạo chi tiết, linh kiện cho các cơ sở công nghiệp lớn, tập trung ở các đô thị
trong điều kiện đặc thù Việt Nam, đảm bảo phát triển cân đối; chú trọng phát triển
4
THÁNG 5 NĂM 2006
DIỄN ĐÀN PTBV CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI
công nghiệp theo các tuyến giao thông (cảng biển, trục giao thông, trục đường thuỷ,
bộ) để phát huy các lợi thế.
5. Chú trọng đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp nhằm nâng cao
chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp, giảm ô nhiễm môi trường, sử
dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; đặc biệt trong ngành khai thác và chế
biến khoáng sản.
6. Đổi mới tổ chức, quản lý KH&CN, nâng cao vai trò của KHCN trong việc đổi
mới, hiện đại hóa công nghệ của các ngành, đồng thời tăng cường tiếp nhận, làm chủ và
phát triển các công nghệ mới, hiện đại.
7. Phát triển công nghiệp đi đôi với bảo vệ môi trường. Thực hiện tốt công tác
quản lý và bảo vệ môi trường, đầu tư mới và cải tạo các hệ thống xử lý chất thải nhằm
thực hiện nghiêm chỉnh việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng; chú trọng áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn; nghiên cứu hình thành và
THÁNG 5 NĂM 2006
DIỄN ĐÀN PTBV CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI
cho đồng bào các vùng sâu vùng xa (Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thanh
Hóa, Ninh Thuận ...).
5. Chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, thu hút lực lượng lao động
người Việt Nam từ các nước vào phát triển công nghiệp.
6. Chương trình hỗ trợ hội nhập kinh tế khu vực và thế giới nhằm cung cấp thông
tin về tiến trình hội nhập, thông tin về rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), giúp các
doanh nghiệp công nghiệp chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
7. Chương trình phát triển các ngành chủ lực, có doanh thu lớn như nhóm ngành
công nghiệp khai thác (than, dầu khí, các khoáng sản kim loại và phi kim loại), nhóm
ngành công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động (dệt may, da giày, chế biến nông lâm
sản, thực phẩm…), nhóm ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp cơ điện tử, nhóm ngành
công nghiệp sử dụng nhiều thành tựu công nghệ.
8. Chương trình chuyển dịch công nghiệp về nông thôn, bao gồm ngành điện,
ngành cơ khí, ngành hoá chất, ngành công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy - hải sản,
công nghiệp khai thác, công nghiệp dệt may, da giày.
9. Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (thực hiện Chương trình
mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt).
10. Chương trình khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng các hệ thống
quản lý theo các tiêu chuẩn ISO 9000, ISO 14000, SA 8000, HACCP.
11. Chương trình “Áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp” (Hợp phần
sản xuất sạch hơn trong khuôn khổ chương trình hợp tác Việt Nam - Đan Mạch trong
lĩnh vực môi trường do Chính phủ Đan Mạch tài trợ).
12. Chương trình xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn
môi trường ở tất cả các khu công nghiệp (thực hiện chương trình ưu tiên của Chiến
lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020).
vệ sinh an toàn thực phẩm đến năm 2010).
IV. Một số khó khăn trong triển khai Chương trình nghị sự 21
- Chưa có kinh nghiệm của các nước về xây dựng và thực hiện Chương trình
nghị sự 21 riêng cho ngành công nghiệp. Các nước thường chỉ xây dựng Chương trình
Nghị sự 21 cho quốc gia và các địa phương.
- Chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí về phát triển bền vững công nghiệp.
- Tuy ngành công nghiệp trong các giai đoạn 1996-2000 và 2001-2006 đạt tốc
độ tăng khá trưởng cao và ổn định nhưng còn thiếu bền vững; một số ngành như dệt
may, da giày, điện tử ... chủ yếu là gia công cho các hãng nước ngoài nên giá trị gia
tăng của một số ngành chưa cao, chưa khẳng định được thương hiệu trên thị trường
quốc tế, chưa chủ động được nguyên liệu đầu vào, thị trường đầu ra, mẫu mã sản phẩm
...
- Các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thường là các cơ sở
có công nghệ, thiết bị lạc hậu, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, do đó cũng
gặp khó khăn trong việc đầu tư cho xử lý môi trường và chăm sóc trách nhiệm cho
người lao động và cộng đồng.
- Năng lực tài chính của nhiều doanh nghiệp chưa đủ mạnh để đầu tư cho các
chương trình đổi mới, hiện đại hóa công nghệ, phát triển sản phẩm, thị trường, thương
hiệu và bảo vệ môi trường, chăm sóc trách nhiệm cho người lao động và cộng đồng.
- Do lịch sử để lại, trong quá trình phát triển, nhiều doanh nghiệp, khu công
nghiệp bị đan xen trong các khu đô thị và cân cư và trở thành nguồn gây ô nhiễm cho
công đồng dân cư lân cận cơ sở công nghiệp./.
7