Tiềm năng và định hướng phát triển bền vững thủy sản Bến Tre - Pdf 21


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
---------------------------------- Lê Xinh Nhân

TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG THỦY SẢN
BẾN TRE

Chuyên ngành: Địa Lý Học

Mã số: 60 31 95LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. TRẦN VĂN THÔNG Thành phố Hồ Chí Minh – 2010

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTC Bán thâm canh
BTS Bộ thủy sản
CoC Bộ Quy tắc ứng xử của FAO (Code of Conduct)
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
EU Liên minh châu Âu (European Union)
FAO
Tổ chức lương thực thế giới (Food anh Argiculture
Organization of the united nation)
GAP Thực hành nuôi tốt (Good Aquaculture Practice)
GDP Tổng thu nhập quốc nội (Gross Domestic Product)
HACCP
Hệ thống phân tích mối nguy hiểm và kiểm soát điểm tới hạn
(Hazard Analysis Crititical Control Point)
HTX Hợp tác xã
KT – XH Kinh tế – xã hội
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triể
n nông thôn
NTTS Nuôi trồng thủy sản
RAP
Thực hành nuôi có trách nhiệm (Responsible Aquaculture
Practice)
TACN Thức ăn công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
TP Thành phố

tỉnh.

Nhưng hiện nay nghề NTTS của tỉnh được đánh giá là phát triển không bền vững, hầu hết
các hộ nuôi thủy sản của tỉnh vẫn đang loay hoay tự bươn chải để phát triển mà chưa có những
quy hoạch cụ thể nào cho sự phát triển bền vững trong điều kiện đất nước đang trên đà hội nhập
kinh tế quốc tế.
Hiện nay việc qui hoạch vùng nuôi th
ủy sản của tỉnh còn khá nhiều bất cập, tỉnh có qui
hoạch nhưng lại không công bố rộng rãi cho dân biết để cho người nông dân thực hiện theo
đúng qui hoạch, dẫn đến tình trạng nông dân mạnh ai nấy đầu tư NNTS theo hình thức tự phát,
đến khi có thông báo vi phạm qui hoạch thì chuyện đã rồi, tỉnh đành phải điều chỉnh theo người
dân. Trong lúc các địa phương đang loay hoay qui hoạch vùng nuôi thủy sản thì giữa ngườ
i
nuôi thủy sản và các nhà máy chế biến cũng nẩy sinh rất nhiều mâu thuẩn, trên lý thuyết giữa
người nuôi thủy sản và nhà máy chế biến phải luôn luôn cùng nhau nhìn về một hướng để phát
triển nhưng thực tế không như vậy, người thu mua và người nuôi luôn vì cái lợi của bản thân
mà không hề để ý tới sự phát triển trong tương lai.

Trong khi bài toán “phát triển thủy sản của tỉnh như thế nào là bền vững?” vẫn chưa có lời giải thì những ngày gần đây người nuôi và
doanh nghiệp chế biến thủy sản lại đối mặt với một vấn nạn: giá thức ăn chăn nuôi tăng lên từng
ngày, chất lượng thủy sản và môi trường nuôi ngày càng suy thoái dần, khiến cho giá cả nhiều
mặt hàng thủy sản của tỉnh giảm sút rất mạnh trên th
ị trường.
Hằng ngày trên các phương tiện truyền thông đại chúng như: báo chí, đài phát thanh
truyền hình cũng đã đề cập rất nhiều về vấn đề này thế nhưng vẫn chưa có một công trình
nghiên cứu khoa học thật sự nào đi sâu vào việc nghiên cứu làm sao để ngành hàng thủy sản
Bến Tre thực sự có một chổ đứng vững chắc trên thị trường trong thời kỳ hội nhập hiệ
tiềm năng hiện có và đồng thời nêu lên một số giải pháp mang tính định hướng nhằm phát triển
ngành thủy sản Bến Tre phát huy lợi thế là một trong những ngành kinh tế thế mạnh của tỉnh,
góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao về mặt kinh tế xã hội và môi trường sinh thái trong
tương lai.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu và vận dụng lý thuyết phát triển bền vững để phân tích thự
c trạng phát triển
ngành thủy sản tỉnh Bến Tre (khai thác, nuôi trồng và chế biến tiêu thụ sản phẩm thủy sản)
những năm qua theo quan điểm phát triển bền vững.
Tìm hiểu vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế xã hội và môi trường sinh thái của
Việt Nam nói chung và Bến Tre nói riêng.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành thủy sản của tỉnh đồng thời nêu
lên các mâu thuẫn phát sinh giữa phát triển kinh t
ế thủy sản với bảo vệ môi trường, cũng như
các vấn đề thủy sản đang bức xúc hiện nay.
Nghiên cứu hiện trạng phát triển ngành thủy sản Bến Tre. Đưa ra một số giải pháp mang
tính định hướng cho việc phát triển bền vững ngành thủy sản Bến Tre đến năm 2020.

4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu c
ủa đề tài là các loại thủy sản đặc trưng có thế mạnh của
tỉnh, hiện nay mang lại giá trị xuất khẩu cao chủ yếu là tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm càng
xanh, cá da trơn (tra, basa).
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trong giới hạn các huyện có tiềm năng và thế mạnh cho
việc phát triển thủy sản, phân tích các tiềm năng về tài nguyên tự nhiên – kinh tế xã hội (KT –
XH) để phát triển ngành thủy sản, đánh giá thực trạ
ng phát triển của ngành trong thời gian gần
đây. Trên cơ sở phân tích tiềm năng, đánh giá thực trạng phát triển. Đề xuất các giải pháp,

ả kinh
tế với sự phát triển bền vững. Sự phát triển bền vững cần phải thể hiệu đầy đủ cả 3 mặt: hiệu
quả kinh tế, xã hội và môi trường. Trên cơ sở đó, chúng ta cần phải có những giải pháp mang
tính khả thi cho ngành thủy sản trong tương lai. Do đó, những năm gần đây đã có không ít công
trình nghiên cứu về vấn đề thủy sản Việt Nam, Đ
BSCL.
 “Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản Việt Nam thời kỳ 1999 – 2010” do thủ
tướng chính phủ phê duyệt Quyết định số 224/1999 ngày 08/12/1999.
 Đề án “Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội ngành thủy sản thời kỳ 2000 – 2010” của
Bộ Thủy sản.
 Đề tài khoa học cấp bộ “Những giải pháp về thị trường cho sản phẩm thủy sản xuất
khẩu của Việt Nam” của PGS – TS. Võ Thanh Chu (chủ biên) cùng nhóm tác giả
thuộc trường Đại học Kinh tế Thành phồ Hồ Chí Minh thực hiện.
 “Quy hoạch phát triển NTTS ở ĐBSCL đến năm 2015 và định hướng năm 2020” Viện
Kinh tế và quy hoạch thủy sản thuộc Bộ Thủy sản.  Luận án tiến sĩ “Phát triển bền vững ngành thủy sản Đồng bằng Sông Cửu Long đến
năm năm 2015” của Ths. Lâm Văn Mẫn.
Một số bài tham luận có liên quan đến việc phát triển bền vững ngành thủy sản tại các
cuộc Hội thảo khoa học như:
 “Hoạt động khoa học công nghệ thủy sản vì sự phát triển Đồng bằng sông Cử
u Long”
của Bộ Thủy sản.
 “Để nuôi trồng thủy sản xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn ở Đồng bằng Sông Cửu
Long” của PGS – TS. Hà Xuân Thông – Nguyên Viện trưởng Viện kinh tế và quy
hoạch thủy sản.
 “Đẩy nhanh phát triển nuôi trồng thủy sản phát triển hiện đại, hiệu quả bền vững”
của PGS – TS. Hà Xuân Thông – Nguyên Viện trưởng Viện kinh tế và quy hoạch thủ
y

qu
ốc tế mà chỉ bước đầu cho việc nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của vấn đề thủy sản –
chủ yếu là nhằm mục đích nâng cao năng suất cho việc nuôi trồng thủy sản (NTTS). Diễn hình
như các công trình: “Bệnh học thủy sản” công bố năm 2008, của Viện nghiên cứu nuôi trồng
thủy sản I; “Quản lý chất lượng nước nuôi trồng thủy sản” công bố 2008 của
Đại học Cần Thơ;
“Kỹ thuật nuôi nhuyễn thể” công bố 2008,…
Ngày nay, với việc Việt Nam chính thức gia nhập WTO, chúng ta không phải chỉ sản
xuất sản phẩm mà chúng ta có tiềm năng mà cần tạo ra sản phẩm thị trường cần, sản phẩm phải
đáp ứng được nhu cầu thị trường. Do đó, vấn đề nghiên cứu về thủy sản hướng xuất khẩu củ
a
Bến Tre thật là một đề tài khá hấp dẫn cần phải được quan tâm đầy đủ trong tình hình hiện nay.
Riêng vấn đề phát triển thủy sản Bến Tre trong thời kỳ hội nhập hiện nay thì vẫn chưa có
một công trình thật sự nào được nghiên cứu một cách chi tiết, tuy nhiên cũng có rất nhiều bài
viết của sinh viên, định hướng quy hoạch của huyện về các vấn đề có liên quan đến thủy sản
như:
 “Khảo sát mô hình nuôi tôm sú thâm canh tại huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre” của
Phạm Nguyễn Phương Thảo, 2005. Luận văn tốt nghiệp khoa Thủy Sản, Trường Đại
Học Nông Lâm, Tp Hồ Chí Minh.
 “Quy hoạch chi tiết nuôi thủy sản đến năm 2010 của huyện Ba Tri – Bến Tre” của
Phòng Thủy sản huyện Bình Đại.
 “Quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản huyệ
n Thạnh Phú – Bến Tre gia đoạn 2003 –
2010” của Hội đồng nhân dân huyện Thạnh Phú.
Các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học trên là những tư liệu tham khảo quý giá cho
tác giả khi thực hiện luận văn: “Tiềm năng và định hướng phát triển bền vững thủy sản Bến
Tre”.
6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1. Quan điểm nghiên cứu
6.1.1. Quan điểm hệ thống

đúng chiều hướng phát triển, sự thay đổi của ngành qua từ
ng giai đoạn trong quá khứ, hiện tại
đó là một tiền đề thuận lợi cho phép chúng ta dự báo viễn cảnh cho sự phát triển của ngành
trong tương lai.

6.1.4. Quan điểm kinh tế và phát triển bền vững
Quan điểm kinh tế được coi trọng trong nghiên cứu địa lý KT – XH. Quan điểm này thể
hiện thông qua một chỉ tiêu kinh tế cụ thể như tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế
,… Trong cơ chế thị trường, sản xuất phải đem lại lợi nhuận song cần tránh xu hướng phải đạt cái mục tiêu
kinh tế bằng mọi giá.
Kinh tế thủy sản cũng không nằm ngoài mục tiêu trên chúng ta thúc đẩy sự phát triển
thủy sản nhằm góp phần phát triển kinh tế tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung, nhưng
chúng ta cũng cần phải tính đến mục tiêu lâu dài, sự phát triển bền vững trong tương lai ch

không phải chỉ vì mục tiêu trước mắt mà bất chấp tất cả.
Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo sự bền vững về cả 3 mặt
kinh tế, xã hội và môi trường.
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp phân tích tổng hợp và nghiên cứu hệ thống
Đối tượng nghiên cứu của địa lý KT – XH nói chung và của ngành thủy sản nói riêng là
những hệ
thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử có bản chất khác nhau, thường xuyên tác
động qua lại, mang tính thang cấp rỏ rệt. muốn hiểu rõ những đặc điểm và tính quy luật vận
động, hành vi của chúng, cần phân tích các mối liên hệ đa dạng, đa chiều bên trong và bên
ngoài hệ thống về các mặt số lượng, cường độ, mức độ chặt chẽ,…
Đây là phương pháp cơ bản đượ
c sử dụng trong đề tài nghiên cứu. Phương pháp này

đó dự
báo sự phát triển của ngành trong tương lai.
6.2.5. Phương pháp bản đồ - biểu đồ
Phương pháp truyền thống này cũng được sử dụng phổ biến trong quá trình nghiên cứu
địa lý học nối chung và nhiều môn khoa học cơ bản khác trong đó nó được xem là một phương
pháp khá hữu dụng và trực quan trong nghiên cứu thủy sản. Các quá trình nghiên cứu có thể
khởi đầu và kết thúc bằng một bản đồ - biể
u đồ. Vì đây là “ngôn ngữ” tổng hợp, ngắn gọn, trực
quan của các đối tượng nghiên cứu.

7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm có 3 chương chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển thủy sản ở tỉnh Bến Tre.
Chương 3: Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh th
ổ ngành thủy sản tỉnh Bến Tre đến
năm 2020.

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan về ngành thủy sản
1.1.1. Các khái niệm cơ bản về thủy sản
Thủy sản là những loại động vật sống dưới nước như cá, nhuyễn thể, giáp xác,… có thể
qua hay không thông qua khâu nuôi trồng và dùng làm thực phẩm.

nuôi khác nhau (chẳng hạn khu vực ven biển ở môi trường nước lợ mùa khô nuôi tôm sú, mùa mưa có thể nuôi cá kèo hay cua biển). Đây là hình thức nuôi mang lại hiệu quả kinh tế khá cao
trong thời gian gần đây.
Chế biến và tiêu thụ sản phẩm thủy sản
Công nghiệp chế biến là hoạt động nối tiếp sản phẩm của ngành khai thác, nuôi trồng, nó
không chỉ bảo tồn, giữ gìn chất lượng nguyên liệu mà còn nâng cao giá trị động thời tạo ra
những sản phẩm có giá trị sử dụ
ng cao. Nhờ đó đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu thị trường tốt
hơn, thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Sản phẩm thủy sản là thực phẩm trong đó thủy sản là thành phần đặc trưng.
Sản phẩm thủy sản tươi là sản phẩm thủy sản còn nguyên con, hoặc đã qua sơ chế, chưa
được xữ lý với bất kỳ hình thứ
c nào để bảo quản, ngoài việc làm lạnh.
Sản phẩm thủy sản chế biến là những sản phẩm thủy sản đã qua các hình thức chế biến
như xữ lý nhiệt, hun khói, ướp muối, sấy khô hoặc kết hợp các hình thức trên, có phối chế hoặc
không phối chế với phụ gia, thực phẩm khác.
Sản phẩm thủy sản đông lạnh là sản phẩm thủy s
ản cấp động, khi đã ổn định nhiệt độ
trung tâm sản phẩm 8 – 18
0
c hoặc thấp hơn.
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của ngành thủy sản
Thủy sản là một bộ phận của nông nghiệp theo nghĩa rộng, cho nên ngành thủy sản có
những đặc điểm tương tự những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nói chung. Tuy nhiên do
tính chất đặc thù của đối tượng lao động nên ngoài những đặc điểm chung trong ngành thủy sản
còn có những nét đặc thù riêng.

1.1.2.1. Đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trong nước.
1.1.2.2. Thủy vực là tư li
ệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế
Các loại mặt nước bao gồm: sông, hồ, ao, mặt nước ruộng, cửa sông, biển,… gọi chung là
thủy vực được sử dụng vào việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Tương tự như ruộng đất sử
dụng vào sản xuất nông nghiệp, thủy vực là tư liệu sản xuất đặc biệt, chủ yếu không th
ể thay thế
của ngành thủy sản. Không có thủy vực sẽ không có sản xuất thủy sản.
1.1.2.3. Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp, tính liên ngành cao
Với tính cách là ngành sản xuất vật chất, ngành thủy sản bao gồm nhiều ngành sản xuất
cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như: khai thác,
nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ th
ủy sản. Khi trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, các hoạt
động sản xuất nói trên chưa có sự tách biệt rõ ràng, thậm chí còn lồng vào nhau. Ngày nay, dưới
tác động mạnh mẽ của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội làm cho
các hoạt động sản xuất thủy sản được chuyên môn hóa ngày càng cao. Các hoạt động chuyên
môn hóa khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản có trình độ và quy mô khác
nhau phụ thuộ
c vào nhu cầu của thị trường và mỗi hoạt động lại dưa trên nền tảng nhất định về
cơ sở vật chất kỹ thuật và phương pháp công nghệ, tạo nên những chuyên ngành chuyên môn
hóa hẹp có tính độc lập tương đối. Tuy vậy do đặc điểm của sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm
thủy sản, tính liên kết vốn có của các hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biế
n và các dịch vụ thủy sản lại đòi hỏi phải gắn bó các ngành chuyên môn hóa hẹp nói trên trong một thể thống
nhất, ở trình độ cao hơn mang tính liên ngành.
Tính hỗn hợp và tính liên ngành cao của những hoạt động sản xuất có tính chất khác nhau
tạo thành cơ cấu sản xuất của ngành thủy sản. Cơ cấu sản xuất ngành thủy sản hay còn gọi là cơ

Đối với hầu hết các nước, ngành thủy sản có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, đặc
biệt đối với những quốc gia có vùng biển và vùng nội địa phong phú. Việt Nam là nước có mặt
biển rộng với hơn 3200km chiều dài đường b
ờ biển, tổng diện tích biển nước ta khoảng 1 triệu km
2
, hệ thống sông, hồ, suối khá phong phú trên đất liền. Phát triển ngành thủy sản có vị trí
quan trọng trong nền kinh tế nước ta.
1.1.3.1. Ngành thủy sản cung cấp những thực phẩm quý cho tiêu dùng của người dân,
cung cấp nguồn nguyên liệu cho sự phát triển của các ngành khác.
Các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về dinh dưỡng đã khẳng định hầu hết các loại
thủy sản đều là loại thực phẩm giàu đạm, dễ
tiêu hóa, phù hợp với sinh lý dinh dưỡng ở mọi lứa
tuổi. Càng ngày thủy sản càng được tin tưởng như một loại thực phẩm ít gây bệnh (tim mạch,
béo phì, ưng thư,…). Xét về thành phần dinh dưỡng cho thấy: so với các loại thực phẩm từ thịt
khác thì thủy sản có chứa ít chất mỡ hơn, nhiều chất khoáng hơn nhưng chất đạm vẫn cao.
Chúng ta có thể nhận thấy như sau:
Bả
ng 1.1. So sánh thành phần các chất dinh dưỡng của thịt bò so với một số loại thủy sản.
Loại thực phẩm Tỉ lệ đạm (%) Tỉ lệ mỡ (%) Chất khoáng (%)
Thịt bò 16.2 – 19.2 11 – 28 0.8 – 1.0
Cá thu 18.6 0.4 1.2
Cá mối 16.4 1.6 – 2.3 1.2
Cá hồng 17.8 5.9 1.4
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của các chuyên gia dinh dưỡng
Ngành thủy sản còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và một số
ngành công nghiệp khác. Nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành chế biến thực phẩm gồm tôm,
cá, nhuyễn thể, rong biển,… Các nguyên liệu thủy sản còn được sử dụng làm nguyên liệu cho

Nghìn tỷ
đồng
%
Nghìn tỷ
đồng
%
Nghìn tỷ
đồng
%
Nghìn tỷ
đồng
%
Nông nghiệp 108.4 24.54 176.0 20.97 329.9 22.21 346.8 20.88
Trong đó:
NN – L.Nghiệp
Thủy sản

93.5
14.9

21.17
3.37
143.0
33.0
17.04
3.93
219.4
110.5
14.77
7.44

Tổng sản lượng
thủy sản
(nghìn tấ
n)
Giá trị sản xuất thủy sản Giá trị xuất khẩu thủy sản
tỷ đồng
% tăng
trưởng so với
năm 2000
triệu USD
% tăng
trưởng so với
năm 2000
2000 2250.5 26498.9
100.0
1.5
100.0
2004 3142.5 53977.7
203.7
2.4
160.0
2005 3465.9 63549.2
239.8
2.7
180.0
2007 4197.8 89509.7
337.8
3.8
253.3
2008 4602.0 110510.4

Trong tương lai, việc NTTS theo hướng bền vững còn có những đóng góp quan trọng
trong vấn đề vệ sinh môi trường (ăn ấu trùng muỗi, ăn các hợp chất hữu cơ, tham gia diệt trừ
sâu bệnh trong mô hình lúa – cá, lúa – tôm,…). NTTS còn là bộ phận quan trọng trong các mô
hình vườn – ao – chuồng (VAC), vườn – rừng – ao – chuồng (VRAC),…
Nói tóm lại, ngành thủy sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nói chung
và trong đời sống hàng ngày của nhân dân nói riêng. Tầm quan trọng của nó thể hiện ở
việc
tham gia vào cải thiện cơ cấu bữa ăn với các thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao; đóng góp vào
nền kinh tế, tạo ra các mặt hàng xuất khẩu tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, đồng thời góp
phần vào trong vấn đề giải quyết việc làm cho một bộ phận người lao động của xã hội.
1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thủy sản
1.1.4.1. Các nhân tố tự nhiên
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm, một số vùng có khí hậu cận nhiệt
(khu vực miền Bắc nước ta), có đường bờ biển dài hơn 3260 km từ Móng Cái (Quảng Ninh)
đến Hà Tiên (Kiên Giang), diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng hơn 226.000 km
2
, có
diện tích vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km
2
, trong vùng biển Việt Nam có hơn
4000 hòn đảo lớn nhỏ, là nơi có thể cung cấp các dịch vụ hậu cần cơ bản, trung chuyển sản
phẩm đánh bắt, đồng thời làm nơi neo đậu cho tàu thuyền trong những chuyến ra khơi; Ở
một số đảo có các rạn đá, là nơi tập trung nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế,… Dọc bờ biển
nước ta còn có những bãi triều,
đầm phá, cửa sông (trong đó hơn 10.000 ha đang quy hoạch
NTTS) và ven bờ biển có trên 400.000 ha rừng ngập mặn; Ven bờ có nhiều đảo và vụng,
vịnh tạo điều kiện hình thành các bãi cho cá đẻ. Bên cạnh đó, trong đất liền còn có khoảng 1.5
triệu ha diện tích mặt nước, có thể NTTS trong đó có 120.000 ha hồ ao nhỏ, mương vườn,
244.000 ha hồ chứa mặt nước lớn, 446.000 ha ruộng úng trũng, nhiễm mặn, cấy lúa 1
hoặc 2 vụ b

nước đang coi thuỷ sản là ngành kinh tế mũi nhọn, do đó có nhiều chính sách khuyến khích
đầu tư để đẩy mạ
nh sự phát triển của ngành.
Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra 3 mục tiêu chương trình kinh tế lớn là: sản xuất lương
thực – thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu. Vận dụng quan điểm,
chủ trương này trong thời gian qua ngành thủy sản đã tích cực đầu tư cho các hoạt động nuôi
trồng cũng như chế biến các sản phẩm thủ
y sản, tạo ra được một khối lượng hàng hóa lớn có
chất lượng, đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong nước, góp phần vào việc xuất khẩu
tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia.
Từ năm 1995 đến nay, ngoài văn kiện của 2 kỳ Đại hội Đảng khóa VIII và khóa IX nêu
rỏ chủ trương, đường lối phát triển của thủy sản, còn có hàng trăm văn bản, chính sách có liên
quan đến phát tri
ển ngành thủy sản được ban hành. Cụ thể các chính sách này có thể diễn giải
như sau:
Các chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VIII đã chỉ rõ: “Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông,
lâm, thủy sản, đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH – HĐH”. Với
đường lối chỉ
đạo này đã có sự tác động rất lớn đến ngành thủy sản, đó là nâng cao giá trị của
ngành thủy sản trong việc phát triển toàn diện ngành nông nghiệp.
Ngày 15/06/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 09/2000/NQ-CP về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Nghị quyết
đã đánh giá các thành tựu trong sản xuất nông nghiệp, bao gồm nông – lâm – thủy sản, đồng
thời đề ra những định hướng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của nước ta trong 10
năm tới. Trong đó, kinh tế thủy sản phát triển theo định hướng là chú trọng vào việc nuôi trồng,
chế biến và các dịch vụ thủy sản, đặc biệt là NTTS theo hướng phát triển bền vững.
Định hướng phát triển các ngành kinh tế và các vùng trong chiến lược phát triển KT –

ra, đối với các dự án thuộc chương trình 224 và chương trình 112 còn được đầu tư cho quy
hoạ
ch NTTS và giống thủy sản, xây dựng các khu bảo tồn biển, bảo tồn thủy sản nội địa. Tổng số vốn đầu tư NTTS cả nước là 1.382.2 tỷ đồng, riêng ĐBSCL chiếm 27,43% tổng số vốn đầu
tư của cả nước.
Ngoài các chính sách trên, ngày 04/02/2005 Bộ trưởng Bộ thủy sản đã ban hành Quyết
định 219/QĐ-BTS Phê duyệt Chương trình hành động của ngành thủy sản về “Chất lượng và
thương hiệu cá tra, cá basa Việt Nam 2005 – 2010”. Mục tiêu của chương trình là phấn đấu đến
n
ăm 2010 đạt sản lượng 1 triệu tấn cá tra, cá basa và giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm
từ cá tra, cá basa đạt 800 triệu USD, chiếm tỉ trọng trên 30% kim ngạch xuất khẩu của thủy sản
nước ta.
Chương trình hành động quốc gia về phát triển bền vững ngành thủy sản trong điều kiện
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) giai đoạn 2010 – 2020, chương trình
hành
động này ban hành kèm theo Quyết định số 3298/QĐ-BNN-HTQT ngày 16/11/2009 của
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Mục tiêu của chương trình này là nhằm
đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả của ngành thủy sản trong điều kiện Việt Nam gia
nhập WTO, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng thực phẩm thủy sản, tăng lợi thế cạnh tranh
của thủy sản Việt Nam trên thị trường trong n
ước và quốc tế; góp phần công tác xóa đói, giảm
nghèo cho các hộ nông dân sinh sống bằng nghề thủy sản ở các vùng nông thôn và ven biển.
Gần đây, ngày 26/02/2010 Bộ NN & PTNT đã ban hành Thông tư số 09/2010/TT-
BNNPTNT về yêu cầu đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) trong chế
biến các sản phẩm cá tra, basa xuất khẩu. Thông tư này sẽ tạo một bước đột phá cho việc xâm
nhập hàng thủy sản của nước ta vào các thị tr
ường khó tính như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản,…
Nói tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng, ngành thủy sản rất được Đảng và nhà nhà nước ta

cụ dùng để khai thác thủy sản của nước ta hiện nay, nhưng trên thực tế
số loại ngư cụ dùng để
đánh bắt thủy hải ở nước ta rất là đa dạng và phong phú nhất là đối với khai thác thủy sản nội
địa như: câu, chày, lưới, vó, đăng, đáy,… còn đối với khai thác hải sản thì chủ yếu là các loại
lưới kéo, lưới vây ánh sáng, lưới rê, nghề câu.
Giống thủy sản
Giống thủy sản của nước ta trong thời gian qua đã có những bước tiế
n đáng kể, chúng ta
đã có khả năng tự chủ động được một số giống có chất lượng tốt như cá tra, cá rô phi đơn tính,
cá điêu hồng,… Việc sản xuất thành công một số loại giống thủy sản đã đáp ứng cơ bản phần
nào về nhu cầu giống thủy sản. Bên cạnh đó, Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến việc đầu tư,
xây dự
ng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất giống thủy sản; đào tạo cán bộ chuyên gia đầu
ngành như: thành lập Trung tâm quốc gia giống thủy sản, trung tâm giống thủy sản cấp 1, trung
tâm giống thủy sản các tỉnh, các khu vực sản xuất giống tập trung. Công tác sản xuất giống thủy
sản đang từng bước được xã hội hóa. Ở ĐBSCL thì khoa thủy sản thuộ
c Đại học Cần Thơ là
một trung tâm có sự hổ trợ rất lớn cho nghề nuôi thủy sản của ĐBSCL trong thời gian qua
không những về giống và cả việc áp dụng thử nghiệm và chuyển giao các quy trình kỹ thuật
nuôi có hiệu quả kinh tế cao cho bà con NTTS.
1.1.4.2.4. Thị trường
Từ khi mặt hàng thủy sản nước ta đã tìm được sân chơi trên thị trường thế giới thì thị
trường xuất kh
ẩu thủy sản nước ta đã ngày càng được mở rộng không ngừng. Cả nước hiện nay
đã có hơn 200 doanh nghiệp được đưa vào danh sách được phép xuất khẩu vào thị trường EU,
Hoa Kỳ; hơn 300 doanh nghiệp được phép xuất khẩu vào thị trường Hàn Quốc; có 34 cơ sở được phép xuất khẩu vào thị trường Nga. Hiện nay, sản phẩm thủy sản nước ta không những có
mặt tại các quốc gia Bắc Mỹ, EU mà còn góp mặt tại các thị trường khác như Nhật Bản, một số

thì sản lượng nuôi biển chiếm 30,2 triệu tấn (50,9%), nước ngọt 25,8 triệu tấn (43,4%), nuôi
nước lợ 3,4 triệu tấn (5,7%).
 Trong nuôi nước lợ thì tôm chiếm 63,1%, cá chiếm 34% mà chủ yếu là cá măng biển
và cá rô phi.
 Trong nuôi nước ngọt, sản lượng nước ngọt chủ yếu là cá (94%).

Trích đoạn Tôm thẻ chân trắng Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển thủy sản Bến Tre Đối với hoạt động khai thác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status