Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Hữu Đoàn
Lời mở đầu
Phát triển xã hội đô thị là quá trình tạo ra những thay đổi tích cực về mối quan
hệ qua lại giữa người với người (bao gồm cả mối quan hệ trong cộng đồng) và
phương thức sinh hoạt của con người ở khu vực đô thị cùng với sự mở rộng không
gian đô thị, mở rộng quy mô hành chính, tăng mật độ và quy mô dân số. Tiền đề của
phát triển xã hội đô thị là sự phát triển kinh tế đô thị, nâng cao trình độ cơ sở hạ tầng,
tăng cường ảnh hưởng của đô thị với khu vực xung quanh. Phát triển xã hội đô thị và
phát triển bền vững dân cư đô thị có những nội dung song trùng và mục tiêu thống
nhất nhau đó là xây dựng một xã hội văn minh lấy mục tiêu phát triển con người làm
trọng tâm. Phát triển xã hội đô thị có ảnh hưởng tích cực đối với phát triển kinh tế đô
thị chức năng đô thị, và toàn bộ nền kinh tế, đồng thời đó cũng là mục tiêu của các
quốc gia. Tuy nhiên trong quá trình phát triển xã hội đô thị cũng như phát triển bền
vững dân cư đô thị có nhiều vấn đề bất cập nảy sinh, các nhà quản lý cần lường trước
để hạn chế hậu quả xấu của nó.
Hà Nội là thủ đô, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước,
các mối quan hệ kinh tế, xã hội diễn ra sôi động và vô cùng phức tạp. Hơn nữa, việc
Hà Nội chính thức mở rộng địa giới hành chính vào ngày 1-8-2008, khiến diện tích
tăng lên gấp 3,6 lần và dân số vượt ngưỡng 6 triệu người, càng làm cho xã hội đô thị
thêm phức tạp. Đặc biệt, việc diện tích và dân số quá lớn, gây khó khăn và áp lực về
mọi mặt cho sự phát triển đô thị Hà Nội. Vì vậy để phát triển một đô thị bền vững ta
cần nghiên cứu và có những chính sách phát triển dân số bền vững.
Chính từ những lý do trên mà em chọn đề tài: “Xây dựng giải pháp phát triển
bền vững dân cư đô thị Hà Nội” với hi vọng đem đến cái nhìn sâu sắc hơn về vấn
đề dân số Hà Nội, từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển bền
vững dân số. Do thời gian và kiến thức chuyên môn có hạn nên đề án của em còn có
nhiều thiếu sót. Em mong thầy đóng góp để bài làm của em được tốt hơn. Em xin chân
thành cảm ơn thầy
SVTH: Đỗ Thị Hương Lớp: KT&QL Đô Thị
1
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Hữu Đoàn
SVTH: Đỗ Thị Hương Lớp: KT&QL Đô Thị
2
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Hữu Đoàn
1.2 Phát triển đô thị bền vững
Cơ sở để các tổ chức quốc tế và các trung tâm nghiên cứu đô thị đưa ra các
quan niệm về phát triển bền vững đô thị chính là khái niệm phát triển bền vững được
công bố bởi Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế - IUCN
với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới
phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác
động đến môi trường sinh thái học". Hiểu theo nghĩa chung nhất "Phát triển bền vững
là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả
năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Như vậy khái niệm phát triển bền
vững, về cơ bản bao hàm 3 phương diện: Môi trường bền vững, kinh tế bền vững và
xã hội bền vững. Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh
tế ổn định; thực hiện kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã
hội và bảo vệ tốt môi trường; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa; bảo đảm
dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội; phát triển toàn diện con người.
Phát triển đô thị bền vững là con đường duy nhất để để tránh được các thách
thức do quá trình đô thị hóa tạo ra. Nhưng quan niệm về sự bền vững đô thị cũng
đang là vấn đề tranh luận trên nhiều diễn đàn hội nghị.
Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc UNDP – 1990: Một thành phố là
bền vững trong bản thân nó có sự bền vững đồng thời của các mặt quan hệ kinh tế, xã
hội và môi trường.
Trung tâm về định cư con người của Liên Hợp Quốc (The United Nations
Centre for Human Settlements): Một thành phố bền vững khi nó đạt được sự thiết lập
khuôn khổ về phát triển các khía cạnh tự nhiên, kinh tế và xã hội. Khuôn khổ đó phù
hợp với những nguồn tài nguyên thiên nhiên (đối với chúng ta như là sự cung cấp bền
vững) mà phát triển bị phụ thuộc và khuôn khổ này cũng bảo vệ, tránh những rủi ro
từ môi trường có thể đe dọa đến những mục đích phát triển (trừ những rủi ro có thể
chấp nhận). Việc quy hoạch và quản lý phát triển thành phố bền vững đòi hỏi sự thỏa
Dân số của một đô thị luôn luôn biến động do các yếu tố sinh, chết, đi, đến. Do
đó khi nói đến dân số đô thị cần phân biệt rõ dân số thường trú và dân số hiện có vào
những thời điểm nhất định của đô thị.
Để phản ánh quy mô đô thị của một quốc gia, trình độ đô thị hóa của một vùng
hay một quốc gia, các nhà kinh tế sử dụng tỷ trọng dân số đô thị trong tổng dân số.
Đặc điểm dân cư đô thị
SVTH: Đỗ Thị Hương Lớp: KT&QL Đô Thị
4
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Hữu Đoàn
Dân số là xuất phát điểm của mọi vấn đề trong đô thị. Muốn nghiên cứu đô thị
và đưa ra các chính sách phát triển dân số đô thị, trước tiên cần phải nắm rõ đặc điểm
của dân cư đô thị.
- Dân số đô thị vừa là người sản xuất, lại vừa là người tiêu thụ sản phẩm ngay
trên địa bàn đô thị. Vì thế dân số chính là yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển
kinh tế đô thị vì nó vừa tác động đến phía cung, vừa tác động đên phía cầu sản phẩm
dịch vụ đô thị.
- Một trong những đặc điểm cơ bản của đô thị là dân số tập trung với mật độ
cao. Mật độ dân số là một trong các chỉ tiêu để phân biệt nông thôn và thành thị. Mật
độ dân số là dân số thường trú (hoặc hiện có) tính bình quân trên một đơn vị diện
tích. Mật độ dân số ở các đô thị cũng rất khác nhau. Có những thành phố có mật độ
dân số cao như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cũng có những thành phố có
mật độ dân số tương đối thấp như thành phố Đà Lạt,…
- Đặc điểm quan trọng nhất của dân số đô thị cần phải nghiên cứu đó là cơ cấu
tuổi – giới của dân số vì nó có liên quan đên rất nhiều vấn đề của dân số, đặc biệt là
sự phát triển bền vững trong tương lai. Tiếp đó là cơ cấu lao động, ngành nghề của
dân số.
2.2 Khái niệm phát triển bền vững dân cư đô thị.
Phát triển dân cư đô thị bền vững là sự phát triển hài hoà các yếu tố quy mô dân
cư - chất lượng sống - tốc độ phát triển kinh tế - công bằng xã hội. Quy mô dân cư đô
thị luôn có xu hướng tăng, chất lượng cuộc sống có xu hướng được nâng cao, kinh tế
Nhóm 1. Mức độ phát triển kinh tế, xã hội (3 tiêu chí, 9 chỉ tiêu )
Tiêu chí stt Chỉ tiêu
Tiêu chí 1. Dân số đô thị hợp lý 1 Quy mô dân số và mật độ hợp lý
2 Tỷ lệ hộ nghèo thấp
Tiêu chí 2. Lao động đô thị
3 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp cao
4 Tỷ lệ thất nghiệp thấp
Tiêu chí 3. Phát triển kinh tế đô
thị
5 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm cao
6 Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
cao
7 GDP bình quân đầu người cao
Nhóm 2. Mức độ phát triển cơ sở hạ tầng xã hội (3 tiêu chí, 3 chỉ tiêu)
SVTH: Đỗ Thị Hương Lớp: KT&QL Đô Thị
6
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Hữu Đoàn
Tiêu chí 4 . Nhà ở đô thị
8
Diện tích nhà ở bình quân đầu người cao
(m2/người)
Tiêu chí 5. Y tế đô thị 9 Số cơ sở y tế/1000 dân cao
Tiêu chí 6. Giáo dục ở đô thị 10 Số cơ sở giáo dục /1000 dân cao
Nhóm 3. Mức độ phát triển CSHT kỹ thuật (5 tiêu chí, 7 chỉ tiêu)
Tiêu chí 7. Giao thông đô
thị
11
Tỷ lệ đất giao thông đô thị theo TC
Tiêu chí 8. Cấp nước đô thị
12
CƯ ĐÔ THỊ HÀ NỘI
1. Thực trạng phát triển dân cư đô thị Hà Nội
1.1 Mức độ phát triển kinh tế, xã hội
Dân số đô thị:
- Về quy mô dân số: Các thống kê trong lịch sử cho thấy dân số Hà Nội tăng
mạnh mẽ trong nửa thế kỷ gần đây. Vào thời điểm năm 1954, thành phố có 53 nghìn
dân, trên một diện tích 152 km². Đến năm 1961, thành phố được mở rộng, diện tích
lên tới 584 km², dân số 91.000 người. Năm 1978, Quốc hội quyết định mở rộng thủ
đô lần thứ hai với diện tích đất tự nhiên 2.136 km², dân số 2,5 triệu người. Tới năm
1991, địa giới Hà Nội tiếp tục thay đổi, chỉ còn 921 km², nhưng dân số vẫn ở mức
hơn 2 triệu người. Trong suốt thập niên 1990, cùng việc các khu vực ngoại ô dần
được đô thị hóa, dân số Hà Nội tăng đều đặn, đạt con số 2.672.122 người vào năm
1999; 3,4 triệu vào cuối năm 2007. Sau đợt mở rộng địa giới gần đây nhất vào tháng
8 năm 2008, thành phố Hà Nội có 6,233 triệu dân. Năm 2009, dân số Hà Nội có
6.448.837 người, chiếm 7,51% dân số cả nước, xếp thứ 2 về số dân sau thành phố Hồ
Chí Minh.
- Tỷ lệ tăng dân số khu vực thành thị bình quân mỗi năm trong thời kỳ 1999 –
2009 là 3,76%, trong khi đó tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 1,12%. Quận Hà Đông,
huyện Từ Liêm và quận Cầu Giấy là những nơi có tỷ lệ tăng dân số cao nhất trong
thành phố. Đây là những nơi có đông người lao động làm ăn sinh sống và sinh viên
lên trọ học. Điển hình là Từ Liêm, từ năm 1999 đến nay, dân số của huyện này đã
tăng lên gấp đôi (hiện đang giữ ở mức 371.247 người)
- Mật độ dân số Hà Nội hiện nay, cũng như trước khi mở rộng địa giới hành
chính, không đồng đều giữa các quận nội ô và khu vực ngoại thành. Trên toàn thành
phố, mật độ dân cư trung bình 1.875 người/km² nhưng tại quận Đống Đa, mật độ lên
tới 35.341 người/km². Trong khi đó, ở những huyện như ngoại thành như Sóc Sơn,
Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ không tới 1.000 người/km². Sự khác biệt giữa nội ô và còn
huyện ngoại thành còn thể hiện ở mức sống, điều kiện y tế, giáo dục...
SVTH: Đỗ Thị Hương Lớp: KT&QL Đô Thị
8
Tỷ lệ hộ nghèo tăng lên đến 6,04%, ước tính năm 2010 giảm xuống còn 5,4%.
Lao động đô thị: Mất cân đối cung cầu rõ nét đặc biệt sau khi mở rộng địa giới
hành chính, chất lượng cung lao động qua đào tạo giảm (năm 2007, tỉ lệ lao động qua
đào tạo đạt 53%, năm 2008, sau hợp nhất chỉ còn 23%). Cơ cấu lao động trong các
ngành tiếp tục bất hợp lý, năng suất lao động trong một số ngành thấp (lao động nông
nghiệp chiếm tỉ trọng lớn, song sự chuyển dịch trong nội bộ ngành và sang các ngành
khác còn chậm). Lao động thất nghiệp và thiếu việc làm tăng lên gần 30000 người,
SVTH: Đỗ Thị Hương Lớp: KT&QL Đô Thị
9
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Hữu Đoàn
lao động nông thôn bị mất việc do chuyển đổi mục đích sử dụng đất lớn (trên 40000
người)
Phát triển kinh tế đô thị: Tốc độ tăng trưởng GDP của Hà Nội luôn nằm trong
tốp đầu của cả nước. Nếu như năm 2000, GDP của Hà Nội mới chỉ đạt 39.944 tỷ
đồng, chiếm 9,04 tổng GDP của cả nước thì đến năm 2009 đã là 205.890 tỷ đồng,
chiếm 12,41%. Dự kiến tốc độ tăng GDP năm 2010 là 8% - 8,5%, đưa tốc độ tăng
trường trung bình thời kì 2006 – 2010 đạt khoảng 9,85% ( cả nước 6,96%).
Thu nhập bình quân đầu người tại Hà Nội đã tăng lên bình quân 33,2%, (cả
nước 29%) mỗi năm trong 10 năm qua. Dự báo năm 2010, thu nhập bình quân có thể
lên đến 35 – 36 triệu đồng, tăng 10% – 13 % so với năm 2009. Hiện tại thu nhập bình
quân của Hà Nội cao gấp 64,8% mức trung bình cả nước.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng: dịch vụ - công nghiệp - nông
nghiệp, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực trình độ
cao, chất lượng cao và sản phẩm mũi nhọn.
Biểu đồ cơ cấu kinh tế Hà Nội theo ngành năm 2000, 2009
SVTH: Đỗ Thị Hương Lớp: KT&QL Đô Thị
10
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Hữu Đoàn
SVTH: Đỗ Thị Hương Lớp: KT&QL Đô Thị
11
SVTH: Đỗ Thị Hương Lớp: KT&QL Đô Thị
12
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Hữu Đoàn
1.3 Mức độ phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật
Giao thông đô thị: Năm 2010, thành phố có khoảng 8489 km đường giao thông
nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu đi lại trước sự phát triển đô thị và sự gia tăng nhanh
chóng của các phương tiện giao thông. Tỉ lệ quỹ đất dành cho giao thông ở Hà Nội là
6,7% diện tích đất đô thị. Các tuyến đường vành đai đều chưa được hoàn chỉnh theo
quy hoạch. Diện tích đất dành cho các bãi đỗ xe thiếu trầm trọng, mới chỉ đạt 1,2%
diện tích đất đô thị (theo quy hoạch là 5%–6%)
Số phương tiện tăng quá nhanh 10%/ năm–15%/ năm. Hàng năm, thành phố
dành nhiều tỷ đồng để xây dựng, mở mang thêm nhiều tuyến phố nhưng vẫn không
tương xứng với nhu cầu đi lại của người dân. Giao thông công cộng mà chủ yếu là xe
buýt chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu đi lại.
Ý thức chấp hành luật giao thông của một bộ phận không nhỏ người dân còn
hạn chế trong khi đó các chế tài xử lý các vi phạm về trật tự giao thông chưa đủ răn
đe, giáo dục. Năng lực tổ chức giao thông, quản lý nhà nước về giao thông còn nhiều
bất cập.
Cấp nước đô thị: Hệ thống ao hồ Hà Nội ô nhiễm nặng, nguồn nước sinh hoạt
ngày càng trở nên thiếu hụt, người dân Hà Nội vẫn phải sống chung với nước “bẩn”
và tình trạng thiếu nước thường xuyên xảy ra. Năm 2009, toàn TP Hà Nội hiện mới
được cấp nước bằng hệ thống cấp nước đô thị đạt 38,5%. Tỷ lệ dân sử dụng nước
máy chiếm 46% chủ yếu tại Hà Nội cũ, Hà Đông và Sơn Tây, tiêu chuẩn 100-120
l/ng.ngđ và 54% dân số sử dụng nước giếng khoan, giếng đào, nước mưa và ao hồ.
Khu vực nông thôn, cấp nước đô thị chiếm 1,4%, còn lại sử dụng nước giếng khoan
hoặc giếng đào.
Cung cấp điện và chiếu sáng đô thị: Trong mấy năm trở lại đây nhu cầu tiêu thụ
điện ở Hà Nội tăng cao, trung bình gần 12%/năm, đặc biệt vào mùa hè (tháng 7-
2006) thành phố tiêu thụ sản lượng cao nhất tới 16,592 triệu kWh/ngày tăng hơn 1,8
lần so với mức tiêu thụ điện cao nhất của năm 2000 là 9,15 triệu kWh. Tiêu thụ điện
khuyết điểm; có bộ phận, lĩnh vực còn trì trệ, kém hiệu quả. Một bộ phận cán bộ,
công chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, trình độ, năng lực hạn chế, né
tránh trách nhiệm, nhất là những việc khó, nổi cộm, bức xúc.
Hiện nay, số cán bộ quản lý đô thị không có chuyên môn về xây dựng còn khá
lớn; hầu hết được thuyên chuyển hoặc tuyển dụng từ cán bộ chuyên môn kỹ thuật và
không được trang bị kỹ năng quản lý nói chung và kỹ năng trong quản lý đô thị nói
riêng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý đô thị cấp phường, thị trấn, thị xã
Hà Nội sau sát nhập, bộ máy quản lý còn cồng kềnh, chồng chéo. Tỷ lệ cán bộ
có trình độ đại học ít và khả năng ứng dụng trong quản lý đô thị còn hạn chế.
SVTH: Đỗ Thị Hương Lớp: KT&QL Đô Thị
14
Đề án môn học GVHD: TS. Nguyễn Hữu Đoàn
Công tác bảo tồn và tôn tạo di sản văn hóa, lịch sử ngày càng được chú trọng và
đầu tư. Hà Nội là nơi tập trung nhiều công trình văn hóa lớn, tiêu biểu trong cả nước
và đặc sắc trong khu vực. Hệ thống di sản vật thể, phi vật thể được bảo tồn, phát triển
và phát huy có hiệu quả.
2. Dự báo xu thế phát triển dân cư đô thị Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn
đến năm 2050
Theo số liệu thống kê đã nêu trong bảng, và dùng phương pháp dự báo dân số
bằng phương pháp thống kê , chúng ta có thể dự báo dân số Hà Nội trong tương lai.
Với tỉ lệ gia tăng trung bình 2,11%/ năm thì dự kiến đến năm 2015, quy mô dân số
Hà Nội sẽ vào khoảng 7,7 triệu người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ổn định ở mức 1,10-
1,15%. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên ở mức 5%. Phấn đấu giảm dần mất cân bằng giới
tính khi sinh. Năm 2020 khoảng 8 triệu người, tỷ lệ dân số đô thị khoảng 54%- 55%.
Năm 2030 khoảng 9,4-9,5 triệu người, trong đó thành thị khoảng 6,4 triệu người,
nông thôn khoảng 3 triệu người, tỉ lệ đô thị hóa 68,8%. Phân bổ dân cư đô thị hạt
nhân khoảng 4,41triệu người, trong đó các quận nội đô cũ phía Nam sông Hồng
khoảng 1,69 triệu người; khu phát triển mới cả phía Bắc và Nam khoảng 2,72 triệu
người; 5 đô thị vệ tinh khoảng 1,77 triệu người; Các đô thị sinh thái và các thị trấn
hiện hữu khoảng 0,26 triệu người.
15/2008/QH12 về việc mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội, gồm Thành phố
Hà Nội cũ với tỉnh Hà Tây cũ, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã Đông Xuân,
Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình. Có thể nói
đây là lần điều chỉnh mở rộng có quy mô lớn nhất, tính chất và ý nghĩa đặc biệt nhất
trong suốt chiều dài 1000 năm hình thành, xây dựng và phát triển của Thăng Long,
Hà Nội. Hà Nội là một trong những thủ đô có quy mô và dân số lớn trên thế giới, mở
ra triển vọng to lớn để thành phố phát triển nhanh, toàn diện và bền vững trong tương
lai. Nhưng bên cạnh những thuận lợi thì thành phố cũng phải đối mặt với nhiều khó
khăn, thử thách không thể xem thường như khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế
toàn cầu…những vấn đề bức xúc của quá trình đô thị hóa nhanh và phải giải quyết
mộ khối lượng công việc khổng lồ sau khi hợp nhất. Đồng thời thành phố cũng phải
vươn lên khắc phục những hạn chế, bất cập trên một số lĩnh vực như: Quản lý quy
hoạch, trật tự xây dựng, giải phóng mặt bằng, quản lý đất đai, môi trường, quản lý
dân cư. Từ những đặc điểm, điều kiện nêu định hướng phát triển đô thị Hà Nội với
mục tiêu từng bước xây dựng hoàn chỉnh chùm đô thị, có cơ sở hạ tầng kinh tế, xã
hội và kĩ thuật hiện đại, môi trường đô thị trong sạch , được phân bổ và phát triển
hợp lý, đảm bảo cho mỗi đô thị vệ tinh, theo vị trí, chức năng của mình phát huy
được đầy đủ các thế mạnh, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ đưa Hà Nội lên xứng
tầm với thủ đô, là đầu tàu của cả nước, lôi kéo các vùng phụ cận cùng phát triển.
SVTH: Đỗ Thị Hương Lớp: KT&QL Đô Thị
16