Tài liệu Đề tài " Phát triển bền vững ngành công nghiệp Việt Nam" - Pdf 86

Mục lục
Mở đầu
Nội dung
I. Những vấn đề chung về phát triển bền vững ngành công
nghiệp
II. Nội dung phát triển bền vững ngành công nghiệp
III. Định hướng và giải pháp phát triển bền vững công nghiệp
Kết luận
Mở đầu
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và là xu thế tất yếu trong tiến
trình phát triển của xã hội loài người, nên nhiều quốc gia trên thế giới đồng
thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển. Ở
Việt Nam, ngày 17/8/2004 Thủ Tướng Chính Phủ đã ký Quyết định số
153/2004/QĐ-TT ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững với
mục tiêu tổng quát là nhằm đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh
thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội,
sự hài lòng giữa con người và tự nhiên; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa
giữ ba mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, với sự hỗ trợ của dự án
VIE/01/021, Bộ Công nghiệp triển khai xây dựng Định hướng chiến lược phát
triển bền vững công nghiệp với mục tiêu “ Định hướng Chiến lược phát triển
bền vững quốc gia” trong ngành công nghiệp. Chương trình này đưa ra những
định hướng lớn mang tính chiến lược và sự ưu tiên để phát triển kinh tế ngành
trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là: phát triển kinh
tế, bảo vệ môi trường và chăm lo quyền lợi của người lao động, góp phần phát
triển xã hội; đồng thời làm định hướng cho các doanh nghiệp trong ngành
công nghiệp xây dựng các chương trình hành động thực hiện phát triển bền
vững và định hướng đến 2020.
Việc phát triển bền vững ngành công nghiệp được thực hiện trong điều
kiện có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Sự ổn định
về chính trị - xã hội, những thành tựu về phát triển kinh tế đất nước, những

từ 6,5% còn 6,1%. Năng lực sản xuất của nhiều ngành, nhiều sản phẩm tăng
lên đáng kể, một số sản phẩm đã cạ nh tranh được trên thị trường trong và
3
ngoài nước, đáp ứng cơ bản nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế và đóng góp lớn
vào xuất khẩu. Một số sản phẩm như điện sản xuất, than sạch, thép cán, xi
măng, giấy đã hoàn thành kế hoạch trước thời hạn. Một số ngành công nghiệp
mới đã được hình thành và phát triển như đóng tầu, chế tạo thi ết bị đồng bộ,
sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy, chế biến đồ gỗ... Tỷ lệ sử dụng nguyên vật liệu,
phụ tùng, thiết bị chế tạo trong nước ngày càng tăng. Quá trình nghiên cứu,
thiết kế sản phẩm mới ngày càng được chú trọng và có xu hướng phát triển.
Đến nay, cả nước có hơn một trăm khu công nghiệp - khu chế xuất, trong đó
nhiều khu hoạt động có hiệu quả. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nông
thôn phát triển, ngành nghề đa dạng, đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng của công nghiệp (6%), thu nhập lao động
nông thôn được cải thiện.
Phát triển công nghiệp tuy đạt tốc độ cao nhưng hiệu quả tăng trưởng chưa
tuơng xứng. Tốc độ hiện đại hoá, đổi mới công nghệ chậm. Công nghiệp hoá,
hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn chưa đ áp ứng yêu cầu. Tăng trưởng khu
vực đầu tư nước ngoài có chiều hướng giảm. Tỷ trọng khu vực công nghiệp tư
nhân còn thấp chưa tương xứng với tiềm năng. Vai trò nhà nước trong chỉ đạo
thực hiện Chiến lược, Quy hoạch, Chính sách chưa hiệu quả, nhiều lúc còn
thiếu nhất quán, để mất cơ hội. Cơ chế, chính sách không đồng bộ, thiếu ổn
định, đặc biệt chưa xây dựng được một cơ chế phát triển doanh nghiệp hữu
hiệu để tạo năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của nhiều ngành và sản
phẩm còn thấp, chưa rõ các sảm phẩm mũi nhọn, trọng điểm. Công nghiệp
phụ trợ chậm phát triển. Tỷ trọng đầu tư cho phát triển công nghiệp còn thấp
so với yêu cầu. Đầu tư cho một ngành công nghiệp cơ bản chưa được tập
trung quyết liệt. Xuất khẩu tăng khá nhưng giá trị gia tăng còn thấp do tỷ lệ sử
dụng nguyên phụ liệu nhập khẩu còn cao. Hoạt động dịch vụ công nghiệp
chưa phát triển. Đặc biệt trong thời kỳ này, VN tham gia các tổ chức quốc tế

5
3. Những thách thức của ngành công nghiệp
VN vẫn còn nhiều vấn đề thuộc quan điểm cơ bản làm cơ sở cho việc
xây dựng chính sách phát triển kinh tế công nghiệp vẫn chưa được làm rõ như
vấn đề sở hữu, vấn đề bóc lột, vấn đề cải cách các doanh nghiệp Nhà nước,
cải cách các thủ tục hành chính cho sự đầu tư, phát triển. Năng lực của bộ
máy quản lý Nhà nước còn nhiều nhược điểm, yếu kém. Chính sách kinh tế,
biện pháp quản lý không đồng bộ, hay thay đổi, thiếu nhất quán. Chưa tạo
được môi trường kinh doanh thuận lợi trong đầu tư trong nước và quốc tế.
Công cuộc cải cách hành chính nhà nước vẫn chưa được khai thông, nhiều thủ
tục phiền hà. Mặc dù công nghiệp trong những năm gần đấy có tốc độ tăng
trưởng khá song chưa có được những yếu tố cần thiết để đảm bảo cho sự tăng
trưởng bền vững. Đầu tư trong nước cho sản xuất công nghiệp vẫn còn thấp,
cơ cấu công nghiệp chậm thay đổi nên chưa phát huy được tiềm năng lao
động và tài nguyên thiên nhiên để đạt được hiệu quả kinh tế cao.
Khoảng cách tụt hậu của công nghiệp VN so với các nước còn khá lớn
dẫn đến sản phẩm CN khó cạnh tranh được với sản phẩm của các nước nhất là
sản phẩm của các nước phát triển. Hiện nay sức cạnh tranh trên thương trường
của chúng ta không đủ lớn, trong lúc hội nhập kinh tế quốc tế càng được mở
rộng, và tham gia nhiều tổ chức, hiệp hội thế giới.
Khoa học và tri thức quản lý kinh tế ngày càng phong phú, hiện đại.
Song trình độ của các nhà sản xuất – kinh doanh VN vẫn còn non yếu. Do vậy
làm hạn chế yêu cầu phát triển của công nghiệp và hội nhập kinh tế
Thị trường vốn, tiêu thụ sản phẩm trên thế giới đang trong giai đoạn
khan hiếm, muốn nhận được đầu tư của nước ngoài, VN phải tạo môi trường
hấp dẫn, công nghiệp phải vươn lên để cạnh tranh với các nước; khai thác,
quản lý và sử dụng vốn một cách hiệu quả hơn nữa nhằm tạo được uy tín để
làm ăn lâu dài với các nước.
6
II.Nội dung phát triển bền vững ngành công nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status