ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ VĂN QUANG
CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THỊ TRƯỜNG MỞ
ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH
VIỄN THÔNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Hà Nội, 2010
2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 7
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1. Lý do nghiên cứu 8
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
3. Mục tiêu nghiên cứu 10
4. Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu: 10
6. Vấn đề nghiên cứu 10
7. Giả thuyết nghiên cứu 11
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 11
9. Cấu trúc của luận văn 11
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 15
1.1. Công nghệ 15
1.1.1. Khái niệm 15
1.1.2. Năng lực công nghệ của doanh nghiệp 15
1.1.3. Năng lực công nghệ và đổi mới công nghệ của
doanh nghiệp trong ngành Viễn Thông. 16
1.2. Chính sách sách công nghệ 19
1.2.1. Khái niệm chính sách công nghệ 19
1.2.2. Chính sách công nghệ thị trường mở 21
4
2.3.2. Chính sách dổi mới tổ chức, tăng cường và nâng
cao hiệu lực bộ máy quản lý nhà nước, hiệu lực các công
cụ và chính sách quản lý vĩ mô 49
2.3.3. Chính sách đổi mới tổ chức quản lý sản xuất kinh
doanh và hoạt động của các doanh nghiệp 50
2.3.4. Chính sách huy động và sử dụng hiệu quả các
nguồn vốn 50
2.3.5. Chính sách đẩy mạnh hợp tác quốc tế phục vụ phát
triển 51
2.3.6. Chính sách tăng cường xây dựng đội ngũ 52
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH
CÔNG NGHỆ THỊ TRƢỜNG MỞ ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NGÀNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM 53
3.1. Phát triển công nghệ cao - kinh nghiệm xây dựng chính sách
thị trƣờng mở của một số nƣớc 53
3.2.1. Tập trung vào hệ thống Nghiên cứu và Phát triển
R&D (Research - Development) 53
3.2.2. Hoạch định chiến lược và dự báo 54
3.2.3. Khuyến khích đầu tư từ các công ty tư nhân 55
3.2. Bối cảnh và các ƣu tiên phát triển của ngành Viễn thông 56
3.1.1. Thị trường dịch vụ giá trị gia tăng 57
3.1.2. Thị trường Internet 58
3.1.3. Thị trường an ninh an toàn thông tin 59
3.1.4. Thị trường Phần mềm 61
3.3. Các giải pháp phát triển chính sách công nghệ thị trƣờng mở
để phát triển bền vững ngành viễn thông Việt Nam 62
KH & CN: Khoa học và Công nghệ
R&D: Nghiên cứu và triển khai
LHQ: Liên hợp Quốc
TT&TT: Thông Tin và Truyền Thông
ITU: Liên minh Viễn Thông Quốc tế
XHCN: Chủ nghĩa Xã hội
CNH-HĐH: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
TCTy: Tổng Công ty
BCVT: Bƣu chính Viễn thông
VNPT: Tập đoàn Bƣu chính Viễn thông Việt Nam
WTO: Tổ chức Thƣơng mại thế giới
BCVT-CNTT: Bƣu chính Viễn thông - Công nghệ Thông tin
AFTA: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
APEC: Tổ chức Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dƣơng
ADSL: Công nghệ kỹ thuật số truyền thông băng rộng không đối xứng
7
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Mức độ Công nghệ phù hợp với những bƣớc tiến về lƣợng
Trang 22
Bảng 1.2: Phân biệt chính sách khoa học và chính sách Công nghệ
Trang 28
Bảng 2.1: Dự báo số thuê bao di động năm 2012 Trang 42
Bảng 2.2: Tổng đầu tƣ cho mạng 3G trong 15 năm từ 2009-2023 Trang 43
Bảng 3.1: Biểu đồ phát triển Internet (giai đoạn 2003-2010)……. Trang 58
9
Từ những lý do trên tôi chọn đề tài : “Chính sách công nghệ thị
trường mở để phát triển bền vững ngành Viễn thông Việt Nam”. Đây là một
đề tài tƣơng đối rộng, với sự hiểu biết và năng lực có hạn nên tôi xin đƣợc đi
sâu nghiên cứu một số trƣờng hợp cụ thể. Đây là một đề tài vừa có ý nghĩa lý
luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn, và hy vọng sẽ có đƣợc những đóng góp thiết
thực cho việc định hƣớng phát triển bền vững ngành Viễn thông Việt Nam
trong giai đoạn phát triển hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với nƣớc ta, về phát triển công nghệ, các nghiên cứu và theo đó là
các chính sách trong thời gian qua mới chỉ đƣợc tập trung vào những vấn đề
liên quan tới chuyển giao công nghệ (từ 1988) và đánh giá trình độ công nghệ
(trong những năm gần đây). Việc nghiên cứu về chính sách công nghệ, và
theo đó là các chính sách hỗ trợ quá trình xây dựng và thực thi các chính sách
hỗ trợ đổi mới và phát triển công nghệ đối với các ngành và các doanh nghiệp
tuy cũng đã đƣợc tiến hành (ở một số ngành, một số cấp), nhƣng nhìn chung,
chƣa có đƣợc sự quan tâm và tổ chức thực hiện một cách hệ thống và hiệu
quả.
Theo dự kiến, chƣơng trình công tác trọng tâm hiện nay của bộ Bƣu
chính Viễn thông là tập trung cho việc tạo cơ sở pháp lý, hoàn thiện các văn
bản pháp luật nhằm tăng cƣờng sự quản lý của Nhà nƣớc và tạo điều kiện cho
doanh nghiệp trong ngành phát triển theo đà hội nhập quốc tế của đất nƣớc.
Cụ thể, ngành này sẽ tập trung hoàn thiện việc xây dựng các chính sách, chiến
lƣợc, quy hoạch, kế hoạch giai đoạn 5 năm 2006 - 2010, bao gồm quy hoạch
phát triển công nghệ thông tin - truyền thông các vùng kinh tế trọng điểm
miền Bắc, Trung và Nam; quy hoạch phát triển công nghệ thông tin - truyền
thông, quy hoạch nguồn nhân lực công nghệ thông tin; quy hoạch truyền dẫn
phát sóng, phát thanh truyền hình
Đối với nƣớc ta từ trƣớc đến nay chƣa có công trình khoa học chính
11
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Chính sách công nghệ của ngành Viễn thông Việt Nam đã đạt đƣợc
những thành tựu quan trọng đƣa ngành Viễn thông phát triển đi trƣớc một
bƣớc, nhƣng vẫn chƣa đáp ứng đầy đủ những yêu cầu mới hiện nay.
- Để tiếp tục phát triển bền vững trong điều kiện hiện nay và trong
những thập niên tiếp theo, ngành Viễn thông Việt Nam cần phải hoàn thiện và
thực hiện tốt hơn nữa những giải pháp kỹ thuật, giải pháp về nhân lực, về cơ
sở hạ tầng, tài chính, về quản lý chất lƣợng, đầu tƣ và hợp tác quốc tế…
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu đƣợc thực hiện trong khuôn khổ của
Luận văn bao gồm:
- Phương pháp phân tích hệ thống: Trong đó xem xét Chính sách công
nghệ nhƣ một chính sách/bộ phận thành phần trong hệ thống chính sách phát
triển của ngành viễn thông Việt Nam cũng nhƣ với môi trƣờng kinh tế và xã
hội.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Là phƣơng pháp chủ yếu đƣợc sử
dụng trong quá trình tìm kiếm các cơ sở lý luận và nhận dạng những diễn biến
của xu thế phát triển, những yêu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu của ngành
viễn thông Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc
theo quan điểm phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, dựa trên việc tổng kết những bài
học kinh nghiệm của các doanh nghiệp viễn thông ở trong và ngoài nƣớc.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham
khảo, kết quả nghiên cứu của Luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận
13
- Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm
tài nguyên Viễn thông.
- Chính sách đổi mới tổ chức, tăng cƣờng và nâng cao hiệu lực bộ
máy quản lý nhà nƣớc, hiệu lực các công cụ và chính sách quản lý vĩ mô.
- Chính sách tăng cƣờng xây dựng đội ngũ, huy động các nguồn
lực trong nƣớc, thu hút nguồn lực nƣớc ngoài
- Chính sách đẩy mạnh hợp tác quốc tế phục vụ phát triển.
- Chính sách đổi mới tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và hoạt
động của các doanh nghiệp Viễn Thông.
5 - Chỉ rõ mặt ƣu điểm và nhƣợc điểm, các nguyên nhân để từ đó có
cơ sở đề ra các giải pháp chính sách công nghệ thị trƣờng mở để định hƣớng
mục tiêu phát triển bền vững ngành Viễn Thông Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp phát triển chính sách công nghệ thị
trƣờng mở để phát triển bền vững ngành Viễn thông Việt Nam
Thông qua các lý luận đã nêu ở chƣơng 1 và thực trạng trình bày ở
chƣơng 2 để đƣa ra các giải pháp hoàn thiện hơn nữa chính sách công nghệ
thị trƣờng mở để phát triển bền vững ngành Viễn Thông Việt Nam.
- Các giải pháp chính sách về huy động nguồn vốn:
- Giải pháp chính sách phát triển cơ sở hạ tầng phải gắn liền với việc
sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên viễn thông.
- Giải pháp chính sách phát triển hệ thống dịch vụ giá trị gia tăng:
- Giải pháp chính sách về tính cƣớc và chăm sóc khách hàng:
- Giải pháp chính sách về quản lý chất lƣợng và nâng cao nâng lực:
- Giải pháp chính sách về phát triển nguồn nhân lực
- Giải pháp chính sách Phát triển phải gắn liền với việc giảm khoảng
cách số, giảm sự khác biệt giữa các vùng miền trên tổ quốc, đảm bảo sự phát
15
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Công nghệ
1.1.1. Khái niệm
Công nghệ là một khái niệm phức tạp với nhiều cách hiểu và định
nghĩa khác nhau. Do vậy, ngƣời ta có thể đƣa ra nhiều cách giải thích khác
nhau tùy thuộc vào lĩnh vực, bối cảnh sử dụng.
Công nghệ (có nguồn gốc từ technologia, hay τεχνολογια, trong tiếng
Hy Lạp; techne có nghĩa là thủ công và logia có nghĩa là châm ngôn là một
thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mƣu mẹo của con ngƣời. Tuỳ vào
từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể đƣợc hiểu:
• Công cụ hoặc máy móc giúp con ngƣời giải quyết các vấn đề;
• Các kỹ thuật bao gồm các phƣơng pháp, vật liệu, công cụ và các tiến
trình để giải quyết một vấn đề;
• Các sản phẩm đƣợc tạo ra phải hàng loạt và giống nhau.
Theo đó, công nghệ là việc kết hợp sử dụng máy móc thiết bị với kiến
thức khoa học, các kỹ năng để sản xuất ra một sản phẩm hay một dịch vụ.
Và theo Luật KH&CN Việt Nam (2006) - Công nghệ là giải pháp, quy
trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để
biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
1.1.2. Năng lực công nghệ của doanh nghiệp
Năng lực của một doanh nghiệp là rất quan trọng trong việc cung cấp
và duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp cũng nhƣ việc thực hiện chiến
lƣợc của doanh nghiệp. Để doanh nghiệp có một lợi thế cạnh tranh của riêng
mình thì doanh nghiệp phải sở hữu một nguồn lực nhất định và xem nó nhƣ
một tài sản của doanh nghiệp. Nguồn tài sản này phải là: (1) có giá trị; (2)
hiếm; (3) khó bắt chƣớc và (4) khó thay thế.
17
cạnh tranh không lành mạnh, vị thế của các quy định cơ bản và các vấn đề
chính sách kinh tế vĩ mô công nghiệp và công nghệ khác.
Các yếu tố cơ cấu khác có ảnh hƣởng đến gồm: cơ sở hạ tầng vật chất
(viễn thông, cảng, đƣờng sá ), thể chế, con ngƣời và quốc gia, là một bộ
phận nằm trong các điều kiện để phát triển những khu vực xí nghiệp và ngƣời
tiêu dùng yêu cầu chất lƣợng cao.
Rõ ràng là chính sách thuế khoá và kinh doanh tiền tệ, chính sách công
nghiệp truyền thống, các cấp đào tạo giáo dục quốc gia, các giá trị và chuẩn
mực xã hội và sinh thái tạo nên những ƣu thế hoặc những bất lợi nhất định
cho việc cạnh tranh về “cơ cấu” đối với các doanh nghiệp của một nƣớc hoặc
một lĩnh vực. Nhƣng khó mà thuyết phục đƣợc một công ty để họ thấy sở dĩ
họ yếu kém một cách có hệ thống là vì các khía cạnh môi trƣờng thể chế của
họ. Khi bị quy trách nhiệm là chính vì những yếu tố thể chế này đã khiến cho
họ không có đƣợc khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp thƣờng không tự
nhìn nhận lại mình và tránh né nhu cầu đấu tranh chống lại sự chây ì, thoả
hiệp, thiển cận, tự mãn và tự đề cao, đây mới đích thực là những kẻ thù thực
sự nếu đem so sánh với những việc làm gọi là “thiếu lành mạnh” của những
đối thủ cạnh tranh. Khả năng cạnh tranh không chỉ là vấn đề chiến lƣợc của
doanh nghiệp, nó còn là chính sách kinh tế vĩ mô hoặc cơ sở hạ tầng của quốc
gia. Hầu hết các quan hệ nhân quả dẫn đến sự phá sản một doanh nghiệp
trong tƣơng lai là do sự thiếu sáng suốt của các cấp quản lý cao nhất trong hệ
thống.
Ngoài ra, ở hầu hết các ngành kinh doanh, các hãng đơn lẻ không thể tự
mình tồn tại. Để tiếp cận đến các thị trƣờng thế giới, giảm chi phí đổi mới
công nghệ, chuẩn hoá các công nghệ và sản phẩm mới, giải quyết các khó
khăn chung liên quan đến cơ sở hạ tầng, môi trƣờng và các yếu tố khác, các
lý một cách hiệu quả các năng lực cạnh tranh cốt yếu này và quá trình đổi
mới kế tiếp đƣợc gọi là quản lý đổi mới công nghệ (technology innovation
management, TM). Bản thân nó cũng là một năng lực cốt yếu quan trọng.
Qua quản lý đổi mới công nghệ, công ty và các đơn vị liên kết của nó có
thể kết hợp và điều chỉnh một cách hợp lý quan hệ giữa đổi mới công nghệ
19
và các loại đổi mới khác (liên quan đến các khía cạnh về cơ cấu tổ chức, hệ
thống, chiến lƣợc, tài chính và quản lý), nhằm có những cải cách cần thiết
cho công ty để đạt đƣợc khả năng cạnh tranh bền vững.
(b) Cạnh tranh kinh doanh mới
Việc nghiên cứu thấu đáo hoàn cảnh kinh doanh, dự đoán tiến triển
của nó và phát triển tiếp theo, đồng thời thiết lập đƣợc một vị trí tiên tiến,
đặc quyền và vững chắc trong dây chuyền thiết kế - sản xuất - thƣơng mại
hoá tƣơng ứng, ngày nay đƣợc coi là cấp độ cạnh tranh quan trọng nhất,
giúp cho ngƣời thắng cuộc có đƣợc một khả năng kinh doanh mà không đối
thủ nào có thể cạnh tranh đƣợc.
Ví dụ, những việc kinh doanh mới đang đƣợc tạo nên trong bất cứ một
ngành công nghiệp nào khi thấy ở đó có thể tạo ra thị trƣờng mới dựa vào
thông tin nhận đƣợc từ sự lƣu thông vật chất hàng hoá, giá trị thông tin đặc
thù của “bao bì”. Do vậy, gắn kết đổi mới công nghệ với nhận biết nhãn hiệu
đang trở thành một vấn đề mấu chốt. (Nhận biết nhãn hiệu (branding) là một
phƣơng pháp mà ngƣời cung cấp giúp cho ngƣời tiêu dùng nhận biết đúng
nhãn hiệu hàng hoá của mình nhằm tạo nên sự tin tƣởng của khách hàng - Từ
điển Kinh tế - Kinh doanh).
Khả năng quan trọng để phát hiện ra những đột biến của thị trƣờng và
công nghệ và tác động đến cá cơ hội kinh doanh mới do chúng tạo ra thông
qua những năng lực cốt yếu của hãng, bao gồm cả quản lý đổi mới công nghệ
trƣờng nhạy cảm về tính năng và thông thạo trong việc đƣa nhanh ra những
sản phẩm và quy trình mới.
21
Bảng 1.1: Mức độ công nghệ phù hợp với những bƣớc tiến về chiến
lƣợc
Năng lực công
nghệ
Chiến lƣợc tăng dần
Chiến lược
tăng cường
Chiến lược
khai thác
Chiến lược
bám sát
Chiến lược
dẫn đầu
Năng lực vận hành
L-M
M-H
H-S
S
Năng lực giao dịch
L
M
H-S
S
Năng lực đổi mới
Thị trường là tập hợp người mua. Ta thƣờng nghe những câu kiểu nhƣ
“sản phẩm này liệu có thị trường hay không?”, nghĩa là liệu có ngƣời mua nó
hay không, hay “ thị trường Việt Nam với 70 triệu dân”, hàm ý số lƣợng
ngƣời mua tiềm năng. Theo nghĩa này thì phát triển thị trƣờng công nghệ tức
là làm cho nhu cầu đối với công nghệ tăng lên, số ngƣời mua nhiều hơn,
lƣợng mua lớn hơn. Một ai đó có hàng (công nghệ) muốn bán, và tìm đƣợc
ngƣời mua (một hoặc nhiều) thì coi nhƣ đã tìm đƣợc thị trƣờng cho sản phẩm
(công nghệ) của mình.
Thị trường là một cơ chế phân bổ nguồn lực, qui định sản xuất và
phân phối sản phẩm, dịch vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh. Đây là
cách hiểu thị trƣờng mà các nhà kinh tế tân cổ điển thƣờng nói tới và theo
nghĩa này thị trƣờng đƣợc coi là cơ chế đối ngƣợc với cơ chế điều tiết bằng
mệnh lệnh, hay kế hoạch hóa tập trung. Lý thuyết kinh tế tân cổ điển chứng
minh rằng nếu các điều kiện cho cạnh tranh hoàn hảo đƣợc thỏa mãn, từng thị
trƣờng riêng lẻ sẽ đạt trạng thái cân bằng Pareto, tức trạng thái tối ƣu về kinh
tế. Một khi các thị trƣờng riêng lẻ đạt đƣợc cân bằng Pareto thì nền kinh tế
cũng sẽ đạt tới trạng thái cân bằng Pareto. Trong trƣờng hợp các điều kiện
cho cạnh tranh hoàn hảo bị vi phạm thì tùy theo việc điều khiển nào bị vi
phạm sẽ có những biến thể khác nhau của thị trƣờng. Sự vi phạm các điều
kiện cạnh tranh hoàn hảo thƣờng gây tổn thƣơng tới những thuộc tính tốt đẹp
của thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo. Khái niệm thị trƣờng theo nghĩa này có
thể đƣợc coi là đồng nghĩa với thuật ngữ cơ chế thị trƣờng.
Thị trường là một thể chế kinh tế (economic institution) để thực hiện
các giao dịch kinh tế. Đây là cách tiếp cận của kinh tế học về chi phí giao
dịch (transactions cost economics), hay đôi khi còn gọi là kinh tế học thể chế
mới (new institutional economics), theo đó thị trƣờng và doanh nghiệp (firm)
đƣợc coi là các thể chế thay thế nhau để thực hiện các giao dịch. Một giao
24
khung pháp lý cho thƣơng mại enforcible đảm bảo an ninh tài sản, việc thực
hiện các nghĩa vụ hợp đồng liên kết với các giao dịch, và ngãn ngừa gian lận .
Khái niệm về một thị trƣờng mở trong cảm giác chung là đôi khi chỉ
trích trên mặt đất có sự tham gia trong đó có điều kiện trên có thu nhập đủ,
tiền bạc hoặc tài sản. Thiếu đủ tiền, thu nhập, tài sản, ngƣời dân có thể đƣợc
loại trừ có hiệu quả từ sự tham gia. Nhƣ vậy, trong khi ngƣời có thể có đủ
tiền để tham gia vào một số thị trƣờng, quỹ của họ là không đủ để tham gia
vào các thị trƣờng khác. Ðiều này đặt ra câu hỏi liệu thị trƣờng là bao giờ
thực sự "mở", và cho rằng "tính mở" của thị trƣờng là một khái niệm tƣơng
đối.
Trong phản ứng của loại phê bình, khái niệm thị trƣờng mở thƣờng
định nghĩa lại để có nghĩa là một tình hình cạnh tranh tự do, và không có khả
nãng tham gia đƣợc giải thích là sự thiếu khả năng cạnh tranh. Theo quan
điểm này, nếu ngƣời bị cạnh tranh hơn, họ sẽ có thể tham gia, và do đó thiếu
kinh phí là do không muốn của họ để cạnh tranh về tài nguyên. Theo quan
điểm này, thiếu sự tham gia trong một thị trƣờng mở hoặc là một sở thích chủ
quan hoặc khuyết tật là một cá nhân.
Tại Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế từ tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ
nghĩa, các thể chế kinh tế ở Việt Nam đã có những biến đổi quan trọng. Hàng
loạt cải cách đã đƣợc thực hiện nhằm xây dựng một môi trƣờng thể chế giúp
thị trƣờng có thể vận hành một cách bình thƣờng. Tuy chƣa phải là hoàn hảo
nhƣng vận hành của thị trƣờng với cơ chế một giá đối với phần lớn hàng hóa
đã mang lại sự ổn định tƣơng đối về giá cả và cung cầu hàng hóa trong những
năm qua.
Thị trƣờng tín dụng, thị trƣờng chứng khoán, thị trƣờng ngoại hối, thị
trƣờng bất động sản từ chỗ không tồn tại, hoặc chỉ tồn tại không chính thức,