PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ
KỶ XX
Thế kỷ XVII - XVIII, Châu Âu đã đi vào chủ nghĩa tư bản, nhưng Châu Á vẫn đang trong
chế độ phong kiến. Xã hội Việt Nam cũng vậy, chế độ phong kiến vẫn đè nặng lên con
người; nền nông nghiệp lạc hậu, kinh tế tự cung, tự cấp, bộ máy vương triều Nguyễn ngày
càng mục nát lún sâu vào con đường khủng hoảng trầm trọng, không còn đại diện cho lợi
ích của dân tộc như các triều đại Lý, Trần, Lê,… trước đây..
Trước tình hình đó, năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nhà Nguyễn lún dần từng
bước, rồi đầu hàng thực dân Pháp. Sau khi hoàn thành chiến tranh xâm lược và bình định,
thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa và dần dần làm chuyển hoá xã hội nước ta, từ
xã hội phong kiến thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Dưới thời thuộc Pháp, cơ cấu xã
hội - giai cấp ở Việt Nam có nhiều thay đổi, xuất hiện thêm nhiều lực lượng mới, đặt nền
móng cho sự tiếp nhận giá trị đích thực của các nền văn minh và các bài học kinh nghiệm
của thế giới. Do vậy, tính chất và nội dung các cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam chống
thực dân Pháp và tay sai đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của các trào lưu tư tưởng tiến bộ, đặc
biệt là sự sôi động của phong trào cách mạng thế giới sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga
thắng lợi.
I. Những điều kiện lịch sử tác động tới sự chuyển biến phong trào giải phóng dân tộc
Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX.
1. Điều kiện kinh tế - Văn hoá xã hội
Từ Hiệp ước đầu hàng mà nhà Nguyễn ký với Pháp vào những năm 1883-1884, sự chấm
dứt của phong trào Cần Vương đến cuộc hoà hoãn của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám, thực
dân Pháp tự coi như đã căn bản hoàn thành việc xâm lược và bình định nước ta. Chúng bắt
đầu thực hiện công cuộc khai thác thực dân, tiến hành vơ vét lợi nhuận ở Đông Dương trên
quy mô ngày càng lớn.
a. Chính sách kinh tế của thực dân Pháp
- Việt Nam là nước giàu tài nguyên, nhân công sẵn, nhưng phương tiện sản xuất rất lạc
hậu. Vì vậy, để bóc lột được lợi nhuận tối đa ở thuộc địa, Pháp thi hành một chính sách
kinh tế thực dân rất phản động, đó là: Duy trì phương thức sản xuất phong kiến kết hợp với
việc thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Để khai thác được nhiều tài nguyên, Pháp đã đẩy mạnh đầu tư vào Đông Dương với tổng
kiểm soát tình hình, năm 1874 Pháp ra nghị định ban hành quy chế giáo dục, hạn chế mở
trường tư, bãi bỏ dạy chữ quốc ngữ ở làng, chỉ tập trung dạy ở 6 trường Sài Gòn, Chợ Lớn,
Mỹ Tho.
Để tuyên truyền cho chính sách thực dân, một số tờ báo bản xứ đã được xuất bản ở Sài
Gòn và Hà Nội như Nam Trung Nhật Báo, Lục Tỉnh Tân Văn, Đại Việt tân báo, Đại Việt
công báo, Nông Cổ mín Đàn,… nói chung mọi cố gắng về văn hoá giáo dục thời kỳ này là
hướng tới việc thiết lập một nền giáo dục Tây phương nhằm đào tạo một lực lượng công
chức, nhân viên cần thiết cho guồng máy chính trị và khai thác thực dân.
2. Cơ cấu xã hội mới và thái độ của các giai cấp trước vấn đề dân tộc.
Hậu quả của cuộc khai thác thuộc địa cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đã làm cho xã hội Việt
Nam bắt đầu có sự phân hoá về giai cấp. Giai cấp địa chủ được thực dân Pháp nâng đỡ nên
thế lực kinh tế và chính trị của giai cấp đã tăng lên. Ngoài địa chủ Pháp, địa chủ nhà thờ,
địa chủ quan lại, địa chủ thường, còn xuất hiện thêm các địa chủ kiêm công thương. Địa
chủ Việt Nam phát triển hơn trước trở thành chỗ dựa đắc lực cho thực dân Pháp trong công
cuộc khai thác thuộc địa và duy trì trật tự xã hội
Giai cấp nông dân là giai cấp cũ chiếm tới 90% dân số, đại bộ phận là mù chữ, họ bị bóc
lột hết sức tàn tệ cho nên khối căm phẫn trong họ không ngừng phát triển.
Giai cấp công nhân là giai cấp mới được hình thành trong lòng chế độ tư bản chủ nghĩa.
Những công trường, xí nghiệp mọc lên thu hút đông đảo số lượng công nhân, năm 1909,
tổng số công nhân toàn quốc lên đến 550.000 người. Làm việc trong guồng máy tư bản chủ
nghĩa, kỹ thuật hiện đại, có tinh thần đấu tranh chống kẻ thù chung... Công nhân Việt Nam
đã có các điều kiện cần và đủ để hình thành giai cấp. Tuy vậy, thời kỳ này công nhân nước
ta đang còn ở giai đoạn tự phát.
Ngoài ra, đầu thế kỷ 20 còn xuất hiện tầng lớp tư sản và tiểu tư sản thành thị. Vì bị thực
dân Pháp chèn ép nặng nề, tư sản Việt Nam phát triển chậm chạp về mọi mặt chưa đủ điều
kiện để hình thành một giai cấp. Tuy vậy, sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa nói
chung và sự lớn lên của tầng lớp tư sản dân tộc nói riêng đã trở thành cơ sở thuận lợi cho
sự tiếp thu các trào lưu tư tưởng cách mạng từ bên ngoài dội vào.
3. Ảnh hưởng tích cực của cách mạng thế giới tới phong trào giải phóng dân tộc
Thế kỷ 19, sự phát triển vượt bậc về kinh tế, kỹ thuật đã giúp cho tư sản Pháp trong nước
được lĩnh hội theo con đường Tây Âu, theo bước chân của Nguyễn Ái Quốc. Từ cuộc sống
thực tế, thông qua việc hoạt động trong các tổ chức xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã đọc
sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc đia của Lênin, từ đó
hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế cộng sản.
Sau khi Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ra đời chủ nghĩa Mác - Lênin đã ảnh hưởng
sâu rộng đến phong trào yêu nước, làm thay đổi nhận thức trong giới tiểu tư sản, trí thức,
học sinh và chính họ đã chuyển tải tư tưởng đó vào phong trào công nhân làm cho phong
trào đấu tranh của họ từ tự phát sang tự giác. Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hệ tư tưởng
cách mạng duy nhất lãnh đạo toàn bộ phong trào công nhân. Chủ nghĩa Mác - Lênin còn là
tư tưởng chỉ đạo phong trào yêu nước từ năm 1921đến 1930, nhất là năm 1925 trở đi, chủ
nghĩa Mác - Lênin từ chỗ là hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn đã đi tới chỗ là hệ tư tưởng lãnh
đạo phong trào yêu nước.
II. Diễn biến của phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam
trong những năm đầu thế kỷ 20
Độc lập dân tộc và canh tân đất nước luôn là khát vọng của người Việt Nam. Mục đích, lý
tưởng ấy đã thôi thúc các thế hệ Việt Nam chiến đấu quên mình, vượt qua mọi thử thách để
vươn lên tìm con đường cứu nước đúng đắn. Sự chuyển biến của phong trào cách mạng
giải phóng dân tộc trong những năm đầu của thế kỷ 20 phản ánh nhịp độ phát triển nhanh
chóng về chính trị của các tổ chức cách mạng, cũng như của các hình thái biểu hiện.
1. Con đường cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam (1914 -1925)
Tuy cùng trong một điều kiện lịch sử, nhưng trong vịêc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc
đầu thế kỷ 20 lại xuất hiện hai xu hướng tiêu biểu khác nhau: Xu hướng cải lương của
Phan Chu Trinh và xu hướng vũ trang bạo động của Phan Bội Châu. Phan Bội Châu và các
đồng chí của ông đã đưa ra nhiều lý do để chứng minh rằng muốn rửa nhục mất nước thì
chỉ có con đường chuẩn bị lực lượng, cầm vũ khí đánh đuổi bọn thực dân Pháp xâm lược.
Bất chấp các thất bại liên tiếp, Phan Bội Châu và các sĩ phu vẫn tin vào tưởng lai của dân
tộc Việt nam, vào thắng lợi cuối cùng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Do vậy,
việc làm đầu tiên là phải rèn đúc ý chí. Phan Bội Châu và các cộng sự đã cùng thống nhất
vạch ra kế hoạch lớn với mục tiêu là: Đánh giặc phục thù, cốt sao khôi phục được nước
Việt Nam, lập ra một Chính phủ độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì khác. Tư tưởng này
Tháng 7/1904, Phan Chu Trinh gặp Phan Bội Châu, nhưng khác với số đông sĩ phu đương
thời, ông cho rằng: trước mắt chưa nên đặt vấn đề khôi phục chủ quyền quốc gia; đặc biệt
càng không nên chủ trương bạo động (bạo động tắc tử) mà nên tập trung vào 3 nhiệm vụ
đó là: Chấn dân khí; Khai dân trí; Hậu dân sinh. Chủ trương đó trước hết được các sĩ phu
hưởng ứng như Huỳnh thúc Kháng, Trần Quý Cáp.
Đầu thế kỷ 20, Pháp đã tăng cường đầu tư vào Đông Dương. Phan Chu Trinh không hiểu
được rằng những kết quả đầu tiên ấy (như báo cáo của P.Đume gửi về Pháp ngày
22/2/1902) đang "làm rạng rỡ văn minh nước Pháp, lại còn tán dương những việc làm của
bọn thực dân. Phan Chu Trinh đã chân thành dốc hết tâm sức vào con đường cải lương cứu
nước và đã góp phần quan trọng vào phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20 ở nước ta. Nhưng
ông không hiểu được rằng những tư tưởng tiến bộ trong cuộc Đại Cách mạng tư sản Pháp
cuối thế kỷ 18 đã bị chính con cháu của cuộc Đại Cách mạng đó bỏ rơi. Tư tưởng nhân