Bài kiểm tra môn Marketing
Đề bài: Vì sao trong hoạt động kinh doanh cần
thiết phải nghiên cứu môi trường marketing? Lấy
ví dụ cụ thể của sự ảnh hưởng tới mỗi môi trường
Marketing vĩ mô khi Việt Nam gia nhập WTO.
Bài làm
Ι. Sự cần thiết phải nghiên cứu môi trường
marketing trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Bất cứ một doanh nghiệp nào đều tham gia
trong một môi trường và đều phụ thộc vào nó.
Trong môi trường ấy có những điều kiện thuận
lợi đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và cũng không hiếm những nguy cơ,
thách thức. Vì vậy nghiên cứu môi trường kinh
doanh nghiệp nhận thức được đâu là cơ hội, là
điều kiện thuận lợi, đâu là thách đố, là nguy cơ,
thuận lợi là chủ yếu hay nguy cơ là chủ yếu…Từ
đó quyết định các vấn đề có liên quan đến hoạt
động kinh doanh của mình.
Môi trường marketing bao gồm môi trường
Marketing vĩ mô và môi trường Marketing vi mô.
-Môi trường marketing vĩ mô bao gồm các yếu
tố, các lực lượng mang tinh chất xã hội rộng lớn,
chúng có ảnh hưởng đến toàn bộ môi trường
marketing vi mô, tất cả các yếu tố của môi trường
này người làm marketing không thể kiểm soát
được. Vì vậy, họ phải nghiên cứu thật kĩ để tìm
cách thích nghi. Trong đó:
+ Nghiên cứu về dân số giúp doanh nghiệp nắm
bắt được thị trường của mình, cung ứng những
II. Tác động của việc VN gia nhập WTO tới
mỗi môi trường marketing vĩ mô.
1. Môi trường dân số
2. môi trường kinh tế
Phần lớn các chuyên gia kinh tế của chúng ta đều
cho rằng những vận hội và thách thức này đan
xen nhau, trong vận hội có thách thức, trong
thách thức có vận hội. Trong vận hội có thách
thức ở chỗ, dù có vận hội to lớn, nhưng nếu ta
không có khả năng nhận biết nó, có gan giành lấy
nó, có sức nắm bắt, khai thác nó, thì nó sẽ trôi đi
hoặc người khác sẽ giành lấy mất.
Những vận hội và thách thức nào đang chờ đón
chúng ta khi gia nhập WTO?
Về vận hội, đây là thời cơ mới để chúng ta thúc
đẩy việc mở rộng quan hệ thương mại và hợp tác
kinh tế với các nước khác, tạo vị thế vững chắc
hơn trong tham gia phân công lao động quốc tế,
đồng thời đẩy mạnh công cuộc đổi mới và phát
triển kinh tế ở trong nước, tạo năng lực cạnh
tranh mạnh hơn, đưa nền kinh tế đất nước lên
trình độ phát triển cao hơn. Hai mặt này gắn bó
với nhau, hỗ trợ cho nhau, có thể cùng nhau tạo
một bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của
nước ta.
Về mở rộng quan hệ thương mại và hợp tác kinh
tế với các nước, những cơ hội cụ thể của chúng ta
là:
- Tận dụng việc các nước mở cửa thị trường cho
hàng hoá và dịch vụ của nước ta, dành cho ta quy
khác về mở cửa thị trường cho VN, triển vọng
phát triển xuất nhập khẩu và mở rộng thị trường
nội địa ở VN cũng tạo nên rất nhiều cơ hội mới
cho họ để có thể đầu tư, khai thác thị trường VN
về nhiều mặt. Thu hút thêm đầu tư nước ngoài,
chúng ta không những có thêm các nguồn vốn,
công nghệ, kỹ năng quản lý tốt hơn, mà còn khai
thác hiệu quả hơn những nguồn lực và lợi thế sẵn
có trong nước, tăng cường hơn quan hệ hợp tác
nhiều mặt với các thị trường bên ngoài.
- Tăng khả năng tham gia phân công lao động
quốc tế một cách thuận lợi hơn, giành vị trí ổn
định và có thể cao hơn trong chuỗi giá trị toàn
cầu. Chưa có tư cách thành viên WTO, từ trước
tới nay chúng ta tham gia phân công lao động
quốc tế với nhiều hạn chế, thường chỉ tập trung
vào khâu sản xuất, gia công, lắp ráp, ít tham gia
được vào các khâu khác có giá trị gia tăng cao
hơn hẳn như các dịch vụ nghiên cứu, thiết kế sản
phẩm, tiếp thị, phân phối... Ngay trong khâu sản
xuất, gia công, lắp ráp, sự cạnh tranh ngày càng
mạnh trên thị trường cũng khiến chúng ta không
dễ giữ được vị trí của mình. Gia nhập WTO tạo
cho chúng ta vị thế bình đẳng, cạnh tranh hơn
trên thị trường quốc tế, tăng niềm tin của các đối
tác nước ngoài đối với chúng ta, tạo điều kiện
thuận lợi hơn cho chúng ta khai thác, phát triển
các năng lực mới của mình để tham gia phân
công lao động quốc tế trên trình độ cao hơn, ở
các khâu tạo giá trị gia tăng lớn hơn.
trường kinh doanh vừa phù hợp với yêu cầu phát
triển của mình, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập
quốc tế.
- Cấu trúc lại nền kinh tế về các mặt cơ cấu
ngành, sản phẩm, thị trường, các khu vực doanh
nghiệp theo hướng phát huy lợi thế so sánh, tạo
lợi thế mới. Trên cơ sở những cơ hội mới ở các
thị trường bên ngoài và bối cảnh mới về mở cửa
thị trường trong nước, đây là cơ hội để chúng ta
rà soát, điều chỉnh lại các chiến lược phát triển
của mình, cấu trúc lại nền kinh tế, phân bổ lại các
nguồn lực để tăng tính hiệu quả và cạnh tranh của
nền kinh tế.
- Phát triển khoa học công nghệ, thúc đẩy các
ngành công nghệ cao, phát triển doanh nghiệp,
tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân
thông qua việc nắm bắt, khai thác các cơ hội thị
trường và quan hệ hợp tác kinh tế mới ở trong và
ngoài nước.
Về thách thức, chúng ta sẽ phải đương đầu với
những thách thức nặng nề, chủ yếu do cạnh tranh
tăng lên ở ngay thị trường trong nước khi chúng
ta thực hiện những cam kết mở cửa thị trường
của mình với WTO, do những năng lực còn hạn
chế trong nội bộ nền kinh tế, do yêu cầu tuân thủ
hệ thống các quy định của WTO, do sự gắn chặt
hơn nền kinh tế nước nhà với thị trường quốc tế
đầy cạnh tranh và nhiều biến động.
3. Môi trường văn hóa
song phương, đa phương nhưng do lao động là
một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nên
tiêu chuẩn lao động luôn đi cùng thương mại
quốc tế và được các nước quan tâm. Về những
tiêu chuẩn lao động trong WTO thì Hội nghị Bộ
trưởng Singapore 1996 đã khẳng định Tổ chức
lao động quốc tế (ILO) là tổ chức có thẩm quyền
xây dựng các tiêu chuẩn về lao động. Nhưng
WTO phản đối việc sử dụng các tiêu chuẩn lao
động nhằm mục tiêu bảo hộ. Các tiêu chuẩn lao
động quốc tế với mục đích là để xây dựng một
môi trường làm việc lành mạnh hơn, có lợi hơn
cho người lao động. Tuy nhiên việc thực hiện các
tiêu chuẩn này cũng đòi hỏi nhất định về những
điều kiện kinh tế, xã hội. Trước đây, trong hệ
thống thương mại đa phương WTO, các nước
phát triển muốn đưa những tiêu chuẩn lao động
riêng biệt vào trong khuôn khổ WTO đã gặp phải
những phản ứng của các nước đang phát triển
(vốn chiếm đa số trong WTO) vì cho rằng việc
tuân thủ những tiêu chuẩn lao động làm tăng chi
phí tiền lương và làm ảnh hưởng đến quá trình
phát triển kinh tế của đất nước. Và theo tuyên bố
chung tại Hội nghị Bộ trưởng WTO năm 1996 tại
Singapore, các Bộ trưởng đã thống nhất các vấn
đề về tiêu chuẩn lao động thuộc phạm vi điều
chỉnh của Tổ chức lao động quốc tế (ILO). Nghĩa
là, WTO sẽ không quy định trực tiếp về các tiêu
chuẩn lao động. Sau này, trong Hiệp định thương
mại tự do bắc Mỹ được bổ sung với một Hiệp
nền kinh tế và cũng chưa cam kết thực hiện quy
ước này của ILO. Theo ông 4 Nguyễn Hữu Dũng,
Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội
thì chính sách tiền lương của Việt Nam khi gia
nhập WTO phải giải quyết 2 vấn đề quan trọng:
thứ nhất, tiền lương phải theo định hướng thị
trường, nghĩa là lương phải đủ cho người lao
động sống, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên
thị trường lao động và phải dựa trên sự thoả
thuận, đối thoại qua thoả ước tập thể. Thứ hai là,
không được vi phạm nguyên tắc phân biệt đối xử
về tiền lương, cần tháo bỏ quy định gò bó thang
bảng lương trong doanh nghiệp nhà nước hiện
nay. Theo lộ trình đến 2010 mới sáp nhập lương
tối thiểu giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài và doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp
tư nhân. Tuy nhiên, việc thực hiện thống nhất
một mức lương tối thiểu đối với Việt Nam còn
gặp nhiều khó khăn. Tiền lương tối thiểu của Việt
Nam có quá nhiều ràng buộc với hệ thống an
sinh, là cơ sở để điều chỉnh lương hưu, trợ cấp,
bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc. Chính vì vậy
việc thống nhất một mức lương tối thiểu cao như
ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài sẽ là một gánh nặng cho ngân sách nhà
nước. Ở các nước, lương tối thiểu gắn với lạm
phát và thường được điều chỉnh kịp thời cho phù
hợp với chỉ số giá sinh hoạt. Trước tình hình đó,
Việt Nam định hướng sẽ cải cách tiền lương theo
hướng giảm dần các yếu tố can thiệp của Nhà
nước và cộng đồng doanh nghiệp.
Về phía Chính phủ và các bộ, ngành, cần triển
khai những biện pháp đồng bộ sau:
-Tiếp tục phổ biến, tuyên truyền, nâng cao nhận
thức của các cơ quan quản lý nhà nước, cộng
đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và đông
đảo người tiêu dùng về tầm quan trọng và các
yêu cầu thực thi Luật Cạnh tranh; các Pháp lệnh
Chống bán phá giá, Chống trợ cấp và Tự vệ trong
giai đoạn đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
thông qua quy chế thành viên WTO.
-Hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành về
cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và
tự vệ và các quy định khác theo hướng nhất quán,
phù hợp, không ảnh hưởng môi trường cạnh
tranh, không ngăn cản các hoạt động kinh doanh
hợp pháp của doanh nghiệp.
-Kiện toàn cơ cấu tổ chức và đào tạo nguồn nhân
lực cho các cơ quan thực thi pháp luật... Tại