BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN CÙ THỊ THUÝ NGA NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MULTI - ENZYME
VÀ PROBIOTIC TRONG NUÔI DƢỠNG LỢN CON
SAU CAI SỮA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. TRẦN VĂN PHÙNG
2. PGS. TS. TRẦN TỐ
THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu và kết quả
nghiên cứu trong luận án này là hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Mọi sự giúp đỡ đều đƣợc cảm ơn. Các thông tin trích
dẫn trong luận án đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả của luận án Cù Thị Thúy Nga ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành luận án của mình, tôi đã
nhận đƣợc sự chỉ bảo tận tình của tập thể thầy hƣớng dẫn, các nhà khoa học, sự giúp
đỡ của Trƣờng Đại học Nông Lâm, Khoa Chăn nuôi thú y, Viện khoa học sự sống -
ĐHTN và các trang trại chăn nuôi của tỉnh Thái Nguyên. Tôi cũng nhận đƣợc sự
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu của đề tài 3
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
3.1. Ý nghĩa khoa học 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 4
4. Những đóng góp mới của luận án 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1. Đặc điểm của lợn con 5
1.1.1. Đặc điểm sinh trƣởng của lợn con giai đoạn sau cai sữa 5
1.1.2. Đặc điểm cơ quan tiêu hoá và dịch tiêu hóa của lợn con 6
1.1.3. Đặc điểm phân tiết và hoạt tính của enzyme tiêu hóa 7
1.1.4. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến tiêu hóa của lợn con 10
1.1.5. Tỷ lệ tiêu hóa protein và xơ ở lợn 12
1.2. Nhu cầu dinh dƣỡng của lợn con 14
1.2.1. Nhu cầu về năng lƣợng 14
1.2.2. Nhu cầu về protein, axit amin và khả năng giảm mức protein trong
khẩu phần của lợn bằng việc bổ sung axit amin tổng hợp 14
1.2.3. Chất xơ trong dinh dƣỡng lợn con 17
1.2.4. Nhu cầu về các chất dinh dƣỡng khác 19
iv
1.3. Enzyme và ứng dụng trong chăn nuôi 21
protein, tinh bột, chất xơ và sinh trƣởng của lợn con sau cai sữa nuôi bằng
khẩu phần có mức protein khác nhau 57
3.1.1. Kết quả thí nghiệm 1 57
3.1.2. Kết quả thí nghiệm 2 64
3.2. Nội dung 2. Nghiên cứu ảnh hƣởng của multi - enzyme đến tỷ lệ tiêu hóa
và sinh trƣởng của lợn con sau cai sữa đƣợc nuôi bằng khẩu phần có mức
xơ khác nhau 76
3.2.1. Kết quả thí nghiệm 3 76
3.2.2. Kết quả thí nghiệm 4 85
3.3. Kết quả thí nghiệm 5 99
3.3.1. Sinh trƣởng tích luỹ của lợn con thí nghiệm 5 99
3.3.2. Sinh trƣởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm 5 102
3.3.3. Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con thí nghiệm 5 104
3.3.4. Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con thí nghiệm 5 106
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 114
1. Kết luận 114
2. Tồn tại 115
3. Đề nghị 115
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
I. Tài liệu tiếng Việt 117
II. Tài liệu tiếng Anh 123
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Từ viết tắt
Diễn giải
ADN
Axit Deoxyribo Nucleic
FDA
Food and Drug Administriation (Cơ quan quản lý thực
phẩm và dƣợc phẩm)
FI
Lƣợng thức ăn tiêu thụ
g
Gam
Kcal
Kilocalo
Kg
Kilogam
KL
Khối lƣợng
KPCS
Khẩu phần cơ sở
LY
Landrace Yorkshire
Met
Methionine
MJ
Megajun
NDF
Chất xơ không tan trong môi trƣờng trung tính
NLTĐ/ME
Năng lƣợng trao đổi/ME
NRC
National Research Council (Hội đồng nghiên cứu quốc gia)
NSP
Non starch polysaccarit
P
US
United States (Hoa Kỳ)
VCK
Vật chất khô
VTM
Vitamin
YLD
Yorshire Landrace Duroc
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 40
Bảng 2.2. Thành phần và giá trị dinh dƣỡng của thức ăn cho lợn thí nghiệm 1 40
Bảng 2.3. Diễn giải thí nghiệm 2 45
Bảng 2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3 48
Bảng 2.5. Thành phần và giá trị dinh dƣỡng của thức ăn thí nghiệm 3 49
Bảng 2.6. Diễn giải thí nghiệm 4 52
Bảng 2.7. Diễn giải thí nghiệm 5 54
Bảng 2.8. Thành phần của các chủng vi khuẩn trong hỗn hợp probiotic 54
Bảng 2.9. Thành phần và giá trị dinh dƣỡng của thức ăn thí nghiệm 5 55
Bảng 3.1. Tỷ lệ tiêu hoá protein của lợn con thí nghiệm 1 57
Bảng 3.2. Tỷ lệ tiêu hoá tinh bột của lợn con thí nghiệm 1 60
Bảng 3.3. Tỷ lệ tiêu hoá chất xơ của lợn con thí nghiệm 1 63
Bảng 3.4. Khối lƣợng của lợn con thí nghiệm 2 (kg/con) 64
Bảng 3.5. Sinh trƣởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm 2 (g/con/ngày) 67
Bảng 3.6. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng của lợn con thí nghiệm 2 69
Bảng 3.7. Tiêu tốn protein/kg tăng khối lƣợng của lợn con thí nghiệm 2 72
Bảng 3.8. Tiêu tốn (TT) lyzin/kg tăng khối lƣợng lợn con thí nghiệm 2 73
Bảng 3.9. Chi phí thức ăn/kg tăng khối lƣợng lợn con thí nghiệm 2 75
Hình 3.3. Đồ thị sinh trƣởng tích lũy của lợn con thí nghiệm 4 88
Hình 3.4. Biểu đồ sinh trƣởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm 4 90
Hình 3.5. Đồ thị sinh trƣởng tích luỹ của lợn con thí nghiệm 5 101
Hình 3.6. Biểu đồ sinh trƣởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm 5 104 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong chăn nuôi lợn, một số chế phẩm sinh học nhƣ kháng sinh, hocmon đã
và đang đƣợc sử dụng ở những quy mô, mức độ khác nhau và mang lại những hiệu
quả nhất định. Tuy nhiên, trải qua thời gian, các nhà khoa học đã phát hiện ra mặt
trái của các chất bổ sung này nhƣ gây hiện tƣợng kháng thuốc của vi khuẩn, để lại
tồn dƣ trong sản phẩm gây ảnh hƣởng xấu tới sức khỏe con ngƣời. Để khắc phục
những hạn chế này, khoa học đã hƣớng tới nghiên cứu và sản xuất những chất thay
thế nhằm đáp ứng đòi hỏi cấp thiết của thực tế sản xuất (Cromwel, 2002) [75].
Những chất bổ sung đƣợc quan tâm nghiên cứu và sử dụng nhiều là các enzyme tiêu
hóa và probiotic, các chất này không chỉ làm tăng hiệu quả chăn nuôi mà còn tạo ra
các sản phẩm an toàn với sức khỏe con ngƣời và môi trƣờng, cải thiện sự cân bằng
của hệ vi sinh vật trong đƣờng ruột (Jans, 2005 [92]; Fuller, 1989 [84]).
Ở lợn con giai đoạn sau cai sữa, bộ máy tiêu hóa phát triển chƣa hoàn thiện, sự
bài tiết các enzyme nội sinh còn hạn chế. Lợn con cùng một lúc chịu tác động bởi
nhiều yếu tố nhƣ stress dinh dƣỡng (do thay đổi thức ăn), stress sinh lý (do thay đổi
môi trƣờng sống và tập tính) (Fraser và cs, 1998 [82]; Cromwell, 2000 [74]; Kiarie và
cs, 2007 [95]), nên đã làm giảm tỷ lệ tiêu hóa, giảm hoạt tính của các enzyme nội sinh,
tăng khả năng nhiễm các vi sinh vật có hại dẫn đến làm mất cân bằng hệ vi sinh vật
đƣờng ruột làm cho lợn con bị tiêu chảy, chậm lớn. Chính vì vậy, việc bổ sung multi -
mức protein hợp lý trên cơ sở làm tăng hiệu quả sử dụng protein thông qua sử dụng
multi - enzyme sẽ góp phần giải quyết những yêu cầu đó.
Các nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phƣơng nhƣ cám gạo, ngô và các phụ
phẩm khác thƣờng có hàm lƣợng xơ cao, hàm lƣợng protein thấp. Khẩu phần cho
lợn dựa trên các nguyên liệu này với mức xơ quá cao có thể làm giảm tỷ lệ tiêu
hóa và các thành phần dinh dƣỡng khác (Fernadez và cs, 1986 [80]; Noblet và
cs, 2001 [111]; Len và cs, 2006a [101]; Trần Văn Phùng và cs, 2012 [33]) dẫn
tới năng suất sinh trƣởng thấp, đặc biệt là lợn con. Tuy nhiên, khi đƣợc nuôi
3
bằng khẩu phần có mức xơ hợp lý, có tác dụng tăng cƣờng nhu động của ruột và
tạo khuôn phân để hoạt động thải phân của vật nuôi đƣợc thuận lợi. Những chất
xơ chƣa đƣợc tiêu hóa ở ruột non là nguồn cung cấp năng lƣợng cho vi sinh vật ở
ruột già, với nguồn năng lƣợng này, vi khuẩn tiếp tục hấp thu NH
3
để tổng hợp
protein, góp phần làm giảm đào thải NH
3
ra ngoài môi trƣờng.
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, việc nghiên cứu bổ
sung multi - enzyme và probiotic vào khẩu phần đƣợc thiết lập dựa trên nguyên liệu
thức ăn có sẵn tại địa phƣơng và mức protein hợp lý cho lợn ngoại giai đoạn sau cai
sữa là rất quan trọng, góp phần nâng cao hiệu suất sử dụng thức ăn và hiệu quả chăn
nuôi. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu sử dụng multi -
enzyme và probiotic trong nuôi dưỡng lợn con sau cai sữa”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định đƣợc ảnh hƣởng của việc bổ sung multi - enzyme vào các khẩu
phần có mức protein khác nhau và các khẩu phần có mức xơ thô khác nhau đến tỷ
lệ tiêu hoá protein, tinh bột, chất xơ và sinh trƣởng, chuyển hóa thức ăn của lợn
con giai đoạn sau cai sữa.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm của lợn con
1.1.1. Đặc điểm sinh trưởng của lợn con giai đoạn sau cai sữa
Theo Whitemore (1993) [125], sinh trƣởng là quá trình tăng khối lƣợng cơ thể
do sự tăng lên về số lƣợng và lớn lên của các tế bào trong các cơ quan và tổ chức.
Nghiên cứu về đặc điểm sinh trƣởng cho thấy, lợn con giai đoạn sau cai sữa có khả
năng sinh trƣởng phát triển nhanh, cƣờng độ trao đổi chất mạnh. Do lợn con sinh
trƣởng nhanh, nên khả năng tích luỹ các chất dinh dƣỡng cao. Lợn con ở 3 tuần tuổi,
mỗi ngày tích luỹ đƣợc 9 - 14 g protein/kg tăng khối lƣợng. Trong khi đó, lợn trƣởng
thành chỉ tích luỹ đƣợc 0,3 - 0,4 g protein/kg tăng khối lƣợng. Hơn nữa, để tăng 1 kg
khối lƣợng cơ thể, lợn con cần rất ít năng lƣợng, nghĩa là tiêu tốn thức ăn ít hơn lợn
lớn, vì giai đoạn này tích luỹ chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1 kg thịt nạc cần ít
năng lƣợng hơn để sản xuất ra 1 kg thịt mỡ (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [32].
Đồng thời, ngƣời ta cũng thấy rằng lợn con sinh trƣởng nhanh, nhƣng không
đồng đều qua từng giai đoạn tuổi. Trong 21 ngày đầu sau khi sinh, lợn sinh trƣởng
nhanh, sau đó giảm dần, mà nguyên nhân chủ yếu do lƣợng sữa mẹ cung cấp không
đủ nhu cầu, thời gian giảm sinh trƣởng kéo dài khoảng 2 tuần, thời kỳ này đƣợc gọi
là giai đoạn khủng hoảng của lợn con. Đó là do ảnh hƣởng bất lợi của môi trƣờng
(Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006 [38]; Trƣơng Lăng, 2004 [23].
Cơ quan tiêu hóa của lợn con chƣa hoàn thiện còn thể hiện ở chỗ lƣợng dịch
phân tiết và hoạt tính của enzyme tiêu hóa còn kém, nhất là ở 3 tuần đầu, sau đó
hoàn thiện dần. Nếu không cho lợn con ăn sớm thì khoảng 25 ngày đầu sau khi đẻ,
pepsin trong dạ dày lợn con chƣa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn, vì lúc
này dịch vị dạ dày chƣa có HCl tự do nên chƣa hoạt hóa pepsinogen thành pepsin
để tiêu hóa protein. Do thiếu HCl nên lợn con rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập
vào đƣờng tiêu hóa gây bệnh. Để khắc phục tình trạng này nên tập cho lợn con ăn
sớm vào lúc 7 - 8 ngày tuổi, để kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl tự
do sớm hơn.
7
Nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu lợn con đƣợc tách mẹ thì amylaza trong
nƣớc bọt có hoạt tính cao nhất vào ngày thứ 14, nếu còn bú sữa mẹ thì hoạt tính này
đến ngày thứ 21 mới có hiệu quả cao, cho nên khả năng tiêu hóa tinh bột của lợn
con còn kém, chỉ tiêu hóa đƣợc khoảng 50 % lƣợng tinh bột ăn vào, vì vậy cần tập
cho lợn con ăn sớm kết hợp cai sữa sớm và chế biến thức ăn thật tốt trƣớc khi cho
lợn con ăn (Đào Trọng Đạt và cs, 1995 [7]; Trƣơng Lăng, 2004) [23]
Dịch tụy của ruột non có ý nghĩa quan trọng đối với sự tiêu hóa. Trong dịch
tụy có chứa các enzyme (trypsin, cacboxypeptidaza, elactaza, dipeptidaza, nucleaza
.v.v ) có tác dụng phân giải từ 60 - 80 % protein, gluxit và lipit của thức ăn. Hoạt
tính của các enzyme thay đổi từ sơ sinh đến trƣởng thành. Nhƣ vậy, để tăng tỷ lệ
tiêu hóa và làm giảm tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con, trong sản xuất thức ăn cho lợn con
giai đoạn tập ăn và sau cai sữa chúng ta nên sử dụng các loại thức ăn dễ tiêu hóa
nhƣ sữa bột, đƣờng lactoz, thức ăn hạt cần đƣợc rang chín và nghiền nhỏ, đồng thời
bổ sung thêm một số axit vô cơ nhƣ axit lactic.
1.1.3. Đặc điểm phân tiết và hoạt tính của enzyme tiêu hóa
Đối với lợn con, sự phân tiết dịch tiêu hoá có những điểm khác biệt với lợn
lớn. Lƣợng dịch tiết vào ban ngày thƣờng ít (khoảng 31 %), chủ yếu vào ban đêm
đạt 69 %, còn ở lợn trƣởng thành thì ngƣợc lại. Ở lợn con cai sữa, lƣợng dịch vị tiết
Trypsin là enzyme tiêu hoá protein của thức ăn. Lúc thai 2 tháng tuổi đã có
trypsin, thai càng lớn hoạt tính của trypsin càng cao. Khi lợn con mới đẻ ra, hoạt tính
của trypsin dịch tụy rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của pepsin dạ dày.
Trypsin có hoạt lực cao nhất với pH = 8, tác dụng tƣơng tự nhƣ pepsin nhƣng hoạt
lực mạnh và triệt để hơn. Trypsin phân giải protein tạo thành polypeptit và axit amin.
Catepsin là enzyme tiêu hoá protein trong sữa có tác dụng giống pepsin, thuỷ
phân protein và các mạch peptit thành axit amin, hoạt động thích hợp trong khoảng
pH = 4 - 5. Vì thích hợp với pH cao nên catepsin hoạt động mạnh ở động vật non bú
sữa, khi mà HCl tự do hình thành chƣa nhiều. Đối với lợn con, ở 3 tuần tuổi đầu
catepsin có hoạt tính mạnh, sau đó hoạt tính giảm dần.
Enterokinaza
9
Kimotrypsin cũng đƣợc tiết ra dƣới dạng chƣa hoạt động là kimotrypsinogen
sau đó đƣợc trypsin hoạt hoá chuyển thành kimotrypsin hoạt động, pH tối ƣu là 8,
tác dụng tƣơng tự trypsin.
Elastaza phân giải elastin (gân, bạc nhạc) thành peptit và axit amin.
Carboxypolypeptidaza tác dụng phân giải peptit ở đầu có nhóm COO
-
tự do
và tách axit amin ra khỏi phân tử peptit.
Aminopolypeptidaza phân giải peptit ở đầu có nhóm NH
3
+
tự do.
Dipeptidaza phân giải dipeptit thành hai axit amin. Nucleaza phân giải axit nucleic
thành mononucleotit.
Cùng với pepsin dạ dày, các enzyme phân giải protein của dịch tụy có tác
dụng phân giải protein thành các axit amin để hấp thu. Trong số đó, trypsin là quan
trọng nhất. Một số loại đậu đỗ và thực vật nhƣ đậu tƣơng có chất kháng enzyme
lipaza phân giải thành glyxerin và axit béo.
Photpholipit
Photpholipaza
glyxerin
Lipaza
axit béo
Lipaza
diglyxerit
- H
3
PO
4
Cholesterolesteraza: phân giải este của cholesterol và các sterol của thức ăn
thành axit béo và sterol.
Với ba enzyme của nhóm phân giải lipit đề cập trên, mọi loại lipit của thức
ăn đều đƣợc tiêu hoá hết (Lã Văn Kính và cs, 2001) [21]. Theo Corring và cs (1978)
[73], ở lợn con bú sữa, khối lƣợng của tuyến tụy tăng dần theo tuổi và hoạt tính
lipaza cũng tăng từ ngày thứ 2 đến 35 ngày tuổi. Tƣơng ứng theo đó, tỷ lệ tiêu hoá
lipit của lợn con tăng dần theo tuổi và phụ thuộc vào nguồn lipit (cao nhất ở mỡ
sữa, thấp nhất là ngô).
Qua nghiên cứu về quá trình phân tiết enzyme trong đƣờng tiêu hoá của lợn
con, chúng ta thấy sự phân tiết và hoạt động của amylaza, maltaza và proteaza tăng
dần theo sự tăng lên của ngày tuổi. Riêng lactaza tăng cao nhất ở giai đoạn 2 tuần
tuổi sau đó giảm dần theo sự tăng lên của ngày tuổi. Đây chính là điểm cần lƣu ý
khi bổ sung thức ăn cho lợn con.
1.1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiêu hóa của lợn con
Có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến tỷ lệ tiêu hoá của lợn con, trong đó có các yếu tố
nhƣ thức ăn, kỹ thuật chế biến thức ăn, kỹ thuật cho ăn, yếu tố thời tiết, khí hậu.
Các loại thức ăn khác nhau ảnh hƣởng không giống nhau đến tiêu hóa của
2004) [31]. Đồng thời khi lƣợng protein trong khẩu phần thấp sẽ dẫn đến sự giảm
tiết dịch tụy và dịch dạ dày rõ rệt. Nếu khẩu phần có mức protein trung bình thì
lƣợng dịch tụy tiết ra là 4400 ml, nhƣng khẩu phần có mức protein thấp lƣợng dịch
tuỵ tiết ra là 3225 ml, còn khi mức protein cao thì lƣợng dịch tụy đạt tới 5280 ml.
12
Nhƣ vậy, khẩu phần có hàm lƣợng protein cao thì lƣợng dịch tuỵ tiết ra càng nhiều
để tăng cƣờng tiêu hoá protein.
Cách cho lợn ăn cũng làm ảnh hƣởng đến sự tiêu hoá thông qua lƣợng dịch
tiêu hoá tiết ra bị thay đổi. Nếu cho lợn ăn nhiều bữa và cho ăn thức ăn khô sẽ làm
tăng tiết dịch tiêu hoá. Nếu lợn đƣợc ăn 5 bữa/ngày thì lƣợng dịch vị sẽ tăng đƣợc
79,43 % và dịch tuỵ tăng 35,20 % so với lợn chỉ đƣợc ăn 3 bữa. Số lƣợng thức ăn
một bữa (đặc biệt là lợn con) cũng có tác dụng làm hƣng phấn hoạt động tiêu hoá,
làm tăng tiết dịch tiêu hoá và kết quả là làm tăng tỷ lệ tiêu hoá thức ăn.
Nhiệt độ thức ăn, nƣớc uống cũng ảnh hƣởng đến tiết dịch tiêu hóa (nƣớc
lạnh tiết dịch ít hơn nƣớc ấm). Cần tập cho lợn con ăn đúng bữa, đúng giờ, đúng nơi
quy định. Phải có nƣớc sạch thƣờng xuyên, đầy đủ cho lợn con uống.
Ngoài các yếu tố trên có ảnh hƣởng đến quá trình tiêu hoá ở lợn thì các yếu tố
về điều kiện môi trƣờng, vận động, vỏ não cũng ảnh hƣởng đến sinh lý tiêu hoá ở lợn.
Căn cứ vào các yếu tố ảnh hƣởng đến tiêu hóa của lợn đã đề cập ở trên,
chúng ta cần nghiên cứu, phối hợp khẩu phần cho phù hợp với hệ tiêu hóa, áp dụng
các biện pháp chăn nuôi phù hợp để hạn chế thấp nhất ảnh hƣởng bất lợi về tiêu
hóa, đặc biệt giai đoạn lợn sau cai sữa để nâng cao năng suất trong chăn nuôi lợn.
1.1.5. Tỷ lệ tiêu hóa protein và xơ ở lợn
Các loại thức ăn có thể có cùng thành phần dinh dƣỡng nhƣ nhau, nhƣng có tỷ
lệ tiêu hoá khá c nhau đối với mỗi loại vật nuôi , khi đó giá trị dinh dƣỡ ng củ a nó đố i
vớ i con vậ t sẽ khá c nhau. Ví dụ, tỷ lệ tiêu hoá cám gạo ở gà không giống ở lợn và ở
trâu bò . Các nghiên cứu về tỷ lệ tiêu hoá thức ăn trên thế giớ i đã đƣợ c tiế n hà nh tƣ̀ rấ t
sớ m và họ đã xây dựng đƣợ c cơ sở dƣ̃ liệ u về tỷ lệ tiêu hoá củ a thƣ́ c ăn. Ở Việt Nam,
nghiên cƣ́ u xá c đị nh tỷ lệ tiêu hoá , hấ p thu thƣ́ c ăn cho cá c đố i tƣợ ng gia sú c gia cầ m
1,87 % tùy giai đoạn tuổi.
Wiseman và cs (1991) [126] cho biết, tỷ lệ tiêu hóa protein và axit amin của
thức ăn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhƣ phƣơng pháp chế biến thức ăn, phƣơng
pháp xử lý nhiệt, số lƣợng và thành phần chất xơ cũng nhƣ số lƣợng và chủng loại
chất kháng dinh dƣỡng có mặt trong thức ăn.
Fernandez và cs (1986) [80], Noblet và cs (2001) [111], Le Goff và cs (2002)
[99] cho biết, khả năng tiêu hóa chất xơ của lợn khác nhau, phụ thuộc vào tuổi và
khối lƣợng lợn.
Trần Quốc Việt và cs (2010) [62] cho biết, bổ sung chế phẩm đa enzyme và
probiotic - enzyme đối với lợn con giai đoạn sau cai sữa đến 20 kg, đã nâng cao
đƣợc tỷ lệ tiêu hóa xơ từ 5,73 - 12,4 %.
14
1.2. Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con
Dinh dƣỡng có ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình sinh trƣởng, phát triển và
khả năng phòng chống bệnh tật của lợn, đặc biệt đối với lợn con giai đoạn sau cai
sữa. Nhu cầu dinh dƣỡng của lợn con bao gồm:
1.2.1. Nhu cầu về năng lượng
Nhu cầu về năng lƣợng đối với lợn thƣờng đƣợc biểu thị bằng năng lƣợng trao
đổi (ME, Kcal/kg). Lƣợng thức ăn (TĂ) ăn vào hàng ngày của lợn tỷ lệ nghịch với
hàm lƣợng năng lƣợng trong khẩu phần, điều này đồng nghĩa với việc lợn sẽ ăn
đƣợc nhiều thức ăn khi hàm lƣợng năng lƣợng trong thức ăn thấp và ngƣợc lại.
Nghiên cứu về vấn đề này, các tác giả Lê Hồng Mận và cs (2001) [27];
Nguyễn Thiện và cs (2005) [40] cho biết, lợn con cần năng lƣợng trƣớc tiên để đáp
ứng nhu cầu duy trì cơ thể, sau đó là năng lƣợng cho sinh trƣởng. Lợn cần năng
lƣợng hơn các gia súc khác, do đặc điểm trao đổi chất, đặc điểm di truyền hoặc giống.
Các nghiên cứu về năng lƣợng của lợn con đã đƣợc nghiên cứu khá đầy đủ
trên thế giới. Theo ARC (1981) [65], mức năng lƣợng trao đổi của lợn con giai đoạn
sau cai sữa là 3100 Kcal/kg TĂ.
Tại Việt Nam, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về mức năng lƣợng