Bài tập lớn kinh tế vĩ mô nghiên cứu về cấn đề thu nhập - Pdf 13

Bài tập lớn Kinh tế Vĩ mô
Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2
I. Lời mở đầu
Ngày nay, nước ta đã chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong giai đoạn này,
chúng ta phải đối mặt với nhiều vấn đề để hoàn thiện hệ thống
quản lý kinh tế mới.
Trong nền kinh tế thị trường, có 3 yếu tố quan trọng, đó là
cung - cầu, cạnh tranh và giá cả thị trường. Các doanh nghiệp chấp
nhận cạnh tranh của kinh tế thị trường vì mục tiêu lợi nhuận, sức
lao động cũng được xem như một loại hàng hóa. Vì thế, xã hội vẫn
còn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là vấn đề thu nhập và tiền lương
của người lao động. Nhà nước với quyền điều hành kinh tế của
mình sẽ điều chỉnh hợp lý các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp
để nhằm hạn chế mức độ chênh lệch về thu nhập và sự bóc lột lao
động nhằm đảm bảo duy trì trong công bằng mọi loại lợi ích của 3
chủ thể : người lao động, doanh nghiệp và Nhà nước.
Để nghiên cứu về vấn đề thu nhập, đã có rất nhiều tác giả như :
Ximing Wu và Jeffrey M.Perloff với “Phân phối thu nhập ở Trung
Quốc thời kỳ 1985 – 2001” ; Hafiz A.Pasha và T.Palanivel trong
chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc “Chính sách và tăng
trưởng vì người nghèo, kinh nghiệm châu Á” hay John Weeks,
Nguyễn Thắng, Rathin Roy Joseph Lim trong “Kinh tế vĩ mô của
giảm nghèo : Nghiên cứu trường hợp Việt Nam, tìm kiếm bình
đẳng trong tăng trưởng”.
Các tài liệu trên đều đưa ra vấn đề bất bình đẳng trong phân
phối thu nhập và tiền lương của người lao động, các mối quan hệ
của tiền lương, giá cả và lạm phát. Đề tài “ Tìm hiểu việc thực hiện
chính sách thu nhập của Việt Nam thời kỳ 2003 -2008” ngoài việc
nghiên cứu lý luân cơ bản về thi nhập, tiền lương, mà còn chỉ ra

Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2
- Mục tiêu của kinh tế học vĩ mô :
* Mục tiêu cơ bản :
+ Đạt được sự ổn định trong ngắn hạn.
+ Tăng trưởng nhanh trong dài hạn.
+ Phân phối của cải một cách công bằng.
* Mục tiêu cụ thể :
+ Mục tiêu sản lượng : đạt được sản lượng thực tế cao, tương ứng với mức
sản lượng tiềm năng; tốc độ tăng trưởng cao và bền vững.
+ Mục tiêu việc làm : tạo được nhiều việc làm tốt; hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp.
+ Mục tiêu ổn định giá cả : hạ thấp và kiểm soát được lạm phát trong điều
kiện thị trường tự do.
+ Mục tiêu kinh tế đối ngoại : ổn định ty giá hối đoái; cân bằng cán cân
thanh toán quốc tế.
+ Phân phối công bằng : dựa vào thuế và trợ cấp. Đây là một trong những
mục tiêu quan trọng.
3
Đầu vào Hộp đen
ktvm
Đầu ra
Yếu
tố
bên
ngoài
Chính
sách
kinh
tế vĩ

Tổng

+ Mục tiêu : Ngắn hạn : cân bằng ngân sách, chống suy thoái, chống lạm
phát.
Dài hạn : tăng sản lượng tiềm năng.
+ Cơ chế tác động :
 Chống suy thoái : tăng G và giảm T => AD tăng => Q tăng, u giảm, P
tăng.
 Chống lạm phát : giảm G và tăng T => AD giảm => Q giảm, u tăng, P
giảm.
 Cân bằng ngân sách: Nền kinh tế suy thoái : Q giảm, u tăng, P giảm.
Nền kinh tế thịnh vượng : Q tăng, u giảm, P tăng.
4
Bài tập lớn Kinh tế Vĩ mô
Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2
 Mục tiêu dài hạn : tăng G và giảm T đối với những ngành sản xuất
phục vụ cho đầu tư mới; Và ngược lại đối với ngành sản xuất phục vụ
cho tiêu dùng => I tăng => Tổng tu bản của nền knih tế (K) tăng =>
Qp tăng.
* Chính sách tiền tệ :
+ Công cụ tác động : Lượng cung tiền (MS) và Lãi suất (r).
+ Đối tượng tác động : Đầu tư (I).
+ Mục tiêu: Ngắn hạn : chống suy thoái và lạm phát.
Dài hạn : tăng Qp.
+Cơ chế tác động :
 Ngắn hạn : Chống suy thoái : tăng MS => r giảm => I tăng => AD
tăng => Q tăng, u giảm, P tăng.
Chống lạm phát : giảm MS => r tăng => I giảm => AD
giảm => Q giảm, u tăng, P giảm.
 Dài hạn : tăng MS => r tăng => I giảm => AD giảm => Q giảm, u
tăng, P giảm.
* Chính sách thu nhập :

n i i
i
GNP Pt Qt
=
=

+ Tổng sản phẩm quốc dân thực tế :

0
1
.
n
r i
i
GNP P Qt
=
=

Trong đó : I - loại hàng hóa dịch vụ.
t – năm tính GNP
0 – năm gốc
Po – giá gốc so sánh, giá cố định
Qi – sản lượng của từng loại hàng hóa và dịch vụ
Pt – giá hiện hành (của năm tính GNP)
6
Bài tập lớn Kinh tế Vĩ mô
Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2
- Chu kỳ kinh tế : là sự dao động của sản lượng thực tế xung quanh xu hướng
tăng lên của sản lượng tiềm năng.
- Sự thiếu hụt sản lượng : là độ lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng

hoạch định kinh tế cho đất nước.
Vì vậy, việc học tập và nghiên cứu kinh tế vĩ mô là cần thiết với tất cả
sinh viên nói chung, đặc biệt hơn là sinh viên học kinh tế, để có một kiến
thức và tầm nhìn tổng quát về kinh tế trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện
nay.
II. Phân tích chính sách thu nhập dưới góc độ lý thuyết kinh tế
học.
1. Khái niệm chính sách thu nhập trong nền kinh tế thị trưởng.
Lý thuyết về thu nhập và phân phối thu nhập trong xã hội đã được nhiều
nhà kinh tế học khác nhau nghiên cứu và hoàn thiện trong hơn 250 năm qua,
từ Adam Smith (1723 – 1790) đến Karl Marx (1818 – 1883), John M.Keynes
và Samuelson (1915 – 2009). Nhưng xét một cách tổng quát lý luận về thu
nhập có liên quan chặt chẽ đến cơ chết vận động của các chủ thể tham gia thị
trường, đồng thời nó gắn chặt với quan điểm giải quyết vấn đề tiền lương,
giá cả và lạm phát.
Chính sách thu nhập có thể coi là một loạt những biện pháp, công cụ mà
Chính phủ sử dụng nhằm tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả nhằm kiềm
chế lạm phát.
Chính sách này sử dụng nhiều công cụ khác nhau, từ công cụ có tính chất
cứng rắn như : giá, lương, chỉ dẫn ấn định và quy tắc pháp lý điều chỉnh sự
8
Bài tập lớn Kinh tế Vĩ mô
Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2
thay đổi của tiền lương và giá cả đến các công cụ mềm dẻo hơn như việc
hướng dẫn khuyến khích bằng thuế thu nhập.
2. Mục tiêu và tác động của chính sách thu nhập với nền kinh tế.
Đối với mỗi quốc gia, việc thực hiện chính sách thu nhập có thể dựa trên
nhiều công cụ khác nhau. Nhưng dù thế nào đi nữa, chính sách thu nhập đều
nhằm mục tiêu duy nhất đó là ổn đinh nền kinh tế, kiềm chế lạm phát, nâng
cao mức lương và thực hiện công bằng xã hội.

khi điều chỉnh chính sách thi nhập đó là sự phân hóa giàu nghèo, bất bình
đẳng dẫn đến những xung đột làm thay đổi chế độ xã hội, đe dọa sự ổn định,
tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Theo thống kê, chỉ từ 1995 – 2000,
số tài sản của 200 người giàu nhất Thế giới đã tăng gấp đôi (lên hơn 1000 tỷ
USD). Trong khi đó vẫn còn 1,3 tỷ người sống dưới mức nghèo khổ (thu
nhập bình quân không quá 1USD/ngày). Sự tự do cạnh tranh kéo theo những
thay đổi về mức lương và giá cả. Khi mức lương tăng, thu nhập tăng làm
tăng nhu cầu tiêu dùng của người dân dẫn đến sự tăng nhanh về giá cả. Nếu
Nhà nước để vuột mất quyền kiểm soát của mình thì nền kinh tế sẽ nhanh
chíng rơi vài lạm phát. Sự trượt giá của đồng tiền là nguyên nhân khủng
hoảng nền kinh tế, trì trệ sản xuất và phá sản doanh nghiệp. Lao động làm ra
nhiều tiền nhưng không đủ sống. Nếu mức lương ấn định cao hơn so với
mức lương thực tế thì sẽ dẫn đến thất nghiệp do cầu lao động giảm. Ngược
lại, khi mức lương giảm, cầu lao động sẽ tăng lên nhưng công nhân lại
không được trả lương xứng đáng. Những lao động này không tìm được việc
phù hợp và cũng sẽ rơi vào tình trạng thất nghiệp. Mức lương quá thấp,
10
Bài tập lớn Kinh tế Vĩ mô
Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2
không đủ sống sẽ khiến cho người lao động đấu tranh, có thể dẫn đến xung
đột.
Tóm lại, nhà nước sẽ dựa vào các công cụ của mình để điều chỉnh các
yếu tố trên một cách hợp lý sao cho luôn đảm bảo được công bằng xã hội và
bình ổn nền kinh tế.
III. Phân tích cơ chế xác định mức lương cân bằng trên thị
trường lao động, biến động của thị trường lao động khi chính phủ
điều chỉnh các qui định về tiền lương.
1. Mức lương cân bằng trên thị trưởng lao động.
1.1 Giá cả, tiền công và việc làm.
Trong nền kinh tế thị trường, giá cả phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Các yếu

(D
n
) về lao động.
12
N
o
N
W
thực tế
S
N
W
o
D
N
Lao động, việc làm
Hình 2 : Thị trường lao động
Bài tập lớn Kinh tế Vĩ mô
Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2
Đường cầu về lao động (D
n
) cho biết các hang kinh doanh cần bao nhiêu
lao động tương ứng với mỗi mức tiền công thực tế trong khi các điều kiện về
vốn, tài nguyên không đổi.
Tiền công thực tế biểu thị cho khối lượng hang hóa và dịch vụ mà tiền
công danh nghĩa có thể mua được, tương ứng với mức giá đã cho. Tiền công
thực tế (W
r
) được xác định bằng cách lấy tiền công danh nghĩa (W
n

công, tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.
2. Biến động của thị trường lao động khi chính phủ điều chỉnh các
qui định về tiền lương.
13
Bài tập lớn Kinh tế Vĩ mô
Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà
nước phải hết sức chú trọng tới chính sách thu nhập nhằm đảm bảo công
bằng xã hội, không ngừng ổn định và nâng cao đời sống của người dân, tạo
đà tăng trưởng cho nền kinh tế.
Trên lý thuyết, việc thực hiện mục tiêu ổn định tiền lương có thể mâu
thuẫn với mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả và tăng
trưởng nhanh. Lý do cơ bản là việc thay đổi các chính sách tiền lương có thể
dẫn tới những biến động lớn về kinh tế hoặc xã hội. Việc áp dụng chung một
mức lương cho tầng lớp lao động sẽ tạo sự không công bằng trong lao động,
có người được trả lương không phù hợp với năng lực của mình. Việc theo
đuổi các chính sách thu nhập và tiền lương có thể làm giảm tính năng động
của thị trường lao động. Các chính sách thuế thu nhập, bảo hiểm sẽ khiến
cho những người có thu nhập cao không còn động lực lao động tích cực sang
tạo, gây tổn thất chung cho xã hội. Mặt khác, những người có thu nhập lại
trông chờ vào việc chính phủ tăng lương. Do vậy, Nhà nước phải cân nhắc
giữa những lợi ích thu được từ sự cân bằng thu nhập và những hạn chế mà
nền kinh tế phải gánh chịu khi thay đổi các quy định về tiền lương.
Thông thường, sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường được thực hiện
bằng quyền lực hành chính, thông qua các biện pháp hành chính. Nhưng
thực tiễn quản lý cho thấy, muốn điều tiết tiền lương một cách có hiệu quả
cần phải sử dụng và kết hợp hài hòa các biện pháp hành chính với biện pháp
kinh tế thông qua các công cụ quản lý là pháp luật, các chính sách kinh tế
như : chính sách thuế, chính sách giá cả, chsinh sách tiêu dung, mức lương
tối thiểu …

) thì thị
trường lao động vẫn còn kiểm soát được. Khi tăng lương đến vị trí cân bằng
thì thị trường lao động đạt trạng thái toàn dụng lao động, tức là cung và cầu
lao động gặp nhau. Thế nhưng mức lương tăng lại khiến cho các nhà doanh
15
W
thực tế
NN
2
N
3
N
0
N
1
N
4
W
1
W
0
W
2
S
n
D
n
Hình 3 : Thay đổi của thị trường lao động khi tăng mức lương thực tế.
Bài tập lớn Kinh tế Vĩ mô
Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2

nhưng cung lao động lại giảm từ N
2
xuống N
4
.
Ta sẽ nhận thấu khi mức lương cân bằng giảm, các nhà doanh nghiệp có
xu hướng thuê thêm công nhân để mở rộng sản xuất. Giá nhân công rẻ sẽ thu
hút nhà kinh doanh nhưng gây chán nản đối với người lao động. Nếu mức
lương thực tế giảm thấp hơn mức lương cân bằng, người lao động sẽ làm
việc tại đồng lương không xứng đáng với năng lực của họ. Mức lương quá
thấp khiến cho người lao động rơi vào trạng thái không thích làm việc, đặc
biệt đối với lao động có trình độ. Sự phụ thuộc vào đồng lương làm người
lao động dễ bị chủ doanh nghiệp ép lương, ép giá, làm việc ở những điều
kiện khắc nghiệt.
Thị trường lao động lúc này trở nên kém năng động hơn, nền kinh tế đi
vào thất nghiệp và suy thoái. Những người có việc làm cũng không đủ để
trang trải cuộc sống. Khi không tìm được việc làm phù hợp, người lao động
sẽ tìm đến những con đường khác để kiếm tiền trong đó có những biện pháp
17
W
thực tế
W
2
W
0
W
1
N
1
N

triển nhanh nhưng chưa bền vững”. Xét một cách tổng thể thì nhìn chung
nền kinh tế nước ta từ năm 2003 đến 2008 vẫn tăng trưởng với tốc độ khá
cao.
Nếu như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hang năm của nước
ta giai đoạn 1986 – 1990, giai đoạn đầu tiên của công cuộc đổi mới còn đạt
ở mức 4,4% do nền kinh tế vừa mới bước ra khỏi thời kỳ 10 năm khủng
hoảng (1975 – 1986), thì liên tục từ năm 1991 đến năm 2007, chúng ta đều
duy trì được sự tăng trưởng GDP lien tục với tốc độ khá cao và tương đối ổn
định. Cụ thể là : năm 2003 (7,34%); năm 2004 ( 7,79%); năm 2005 (8,44%);
năm 2006 (8,17%) và năm 2007 (8,48%).
18
Bài tập lớn Kinh tế Vĩ mô
Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2
Bảng 1 - Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) từ năm 1997 - 2007 (%)
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
GDP 8,15 5,76 4,77 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,48
N-L-N 4,33 3,53 5,53 4,63 2,89 4,17 3,62 4,36 4,02 3,3 3,0
CNXD 12,62 8,33 7,68 10,07 10,39 9,48 10,48 10,22 10,69 10,37 10,4
DV 7,14 5,08 2,25 5,32 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 8,29 8,5
Nguồn : Tổng cục thống kê, Niên giám Thống kê 2007
Chú thích : N-L-N : viết tắt của nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp - gọi
chung là thủy sản; CNXD : viét tắt của công nghiệp, xây dựng - gọi chung là công
nghiệp; DV : viết tắt của dịch vụ).
Riêng từ đầu năm 2008 đến nay, trong bối cảnh khó khăn, thách thức
chung của sự suy giảm kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam cũng đã lâm vào
tình trạng lạm phát, dẫn đến suy giảm tương đối về kinh tế như đã thấy.
Trong giai đoạn từ năm 2003 đến 2008, nền kinh tế Việt Nam đã có sự
chuyển mình rõ rệt với những con số đáng ghi nhận.
- Cho đến năm 2004, theo ông Wiener, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được 3
kỷ lục, đó là : kim ngạch xuất khẩu cao nhất, nguồn vốn đầu tư trực tiếp

triệu USD. Chỉ số giá tiêu dùng của tháng 9 năm 2008 chỉ tăng 0,18% so với
tháng 8, và là mức tăng trưởng thấp nhất so với cùng kỳ từ năm 2003 trở lại
đây. Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng, đưa Việt Nam trở
thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất châu Á.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế Việt Nam còn gặp rất
nhiều khó khăn do phải thường xuyên hứng chịu thiên tại, mất mùa, dịch
bệnh, đặc biệt là trong nông nghiệp. Chăn nuôi gia cầm chịu ảnh hưởng nặng
20
Bài tập lớn Kinh tế Vĩ mô
Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2
nề của dịch cúm tái phát. Tính đến tháng 10 năm 2005, số gia cầm bị thiêu
hủy là 3,58 triệu con. Cơn bão số 6 và số 9 của năm 2006 đã cuốn trôi và
làm ngập trên 10 vạn ha hoa màu và hơn 2 vạn ha nuôi trồng thủy sản. Bên
cạnh đó, đợt rét đậm cuối năm 2007, đầu 2008 đã ảnh hưởng toàn bộ đến
diện tích lúa đã cấy, mạ đã gieo, hoa màu và gia súc. Có 200 nghìn ha lúa bị
hư hỏng, 122 nghìn con trâu bò, 1 nghìn con lợn và 290 nghìn gia cầm bị
chết. Ước tính thiệt hại đến hơn 700 tỷ đồng. Còn trận mưa lớn kéo dài hơn
một tuần đã làm ngập toàn bộ vụ lúa hè chiêm ở Bắc Ninh, gây thiệt hại lớn
cho bà con nông dân.
2. Tình hình xã hội Việt Nam.
2.1 Dân số và lao động.
So sánh các nước trong khu vực, Việt Nam là một nước có dân số đông
với khoảng 85 triệu người sinh sống. Nếu phân theo giới tính, ta có bảng số
liệu qua các năm từ 2003 đến 2008 như sau:
Bảng 2 : Dân số Việt Nam phân theo giới tính ( nghìn người)
Năm Tổng Nam Nữ
2003 80467,4 39535,0 40932,4
2004 81436,4 40042,0 41394,4
2005 83106.3 40846.2 42260.1
2006 84136.8 41354.9 42781.9

Tính đến tháng 6 năm 2008, cả nước có 15,3 nghìn người mắc bệnh sốt
xuất huyết; 2,7 nhìn trường hợp mắc bệnh gan vius và 3,7 nghìn trường hợp
tiêu chảy cấp, trong đó phát hiện 582 ca dương tính với phẩy khuẩn tả. Tổng
số người nhiễm HIV trong cả nước là khoảng 168,6 nghìn người.
22
Bài tập lớn Kinh tế Vĩ mô
Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2
Về đời sống của người lao động, ở Việt Nam thu nhập bình quân một
tháng của người lao động tính theo giá thực tế của năm 2006 là khoảng 636
nhìn đồng. Trong đó, mức chi tiêu bình quân một tháng tính thao đầu người
còn rất thấp.
Bảng 3 : Chi tiêu bình quân theo đầu người hàng tháng tính theo khu
vực (nghìn đồng) .
Năm 1999 2002 2004 2006
Cả nước 221 269 360 460
Thành thị 373 461 595 738
Nông thôn 175 211 284 359
Đồng bằng sông Hồng 227 271 374 485
Đông Bắc 176 220 294 373
Tây Bắc 179 233 296
Bắc Trung Bộ 162 193 253 314
Duyên hải Nam Trung Bộ 198 248 331 415
Tây Nguyên 251 202 295 391
Đông Nam Bộ 385 448 577 741
Đồng bằng sông Cửu Long 246 258 335 435
Người lao động, đặc biệt là lao động có thu nhập thấp, có cuộc sống rất
bấp bênh. Các chính sách đảm bảo công bằng xã hội vẫn chưa được chú
trọng đúng mức. Tuy vậy, ta vẫn phải nhìn nhận những chính sách tích cực
của Chính phủ : thăm hỏi các gia đình thương binh liệt sĩ, các hộ nghèo, xây
dựng các nhà tình nghĩa, hỗ trợ 50% giá một bảo hiểm y tế đối với các hộ

Bài tập lớn Kinh tế Vĩ mô
Nguyễn Thị Hồng Ngọc QKT 51 – ĐH2
- Trong từng khu vực, cho phéo áp dụng mức lương tối thiểu khác nhau,
bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu chung. Đối với khu vực hành chính
nhà nước, căn cứ vào khả năng ngân sách, từng bước điều chỉnh mức lương
tối thiểu cao hơn mức lương thiểu sàn để đảm bảo cho cán bộ, công chức có
thu nhập ở mức trung bình khá trong xã hội.
- Đối với doanh nghiệp nhà nước, tùy thuộc vào mức tăng năng suất lao
động và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, tùy kết quả hoạt động dịch vụ và
khả năng tự bảo đảm kinh phí mà quyết định mức lương tối thiểu áp dụng
trong đơn vị.
- Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mức lương tối thiểu được
quy định riêng sao cho đảm bảo quyền lợi và cuộc sống của người lao động
Việt Nam.
2. Về quan hệ tiền lương (tối thiểu – trung bình - tối đa).
Từ tháng 10 năm 2004, điều chỉnh quan hệ tiền lương tối thiểu - trung
bình - tối đa từ 1 - 1,78 – 8,5 đến 1 – 2,34 – 10 (áp dụng cho chuyên gia cao
cấp bậc 3).
Theo đó, mức lương trung bình của một người tốt nghiệp đại học hết tập
sự (kỹ sư bậc một) tăng thêm 31,5% (từ 1,78 lên 2,34), mức lương tối đa của
chuyên gia cao cấp bậc 3 tăng 17,6% (từ 8,5 lên 10).
3. Về hệ thống thang lương, bảng lương.
- Đối với cán bộ lãnh đạo (bầu cử, bổ nhiệm) : thực hiên nguyên tắc lương
chuyên môn cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo. Giao ban cán sự Đảng
25

Trích đoạn Phân tích và đánh giá dựa trên cơ sở thông tin thu nhập được.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status