Bài tập lớn kinh tế vĩ mô nghiên cứu về cán cân thanh toán quốc tế - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
Bộ môn Kinh Tế
********o0o********
BÀI TẬP LỚN
Môn kinh tế vĩ mô 1
Đề bài: Tìm hiểu cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam thời kì 2000 –
2006
Ngày giao đề: 09/11/2009
Ngày hoàn thành: 23/11/2009
Sinh viên: Phùng Công Hưng
Lớp : KTB49-ĐH2
Trưởng bộ môn Giáo viên hướng dẫn
Nguyễn Lan Hương Nguyễn Kim Loan

Hải Phòng 2009
1.Lời mở đầu
Các vấn đề kinh tế xuất hiện do chúng ta mong muốn nhiều hơn so với
cái mà chúng ta có thể nhận được. Chúng ta muốn một thế giới an toàn và hòa
bình. Chúng ta muốn có không khí trong lành và nguồn nước sạch. Chúng ta
muốn sống lâu và khỏe. Chúng ta muốn có các trường đại học, cao đẳng và phổ
thông chất lượng cao. Chúng ta muốn sống trong các căn hộ rộng rãi và đầy đủ
tiện nghi. Chúng ta muốn có thời gian để thưởng thức âm nhạc, điện ảnh, chơi
thể thao, đọc truyện, đi du lịch, giao lưu với bạn bè, …
Việc quản lí nguồn lực của xã hội có ý nghĩa quan trọng vì nguồn lực có
tính khan hiếm. Kinh tế học là môn học nghiên cứu cách thức sử dụng các
nguồn lực khan hiếm nhằm thỏa mãn các nhu cầu không có giới hạn của chúng
ta một cách tốt nhất có thể.
Kinh tế học vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học, nghiên cứu về
cách ứng xử nói chung của mọi thành phần kinh tế, cùng với kết quả cộng
hưởng của các quyết định cá nhân trong nền kinh tế đó. Những vấn đề then chốt

nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất hàng hoá và dịch vụ thoả mãn nhu
cầu của cá nhân và toàn xã hội
- Kinh tế học vã mô - một phân ngành của kinh tế học – nghiên cứu sự vận
động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vĩ mô gồm:
+ Phương pháp phân tích cân bằng tổng hợp
+ Tư duy trừu tượng
+ Phân tích thống kê số lớn
+ Mô hình hoá kinh tế
•Hệ thống kinh tế vĩ mô
Có nhiều cách mô tả hoạt động của nền kinh tế. Theo cách tiếp cận hệ thống
- gọi là hệ thống kinh tế vĩ mô hệ thống này được đặc trưng bởi ba yếu tố:
Đầu vào, đầu ra và hộp đen kinh tế vĩ mô
Các yếu tố đầu vào bao gồm:
- Những tác động từ bên ngoài bao gồm chủ yếu các biến tố phi kinh tế: thời
tiết, dân số, chiến tranh…
- Những tác động chính sách bao gồm các công cụ của Nhà nước nhằm điều
chỉnh hộp đen kinh tế vĩ mô, hướng tới cscs mục tiêu đã định trước.
Các yếu tố đầu ra bao gồm: sản lượng, việc làm, giá cả, xuất-nhập khẩu. Đó
là các biến do hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô tạo ra.
Yếu tố trung tâm của hệ thống là hộp đen kinh tế vĩ mô, còn gọi là nền kinh
tế vĩ mô. Hoạt động của hộp đen như thế nào sẽ quyết định chất lượng của
các biến đầu ra. Hai lực lượng quyết định sự hoạt động của hộp đen kinh tế
vĩ mô là tổng cung và tổng cầu
+ Tổng cung bao gồm tổng khối lượng sản phẩm quốc dân mà các doanh
nghiệp sẽ sản xuất và bán ra trong một thời kỳ tương ứng với giá cả, khả
năng sản xuất và chi phí sản xuất đã cho. Tổng cung liên quan đến khái niệm
sản lượng tiềm năng. Đó là sản lượng tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất
ra trong điều kiện toàn dụng nhân công, mà không gây nên lạm phát. Sản

+ Công cụ
Để đạt được những mục tiêu trên kinh tế vĩ mô trên, Nhà nước có thể sử
dụng nhiều công cụ chính sách khác nhau. Mỗi chính sách lại có công cụ
riêng biệt. Dưới đây là một số chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu mà chính
phủ ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thường sử dụng trong
lịch sử lâu dài và đa dạng của họ.
* Chính sách tài khoá: Là việc chính phủ sử dụng thuế khoá và chi tiêu công
cộng để tác động đến nền kinh tế hướng nền kinh tế tới mức sản lượng và
việc làm mong muốn
Công cụ: chi tiêu của chính phủ (G)
thuế (T)
Đối tượng: Quy mô của chi tiêu công cộng
Chi tiêu của khu vực tư nhân
Sản lượng
Mục tiêu: Ngắn hạn: ổn định nền kinh tế
Dài hạn : hướng nền kinh tế đến sự phát triển lâu dài
* Chính sách tiền tệ: tác động đến đầu tư tư nhân, hướng nền kinh tế tới mức
sản lượng và việc làm mong muốn
Công cụ: Mức cung tiền (MS)
Lãi suất (i)
Đối tượng: Tác động đến đầu tư (I)
Chi tiêu của hộ gia đình (C)
Tiết kiệm (S)
Tỷ giá hối đoái (e)
Mục tiêu (giống chính sách tài khoá)
* Chính sách thu nhập: bao gồm các biện pháp mà chính phủ sử dụng nhằm
tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả và để kiềm chế lạm phát
Công cụ: Tiền lương danh nghĩa (Wn)
Đối tượng: Chi tiêu của các hộ gia đình (C)
Tổng cung ngắn hạn

Sự kiện lịch sử của nhiều nước cho thấy những thời kỳ kinh tế phát đạt, tăng
trưởng cao thì lạm phát có xu hướng tăng lên và ngược lại. Song mối quan
hệ giữa tăng trưởng và lạm phát như thế nào, đâu là nguyên nhân, đâu là kết
quả? Vấn đề này kinh tế vĩ mô chưa có câu trả lời rõ ràng.
- Lạm phát và thất nghiệp
Các nhà kinh tế cho rằng, trong thời kỳ ngắn thì lạm phát càng cao, thất
nghiệp càng giảm. Trong thời kỳ dài chưa có cơ sở nói rằng lạm phát và thất
nghiệp có mối quan hệ “ trao đổi”. Trong thời kỳ dài tỷ lệ thất nghiệp phụ
thuộc một cách cơ bản vào tỷ lẹ lạm phát trong suốt thời gian đó
Trong điều kiện nước ta, quá trình chuyển đổi kinh tế chưa hoàn tất, các yếu
tố thị trường còn non yếu và chưa phát triển đồng bộ, Nhà nước đóng vai trò
quan trọng trong việc quản lý và điều tiết nền kinh tế. Vì vậy khi nghiên cứu
những mối quan hệ này trong điều kiện nước ta cần chú ý những đặc điểm
trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, tránh rập khuôn máy móc.
A2. Vị trí của môn học trong chương trình học đại học
Kinh tế học vĩ mô là một trong hai bộ phạn hợp thành kinh tế học
Trong chương trình học đại học kinh tế học vĩ mô có vai trò quan trọng
trong việc tiếp tục bổ sung cho kinh tế học vi mô, đồng thời trang bị cho
sinh viên tầm nhìn kinh tế sâu rộng hơn trên phạm vi kinh tế quốc gia với
vai trò của một nhà hoạch định kinh tế cho đất nước. Vì vậy, việc học tập và
nghiên cứu kinh tế vĩ mô là cần thiết với tất cả sinh viên nói chung, đặc biệt
hơn là với sinh viên học kinh tế, để có một kiến thức và tầm nhin tổng quát
về kinh tế trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay.
Kinh tế học vĩ mô là một trong những chủ đề quan trọng nhất đối với
sinh viên vì tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của sinh
viên. Mức việc làm và mức thất nghiệp chung sẽ quyết định khả năng tìm
kiếm việc làm sau của chúng ta sau khi tốt nghiệp, khả năng thay đổi công
việc và khả năng thăng tiến trong tương lai. Mức lạm phát sẽ ảnh hưởng đến
lãi suất mà chúng ta có thể nhận được từ khoản tiết kiệm của chúng ta trong
tương lai.

năm 1993, cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm bốn thành phần
sau.
* Tài khoản vãng lai:
Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và một số
chuyển khoản.
Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh
toán của một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữa
người cư trú trong nước với người cư trú ngoài nước. Những giao dịch dẫn
tới sự thanh toán của người cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước
được ghi vào bên "nợ" (theo truyền thống kế toán sẽ được ghi bằng mực đỏ).
Còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước cho
người cư trú trong nước được ghi vào bên "có" (ghi bằng mực đen). Thặng
dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớn hơn bên nợ.
Theo quy tắc mới về biên soạn báo cáo cán cân thanh toán quốc gia
do IMF soạn năm 1993, tài khoản vãng lai bao gồm:
1. Cán cân thương mại hàng hóa
1. Xuất khẩu
2. Nhập khẩu
2. Cán cân thương mại phi hàng hóa
1. Cán cân dịch vụ
1. Vận tải
2. Du lịch
3. Các dịch vụ khác
2. Cán cân thu nhập
1. Kiều hối
2. Thu nhập từ đầu tư
3. Các chuyển khoản
Tất cả các khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được
gộp chung vào trong tính toán này.
Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương mại là thành phần quan

là yếu tố tự định.
-Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó
ảnh hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng
hóa trên thị trường quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng
lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng
xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá
đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu
dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ
giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất
khẩu ròng tăng lên. Ví dụ, một bộ ấm chén sứ Hải Dương có giá 70.000
VND và một bộ ấm chén tương đương của Trung Quốc có giá 33 CNY
(Nhân dân tệ). Với tỷ giá hối đoái 2.000 VND = 1 CNY thì bộ ấm chén
Trung Quốc sẽ được bán ở mức giá 66.000 VND trong khi bộ ấm chén
tương đương của Việt Nam là 70.000 VND. Trong trường hợp này ấm chén
nhập khẩu từ Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh hơn. Nếu VND mất già và tỷ
giá hối đoái thay đổi thành 2.300 VND = 1 CNY thì lúc này bộ ấm chén
Trung Quốc sẽ được bán với giá 75.900 VND và kém lợi thế cạnh tranh hơn
so với ấm chén sản xuất tại Việt Nam
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư
thương mại. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư
thương mại mang giá trị dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất
khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là
thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, cần lưu ý là các khái niệm xuất khẩu, nhập
khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý luận thương
mại quốc tế rộng hơn các trong cách xây dựng bảng biểu cán cân thanh toán
quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ.
Cùng với tài khoản vốn, và thay đổi trong dự trữ ngoại hối, nó hợp
thành cán cân thanh toán.
Tài khoản vãng lai thặng dư khi quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu,
hay khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tư. Ngược lại, tài khoản vãng lai thâm hụt

Khi đồng tiền trong nước lên giá so với ngoại tệ, cũng có nghĩa là tỷ giá hối
đoái danh nghĩa giảm, dòng vốn vào sẽ giảm đi, trong khi dòng vốn ra tăng lên.
Hậu quả là, tài khoản vốn xấu đi. Ngược lại, khi đồng tiền trong nước mất giá
(tỷ giá tăng), tài khoản vốn sẽ được cải thiện
Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước
Dự trữ ngoại hối nhà nước, thường gọi tắt là dự trữ ngoại hối hoặc dự trữ ngoại
tệ là lượng ngoại tệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quan hữu trách tiền tệ
của một quốc gia hay lãnh thổ nắm giữ. Đây là một loại tài sản của Nhà nước
được cất giữ dưới dạng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh như: Dollar Mỹ,
Euro, Yên Nhật, v.v ) nhằm mục đích thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ giá trị
đồng tiền quốc gia.
Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương. Do tổng
của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ, nên gần
như tăng giảm cán cân thanh toán là do tăng giảm dự trữ ngoại hối tạo nên.
Dự trữ ngoại hối nhà nước
Dự trữ ngoại hối nhà nước, thường gọi tắt là dự trữ ngoại hối hoặc dự trữ ngoại
tệ là lượng ngoại tệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quan hữu trách tiền tệ
của một quốc gia hay lãnh thổ nắm giữ. Đây là một loại tài sản của Nhà nước
được cất giữ dưới dạng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh như: Dollar Mỹ,
Euro, Yên Nhật, v.v ) nhằm mục đích thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ giá trị
đồng tiền quốc gia.
-Hình thức dự trữ
Ngoại hối có thể được dự trữ dưới hình thức:
• Tiền mặt
• Số dư của tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài
• Hối phiếu , trái phiếu hoặc các giấy tờ ghi nợ khác của chính phủ nước
ngoài, ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế
• Vàng
• Các loại ngoại hối khác
-Tiêu chí đánh giá quy mô dự trữ

cán cân thanh toán đó. Trong số những chính sách tiền tệ tín dụng được sử
dụng để thu hút tư bản vào, thì chính sách chiết khấu được sử dụng phổ
biến hơn.
Để thu hút được một lượng tư bản từ thị trường nước ngoài vào nước mình
thì Ngân hàng Trung ương sẽ nâng lãi suất chiết khấu, dẫn đến lãi suất tín
dụng trên thị trường tăng lên làm kích thích tư bản nước ngoài dịch
chuyển vào.
Thế nhưng biện pháp này chỉ góp phần tạo ra sự cân bằng cho cán cân
thanh toán trong trường hợp bội chi không lớn lắm và cũng chỉ giải quyết
nhu cầu tạm thời.
Cần lưu ý rằng, biện pháp nâng lãi suất chiết khấu chỉ có hiệu quả khi tình
hình kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia đó tương đối ổn định, tức là ít
rủi ro trong đầu tư tín dụng.
Phá giá tiền tệ: Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, một số
nước tư bản đã sử dụng chính sách phá giá tiền tệ như là một công cụ hữu
hiệu, góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và bình ổn tổng giá hối
đoái.
Phá giá tiền tệ là sự công bố của Nhà nước về sự giảm giá đồng tiền của
nước mình so với vàng hay so với một hoặc nhiều đồng tiền nước khác. Phá
giá tiền tệ để tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu từ
đó cải thiện điều kiện cán cân thanh toán.
Nhưng chúng ta cũng cần nhận thấy rằng, phá giá tiền tệ chỉ là một trong
những yếu tố có tính chất tiền đề cho việc đẩy mạnh xuất khẩu mà thôi.
Còn kết quả hoạt động xuất khẩu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như
năng lực sản xuất, khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Như vậy, có nhiều biện pháp cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, song
việc lựa chọn phương pháp nào thì phải xuất phát từ kết quả phận tích
những nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng thiếu hụt của cán cân, phải
xem xét tình hình cụ thể, toàn diện của quốc gia đó cũng như tình hình
quốc tế có liên quan để lựa chọn và sử dụng biện pháp thích hợp và hữu

tốc vào những tháng cuối năm, chúng ta có thể hy vọng đạt được mục tiêu
tăng 16% cả năm, nhưng ngay trong tháng 9, tốc độ tăng xuất khẩu đã bắt
đầu “rơi tự do” và cứ sau mỗi tháng lại “tụt dốc” thêm một bậc.
Hiển nhiên, tuy thị trường Mỹ khổng lồ nhất thế giới, nhưng ở thời
điểm này, tác động trực tiếp của nó đối với việc xuất khẩu của nước ta “rơi
tự do” như vậy là rất nhỏ, bởi hai lẽ. Trước hết, xét về quy mô, kim ngạch
xuất khẩu của nước ta sang thị trường Mỹ năm 2001 chỉ mới đạt 1,065 tỷ
USD và chỉ chiếm 7,09% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Những điều đó có nghĩa là, những tác động gián tiếp của sự kiện
11/9 đến sự “tụt dốc” của “đoàn tàu xuất khẩu” nước ta mới là chủ yếu. Bởi
lẽ, trong khi kim ngạch xuất khẩu của nước ta sang thị trường Mỹ tăng phi
mã như vậy, thì xuất khẩu sang hầu như tất cả các thị trường khác, trước hết
là các thị trường chủ yếu ở khu vực châu Á, hoặc là giảm, hoặc “giậm chân
tại chỗ hoặc chỉ giảm nhẹ. Sở dĩ như vậy là do xuất khẩu của hầu hết các
quốc gia này cũng có “đích đến” rất quan trọng là thị trường Mỹ, và một khi
“đích đến” này bị thu nhỏ, tất yếu sẽ gây ra tình trạng trì trệ dây chuyền.
Việc tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu năm 2000 tăng phi mã 13,28%,
nhưng năm 2001 đột ngột giảm 3,86%, còn thị trường Mỹ chiếm tới 19-
19,5%, “rổ hàng hoá nhập khẩu” này thì cặp số liệu tương ứng là 18,74% và
-6,15% cho thấy rất rõ điều đó.
Bên cạnh đó, khoảng thời gian hơn một năm cũng là quá ngắn để các
nhà đầu tư Mỹ có thể tăng vốn đầu tư vào thị trường nước ta.
Bằng chứng là, sau khi sự kiện 11/9 khiến cả thế giới rung chuyển đã
diễn ra được gần 3 tuần lễ, nhưng dựa trên tốc độ xuất khẩu ước thực hiện
10,5% của 9 tháng, Tổng cục Thống kê vẫn cho rằng sẽ không diễn ra các
bước “tụt dốc” nói trên, cho nên đã dự báo cả năm 2001 đạt 16 tỷ USD,
tương ứng với tốc độ tăng “không tưởng” 10,7%, nhưng thực tế chỉ đạt xấp
xỉ 3,8% và đây cũng là một căn cứ rất quan trọng để đưa ra một dự báo
“không tưởng” khác là tốc độ tăng GDP cả năm sẽ đạt 7,1% (thực tế chỉ đạt
6,89%), bởi khoản kim ngạch xuất khẩu bị “hụt” so với dự báo gần 1 tỷ

Về tình hình thiên tai; lũ lụt đặc biệt ở các tỉnh miền Trung năm nào
cũng gây ra những mất mát rất lớn về tính mạng và tài sản cho nhân dân nơi
đây. Các đợt nắng nóng ở miền Bắc làm ảnh hưởng đến sản lượng lúa, ảnh
hưởng đến đới sống nông dân.
Tóm lại: nền kinh tế việt nam trong giai đoạn này tuy có nhiều điều
kiện thuận lợi hơn các giai đoạn trước nhưng cũng có nhiều khó khăn cần
khắc phục. Lạm phát tuy đã giảm nhưng vẫn còn ảnh hưởng đén nền kinh tế,
Hơn nữa đây là giai đoạn chịu nhiều ảnh hưởng của tình hình thế giới, đặc
biệt về lĩnh vực kinh tế ngoại thương thì càng chịu nhiều ảnh hưởng do các
đối tác nước ngoài của chúng ta rơi vào khó khăn. Vì có những bất ổn về
kinh tế như vậy, CP Việt Nam phải kịp thời đưa ra các chính sách kinh tế vĩ
mô đặc biệt chính sách kinh tế đối ngoại trong giai đoạn này là rất cần thiết
để vừa giữ gìn sự ổn định của nền kinh tế vừa thực hiện mục tiêu tăng
trưởng, vừa hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế vừa bảo vệ nền kinh
tế nước nhà trước những cơn biến động của thế giới.
B. Thu thập số liệu về các khoản mục trong cán cân thanh
toán quốc tế thời kì 2000-2006.
Ngân hàng Nhà nước đã từng công bố cán cân thanh toán quốc tế của VN năm 2005 thặng dư khoảng
1,9 tỷ USD, gấp hơn hai lần so với mức 863 triệu USD năm trước. Đóng góp một phần không nhỏ vào kết
quả này là 750 triệu USD vốn nước ngoài vay được sau đợt phát hành trái phiếu quốc tế hồi tháng 11.
Theo nhận định của Ngân hàng Nhà nước, diễn biến cán cân thanh toán quốc tế của VN năm 2005
chịu nhiều tác động bởi việc giá cả hàng hoá tăng cao, thiên tai, bão lụt liên tiếp xảy ra trên nhiều vùng trong
cả nước.
Bên cạnh đó, tình hình kinh tế quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, giá dầu tăng mạnh, giá vàng và lãi
suất trên thị trường quốc tế có chiều hướng tăng, dịch cúm gia cầm có nguy cơ lan rộng trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, thâm hụt cán cân vãng lai tiếp tục được thu hẹp và cán cân vốn thặng dư ở mức cao, góp phần cải
thiện tình hình cán cân thanh toán nói chung.
Dự kiến, cán cân vãng lai cả năm thâm hụt khoảng 270 triệu USD (chiếm 0,5% GDP) giảm mạnh so
với mức thâm hụt 969 triệu USD (2,1% GDP) của năm 2004, chủ yếu do cán cân thương mại và dịch vụ được
thu hẹp.

Việt Nam gia nhập WTO như sau:
Ngay sau khi gia nhập WTO, cán cân thương mại tiếp tục xu hướng thâm
hụt và có thể ở mức cao hơn giai đoạn 2001-2005.
- Về xuất khẩu, trong giai đoạn 2001-2005, xuất khẩu đạt mức tăng trưởng
cao, bình quân 16,3%/năm. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt 32,4 tỷ USD
(bằng khoảng 60% GDP), 6 tháng đầu năm 2006 đạt 18,7 tỷ USD, tăng 26%
so với cùng kỳ năm ngoái. Khi gia nhập WTO Việt Nam phải cắt giảm thuế
quan, xoá bỏ các hàng rào phi thuế quan (hạn ngạch, cấp phép xuất- nhập
khẩu) xoá bỏ trợ cấp, mở cửa thị trường, tạo sân chơi bình đẳng cho các
doanh nghiệp trong và ngoài nước (gọi là dành sự đối xử quốc gia), bảo đảm
vệ sinh, an toàn thực phẩm, tài sản trí tuệ và bản quyền. Điều đó tạo thuận lợi
cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia trên sân chơi chung và được đối xử
công bằng. Tuy nhiên, khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước còn
thấp, trong khi đó đối tác nước ngoài đi trước rất xa về thời gian, trình độ
công nghệ, kinh nghiệm,
Do đó, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thể sẽ biến động mạnh theo
hướng cơ cấu các mặt hàng công nghiệp tăng nhanh, mặt hàng chủ lực truyền
thống tăng chậm. Nhóm hàng có kim ngạch thấp hiện nay như hàng máy vi
tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, túi xách, ô
dù, mũ, vali, sản phẩm gốm sứ, dây điện và dây cáp điện, xe đạp và phụ tùng
xe đạp chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu, sẽ tham gia vào thị
trường rộng lớn hơn, có thể tăng tốc.
Hàng dệt may, giày dép chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch gặp khó khăn
hơn trong việc tăng nhanh kim ngạch do phải cạnh tranh trực tiếp với hàng
dệt may của Trung Quốc, Ấn Độ Bởi vì, hàng dệt may của Việt Nam là
loại gia công, hàng cấp trung bình cùng đẳng cấp với hàng dệt may các nước
trong khu vực. Đồng thời, thuế suất đối với hàng dệt may Việt Nam trung
bình là 15%, bằng mức thuế của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan. Đặc
biệt, hàng Việt Nam phải cạnh tranh với hàng của nhóm các nước Caribe,
Canada và Mexico chỉ chịu thuế 0%. Theo các chuyên gia kinh tế, năng lực

do chưa phải là nền kinh tế thị trường.
Khi gia nhập WTO, nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc, ASEAN, Đài
Loan tăng nhanh do thuế suất sẽ giảm từ 40-50% xuống còn 5-15%, đồng
thời khâu phân phối của các nước này tốt hơn của Việt Nam. Quyền kinh
doanh của họ trên thị trường nội địa nước ta như quyền phân phối hàng hoá,
chất lượng, giá cả được ưu đãi do làm tốt khâu phân phối, hoá hàng sẽ lan toả
nhanh, thương hiệu phổ biến rộng rãi trên thị trường Việt Nam.
Cán cân dịch vụ tiếp tục có xu hướng thâm hụt. Năm 2005, tổng thu, chi
dịch vụ chiếm khoảng 14% tổng kim ngạch thương mại hàng hoá dịch vụ và
triển vọng có thể đạt tỷ trọng 20% trong thời gian tới. Thu các ngành dịch vụ
du lịch, hàng không, tài chính tăng nhanh do gia nhập WTO, Việt Nam đã
cam kết mở cửa hầu hết ngành dịch vụ. Hầu hết các ngành dịch vụ hỗ trợ
kinh doanh như tư vấn kế toán, thiết kế, kiến trúc, xây dựng, dịch vụ liên
quan đến máy tính, văn hoá giải trí được mở cửa ngay cho nhà đầu tư nước
ngoài. Hiện nay còn hạn chế nhà đầu tư nước ngoài vào một số ngành dịch vụ
như bảo hiểm phi nhân thọ, vận tải, dịch vụ quảng cáo, phần mềm máy
tính Trong ngành viễn thông, công ty nước ngoài được sở hữu phần lớn
trong các liên doanh cung cấp dịch vụ viễn thông cố định, di động thực hiện
thông qua thuê đường truyền, hệ thống dữ liệu, dịch vụ vệ tinh và cáp ngầm
dưới biển của công ty Việt Nam. Do đó, xu hướng thu hút FDI trong lĩnh vực
dịch vụ tăng mạnh sẽ góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ. Tuy nhiên,
chi dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, đặc biệt là dịch vụ vận tải và bảo
hiểm hàng hoá nhập khẩu sẽ tăng do kim ngạch nhập khẩu tăng.
Thâm hụt cán cân thu nhập gia tăng do phần thu của các hạng mục thu
nhập đầu tư (gồm thu lãi tiền gửi của hệ thống ngân hàng, thu cổ tức từ hoạt
động đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài và đầu tư vào chứng khoán
do người không cư trú phát hành) tăng với tốc độ thấp hơn tốc độ tăng chi
của các hạng mục này. Bởi vì, hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài
mới ở giai đoạn đầu nên khả năng thu lãi và cổ tức chưa cao, trong khi luồng
vốn FDI và vay nợ nước ngoài được thu hút trong thời gian qua tăng và sẽ

hút nguồn vốn nước ngoài dưới hình thức này. Đồng thời mở cửa thị trường
vốn, đặc biệt khi gia nhập WTO, uy tín của Việt Nam được nâng lên, việc thu
hút nguồn vốn qua kênh này dễ dàng hơn. Thị trường chứng khoán Việt Nam
dần hoàn thiện do quy định trong lĩnh vực chứng khoán đối với nhà đầu tư
nước ngoài nắm giữ tỷ lệ cổ phiếu lớn hơn, đặc biệt số doanh nghiệp cổ phần
tại Việt Nam gia tăng mạnh mẽ trong thời gian tới sẽ tạo hàng hoá cho thị
trường chứng khoán thu hút hơn đầu tư chứng khoán.
Thặng dư vay nợ nước ngoài khác tiếp tục tăng trưởng ở mức cao. Năm
2005, chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế cam kết cho Việt Nam vay
3,4 tỷ USD. Trong thời gian tới, nguồn vốn này tiếp tục tăng cao do chính
sách mở cửa hội nhập kinh tế của Việt Nam đặc biệt là việc gia nhập WTO
đã góp phần làm cho môi trường thu hút và sử dụng vốn được cải thiện, tạo
lòng tin của các nhà tài trợ đối những cam kết cải cách thể chế của Chính phủ
Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề tham nhũng, hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA
đang đặt ra thách thức đối với thu hút nguồn vốn này trong thời gian tới. Do
đó, cần trong thời gian tới việc kiểm soát các khoản vay ngắn hạn và tăng
cường, nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA cần được coi trọng.
Tóm lại, trong thời gian tới ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO với
những xu hướng của các cán cân bộ phận nêu trên. Cán cân vãng lai tiếp tục
xu hướng thâm hụt với mức độ cao hơn giai đoạn 2001-2005. Cán cân vốn
được cải thiện mạnh mẽ do vốn nước ngoài tiếp tục chảy vào khi Việt Nam
mở cửa hoạt động thương mại đầu tư, bao gồm ODA và FDI, đầu tư gián
tiếp. Dự báo trong năm 2007 , tỷ trọng các nguồn vốn này có thể lên tới 35%
tổng đầu tư toàn xã hội so với 30% năm 2006 và khoảng 20% giai đoạn
2001-2005. Điều này tạo thuận lợi cho Việt Nam ổn định cán cân thanh toán
về trung hạn. Việc thâm hụt cán cân vãng lai có thể thu hẹp dần tiến tới cân
bằng và thặng dư phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh hàng hoá và dịch vụ của
Việt Nam được cải thiện và việc sử dụng các nguồn vốn nước ngoài có hiệu
quả ở mức nào.
Trong thời gian tới Việt Nam cần có giải pháp nâng cao khả năng cạnh

1,100 1,767 2,100 2,919 3,150 3,800
Khu vực kinh tế
chính phủ
150 154 139 174 230 249
Tổng cộng
(1+2+3+4)=(5)
682 -603 -1,931 -1,591 -497 -164
Đầu tư nước
ngoài(6)
1,300 1,400 1,450 1,610 1,889 2,315
Vay trung hạn và
dài hạn(7)
139 -51 457 1,162 921 1,025
Vay ngắn hạn(8) -22 7 26 -54 46 -30
Vốnđầutưtưnhân(
9)
– – – – 865 1,313
(10) -1,197 624 1,372 35 -634 -1,535
Tong cong
(6+7+8+9+10)=(
11)
220 1,980 2,533 2,753 3,087 3,088
Sai số (12) -862 -1,020 777 -279 -459 1,398
Cán cân toàn
diện (5+11+12)
40 357 2,151 883 2,131 4,322


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status