TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
∞©∞
BÀI TẬP LỚN
MÔN KINH TẾ VĨ MÔ 1
Đề bài : Tìm hiểu việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế của
Việt Nam thời kì 2001 - 2005
Ngày giao đề : 27/10/2011
Ngày nộp bài : 24/11/2011
Sinh Viên : Vũ Thành Tâm
Lớp : KTN 51 – ĐH3
Giáo viên hướng dẫn : Trương Thị Như Hà Hải Phòng, tháng 11 năm 2011
1
1.Lời mở đầu
Ổn định, tăng trưởng kinh tế và phân phối công bằng là những mục tiêu cơ
bản được đặt ra trong suôt quá trính phát triển kinh tế của một đất nước. Nền kinh
tế ở điều kiện lạm phát hay suy thoái đều gây ra những tác động không tốt, làm
ảnh hưởng đến cuộc sống của người dan. Vì vậy Chính phủ phải dùng các công
cụ là các chính sách kinh tế vĩ mo để tác dộng vào nền kinh tế hướng nền kinh tế
đến trạng thái ổn định. Bước sang thế kỉ 21, toàn cấu hoá tiếp tục phát triển sâu
rộng và tác động đến tất cả các nước. Các quốc gia lớn nhỏ đang tham gia ngày
càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn
là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của mỗi quốc gia, dân tộc trong qúa trình
phát triển. Tuy nhiên các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột tôn
giáo, chạy đua vũ trang, hoạt đọng can thiệp lật đổ, khủng bố vẫn thường xuyên
xảy ra ở nhiều nơi với tính chất và hình thức ngày càng đa dạng, phức tạp. Thế kỉ
21 đang mở ra những cơ hội to lớn nhưng cũng chứa đựng nhiều thách thức. Nền
kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập được hưởng những cơ hội lớn
Kinh tế học được phân thành 2 ngành: kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi
mô.
- Kinh tế học vĩ mô:
Kinh tế học vĩ mô là một bộ phận của khoa học kinh tế, nghiên cứu sự vận
động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trong phạm vi toàn
bộ nền kinh tế quốc dân của một đất nước nghĩa là kinh tế học vĩ mô nghiên cứu
sự lựa chọn của mỗi quốc gia trước các vấn đề kinh tế cơ bản bao gồm: tăng
trưởng, thất nghiệp, phát, xuất nhập khẩu, sự phân phối nguồn lực và thu nhập
giữa các thành viên trong nền kinh tế
Loại hình này tương phản với kinh tế học vi mô chỉ nghiên cứu về cách ứng
xử kinh tế của cá nhân người tiêu dùng, nhà máy, hoặc một loại hình công nghiệp
nào đó.
Những vấn đề then chốt được kinh tế học vĩ mô quan tâm nghiên cứu bao
gồm mức sản xuất, thất nghiệp, mức giá chung và cán cân thương mại của một
nền kinh tế. Phân tích kinh tế học vĩ mô hướng vào giải đáp các câu hỏi như: Điều
gì quyết định giá trị hiện tại của các biến số này? Điều gì quy định những thay đổi
của các biến số này trong ngắn hạn và dài hạn? Thực chất chúng ta khảo sát mỗi
biến số này trong những khoảng thời gian khác nhau: hiện tại, ngắn hạn và dài
hạn. Mỗi khoảng thời gian đòi hỏi chúng ta phải sử dụng các mô hình thích hợp
để tìm ra các nhân tố quyết định các biến kinh tế vĩ mô này.
Tăng trưởng, ổn định, phân phối công bằng và các chính sách kinh tế vĩ mô
để thực hiện những mục tiêu đó. Tổng cầu, tổng cung và sản lượng cân bằng, mức
giá chung. Thất nghiệp, lạm phát, và mối quan hệ giữa chúng cũng được đề cập.
Không chỉ nghiên cứu kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế đóng mà ngày nay để phù
hợp với điều kiện mới còn phải nghiên cứu trong điều kiện mở. Tất các vấn đề
trên đều được đề cập trong môn học kinh tế vĩ mô.
3
b. Phân tích các chức năng của chính phủ và các mục tiêu kinh tế vĩ mô
chủ yếu
• Chức năng của chính phủ:
với tỉ lệ lạm phát tương đối cao nhưng cũng có thời điểm nền kinh tế suy thoái
nặng nề kèm theo tỉ lệ thất nghiệp ngày càng tăng. Để ổn định nền kinh tế, CP
4
phải thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp nhằm giữu được đà tăng
trưởng và ổn định trật tự xã hội
• Các mục tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu
- Các mục tiêu tổng quát
Mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản là đạt được sự ổn định trong ngắn hạn, tăng
trưởng nhanh trong dài hạn, và phân phối của cải một cách công bằng
+Sự ổn định: là kết quả của việc giải quyết những vấn đề kinh tế cấp bách
như lạm phát, thất nghiệp
+ Tăng trưởng kinh tế: đòi hỏi giải quyết các vấn đề dài hạn hơn liên quan
đến sự phát triển kinh tế
+ Phân phối công bằng: là vấn đề nền kinh tế phải giải quyết thường
xuyên để đảm bảo sự ổn định và tăng trưởng
- Các mục tiêu cụ thể:
+ sản lượng:
Trong ngắn hạn: đạt được sản lượng thực tế cao tương ứng với sản lượng
tiềm năng
Trong dài hạn: làm tăng sản lượng tiềm năng để đảm bảo tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao và bền vững
+ Việc làm: tạo được nhiều việc làm có thu nhập cao
+ Ổn định giá cả: giữ được giá cả không tăng hoặc không giảm quá nhanh
trong điều kiện kinh tế tự do
+ Kinh tế đối ngoại : ổn định tỉ giá hối đoái, đạt được cân bằng cán cân
thanh toán quốc tế và cán cân thương mại
+ Phân phối công bằng: Một số nước coi mục tiêu này là một trong các
mục tiêu quan trọng
Nhận xét: Những mục tiêu trên thể hiện nền kinh tế ở trạng thái lí tưởng
trong đó sản lượng ở mức toàn dụng nhân công, không có lạm phát, cán cân thanh
- Phương thức tác động nền kinh tế:
Trong điều kiện lạm phát: tăng thuế và giảm chi tiêu CP hoặcthựchiện đồng
thời cả hai thì tổng cầu giảm dẫn đến sản lượng giảm ,giágiảm và nền kinh tế
thoát khỏi lạm phát
Trong nền kinh tế suy thoái: giảm thuế và tăng chi tiêu CP thì tổng cầu tăng
dẫn đến sản lượng tăng, tỉ lệ thất nghiệp giảm và nền kinh tế thoát khỏi lạm phát
• Chính sách tiền tệ
- ĐN: là chính sách tác dộng đến đầu tư tư nhân, hướng nền kinh tế tới mức
sản lượng và việc làm mong muốn
- Công cụ: mức cung tiền (MS) và lãi suất (i)
- Đối tượng: đầu tư, chi tiêu của các hộ gia đình, tiết kiệm,tỷ giá hối đoái
- Mục tiêu: giống chính sách tài khoá
- Phương thức tác động đến nền kinh tế:
6
Trong điều kiện lạm phát: tăng lãi suất, giảm mức cung tiền hoặc thực hiện
đồng thời cả hai sẽ làm tổng cầu giảm, sản lượng giảm, giá giảm và nền kinh tế
thoát khỏi lạm phát
Trong điều kiện suy thoái: giảm lãi suất và tăng mức cung tiền hoặc thực
hiện đồng thời cả hai sẽ làm tăng tổng cầu, tăng sản lượng , tỉ lệ thất nghiệp giảm
và nền kinh tế thoat khỏi suy thoái
• Chính sách thu nhập
- ĐN: bao gồm các biện pháp mà CP sử dụng nhằm tác động trực tiếp đến
tiền công, giá cả và để kiềm chế lạm phát
- Công cụ: tiền lương danh nghĩa (Wn)
- Đối tượng tác động: chi tiêu của các hộ gia đình và tổng cung nhắn hạn
- Mục tiêu: để kiềm chế lạm phát
- Phương thức tác động đến nền kinh tế:
Trong điều kiện lạm phát: cố định tiền lương danh nghĩa trong một thời kì
để kiềm chế lạm phát
Chính sách này sử dụng nhiều lọai công cụ, từ các công cụ có tính chất cứng
Giả sử nền kinh tế đang cân bằng ổn định tại E tương ứng với mức sản
lượng Q
o
và mức giá chung P
o
như hình vẽ:
• Cú sốc làm tăng tổng cầu
Giả sử các tác nhân kinh tế lạc quan hơn về sự phát triển kinh tế, quy định
chỉ tiêu nhiều hơn làm tổng cầu tăng nhanh. Đường tổng cầu dịch chuyển sang
phải từ AD sang AD
1
xác lập điểm cân bằng mới E
1
tương ứng với mức sản lượng
cân bằng Q
1
và mức giá chung P
1
đều tăng tạo nên cú sốc cầu
Chính phủ thực hiện chính sách tài khoá và tiền tệ thắt chặt để ổn định lại
kinh tế. Chính sách tài khoá (giảm chi tiêu ,tăng thuế hoặc thực hiện đồng thời cả
hai ). Chính sách tiền tệ (tăng lãi suất,giảm mức cung tiền hoặc đồng thời cả hai )
Kết quả tổng cầu giảm, đường tổng cầu AD
1
dịch chuyển về AD , khôi phục
điểm cân bằng E ,Q
o
,P
o
P
cắt giảm các khoản chi tiêu làm cho tổng cầu giảm. Đường tổng cầu dịch chuyển
sang trái từ AD sang AD
2
xác lập điểm cân bằng mới E
2
tương ứng với P
2
và Q
2
đề giảm
Chính phủ thực hiện chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ nới lỏng hay
mở rộng.Chính sách tài khoá (tăng chi tiêu, giảm thuế hoặc đồng thời cả hai.
Chính sách tiền tệ (giảm lãi suất, tăng mức cung tiền hoặc đồng thời cả hai)
Kết quả là tổng cầu tăng dần, đường tổng cầu AD
2
dịch chuyển dần trở về
AD, xác lập lại điểm cân bằng E, Q
o
, P
o
cú sốc cung
- ĐN: cú sốc cung là sự thay đổi đột biến của tổng cung do các nguyên
nhân bên trong và bên ngoài hệ thống gây ra, thường do sự thay đổi giá của các
yếu tổ sản xuất
giả sử nền kinh tế đang cân bằng ổn định tại E tương ứng với mức giá chung
P
o
và mức sản lượng Q
o
• cú sốc cung có lợi: là cú sốc cung làm tăng tổng cung
SAS
0 AD
1
AD
0
E
E
1
E
2
9
P
Q2 Q
0
LAS
Nếu CP chọn mục tiêu sản lượng thì sử dụng chính sách tài khoá và tiền
tệ mở rộng. Kết quả tăng sản lượng,Q
1
tiến dần về mức sản lượng tiềm năng Q
o
,
đường cầu dịch chuyển sang phải từ AD
sang AD
1
,xác lập cị trí cân bằng mới E
kinh doanh.
Chương 2
Đánh giá việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế của của Việt Nam thời
kì 2001-2005.
a.Nhận xét chung tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam để đưa ra lí do
phải thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam còn nhiều mặt yếu kém, đã trải qua hầu hết các
loại lạm phát như lạm phát phi mã trong thời kỳ 1986-1988 với tỷ lệ lạm phát
trung bình năm đạt 463,9%/năm; lạm phát cao trong thời kỳ 1989 - 1992, với tỷ lệ
lạm phát bình quân năm tương ứng là 46,7%/năm; lạm phát thấp trong thời kỳ
1996 - 1999 và 2001 - 2003 với tỷ lệ lạm phát tương ứng là 4,4%/năm và
4,3%/năm
Năm 2000 là năm đầu tiên Hiệp định Thương mại Song phương Việt-
Mỹ vừa mới được ký kết (tháng 7/2000), cho nên được hy vọng là sẽ tạo ra “cú
hích” đẩy nền kinh tế nước ta phát triển vượt bậc nhờ hai nguồn động lực. Đó
trước hết là xuất khẩu sẽ tăng đột biến nhờ thị trường nhập khẩu có thể ví như
“chiếc thùng không đáy” so với năng lực xuất khẩu cực kỳ nhỏ của nước ta (kim
10
ngạch xuất khẩu của nước ta ở thời điều này chỉ bằng 1,12% kim ngạch xuất khẩu
của Mỹ).
Tiếp theo, đó là chỉ cần một phần rất nhỏ trong nguồn vốn đầu tư cũng
cực kỳ lớn của “người khổng lồ” này cũng có thể khiến nền kinh tế nước ta tăng
tốc. Mục tiêu tăng trưởng vượt bậc 7,5% năm 2001 của các nhà quản lý sau khi
nền kinh tế thoát khỏi tình trạng liên tục “tụt dốc” do những ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng kinh tế khu vực đạt được tốc độ phát triển ngoạn mục 6,79% năm
2000 có lẽ không ngoài ý tưởng nắm bắt thời cơ này để “thừa thắng xông lên”.
Tuy nhiên, trên thực tế, sự kiện ngày 11/9 đúng vào lúc nền kinh tế thế giới đang
trên đà giảm tốc chính là “thủ phạm chính” khiến cho mục tiêu này đã không trở
thành hiện thực.
cứ rất quan trọng để đưa ra một dự báo “không tưởng” khác là tốc độ tăng GDP
cả năm sẽ đạt 7,1% (thực tế chỉ đạt 6,89%), bởi khoản kim ngạch xuất khẩu bị
“hụt” so với dự báo gần 1 tỷ USD, tương ứng với 3,05% GDP của năm này.
Trong khi đó, cảnh báo về tác động dây chuyền khiến tốc độ xuất khẩu của
nước ta “rơi tự do” dẫn đến sự giảm tốc của nền kinh tế thì bị coi là “lạc lõng”, là
dự báo bi quan.
Ước tổng vốn đầu tư đưa vào nền kinh tế 4 năm 2001-2004 (tính theo giá
2000) khoảng 731.000 tỷ đồng, đạt khoảng 88% kế hoạch 5 năm đề ra. Trong đó,
vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước chiếm 21,9%; vốn tín dụng đầu tư của nhà
nước chiếm 14,7%, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chiếm 17,7%; vốn đầu
tư của tư nhân và dân cư chiếm 25,7%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm
17,3%. Trong 4 năm 2001-2004 cam kết ODA dự kiến đạt khoảng 10,5tỷ USD;
giải ngân ODA ước đạt khoảng 6,2 tỷ USD.
Các quan sát viên kinh tế thế giới đã nhìn thấy những dấu hiệu từ cuối năm
2000 về tăng trưởng chậm lại trên toàn cầu, mà chủ yếu là do kinh tế Mỹ tăng
chậm lại đáng kể, những quan ngại về sự phục hồi trong kinh tế Nhật Bản, viễn
cảnh tăng trưởng ở mức vừa phải của châu Âu, và khả năng suy giảm tăng trưởng
ở một số nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là những nền kinh tế có mối liên hệ mật
thiết với công nghệ và viễn thông toàn cầu, sau cuộc sụt giá nặng nề của các cổ
phiếu trong ngành công nghệ thông tin và viễn thông từ tháng 3-2000, nhất là sau
biến cố khủng bố tại Mỹ vào ngày 11-9-2001. Do đó, mức tăng trưởng cho nền
kinh tế thế giới năm 2001 đã liên tục được ước lượng thấp đi, từ 3,4% (ước lượng
tháng 4-2001 bởi IMF) xuống chỉ còn 2,4% vì ảnh hưởng của khủng bố, theo tính
toán sau cùng (tháng 12-2001) của IMF, so với mức tăng của năm 2000 là 5%, và
năm 1998 với khủng hoảng tài chính châu Á là 6%.
Trong nước, vấn đề ngoại thương còn nhiều yếu kém:quy mô còn nhỏ bé, cơ
cấu xuất khẩu lạc hậu, thị trường bấp bênh, nhiều doanh nghiệp chưa giữ được
chữ tín với doanh nghiệp nước ngoài, công tác quản lí còn nhiều bất cập. Bên
cạnh đó phải nói đến chất lượng các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam còn kém .
Về tình hình thiên tai; lũ lụt đặc biệt ở các tỉnh miền Trung năm nào cũng
chịu nhiều ảnh hưởng của tình hình thế giới, đặc biệt về lĩnh vực kinh tế ngoại
thương thì càng chịu nhiều ảnh hưởng do các đối tác nước ngoài của chúng ta rơi
vào khó khăn. Vì có những bất ổn về kinh tế như vậy, CP Việt Nam phải kịp thời
đưa ra các chính sách kinh tế vĩ mô đặc biệt chính sách kinh tế đối ngoại trong
giai đoạn này là rất cần thiết để vừa giữ gìn sự ổn định của nền kinh tế vừa thực
hiện mục tiêu tăng trưởng, vừa hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế vừa
bảo vệ nền kinh tế nước nhà trước những cơn biến động của thế giới.
b. Thu thập các thông tin về các chính sách mà CP Việt Nam sử dụng để
ổn định nền kinh tế và phân tích kết quả thực tế thu được
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng họp tại thủ đô Hà Nội từ ngày
19 tháng 4 năm 2001 đến ngày 22 tháng 4 năm 2001 đã thảo luận và nhất trí thông
qua các văn kiện quan trọng, trong đó có Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005 với mục tiêu tổng quát là: Tăng trưởng kinh tế
13
nhanh và bền vững, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển dịch mạnh cơ
cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nâng cao rõ
rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mở rộng kinh tế đối ngoại. Tạo
chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố
con người. Tạo nhiều việc làm; cơ bản xoá đói; giảm số hộ nghèo; đẩy lùi các tệ nạn
xã hội. Tiếp tục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; hình thành một bước
quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Giữ vững ổn định
chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ và an ninh quốc gia.
Trên cơ sở phương hướng, mục tiêu tổng quát và các nhiệm vụ chủ
yếu, Đại hội cũng đã đưa ra một số chỉ tiêu định hướng phát triển kinh tế trong 5 năm
2001-2005 là:
Đưa tổng sản phẩm trong nước năm 2005 gấp 2 lần so với năm 1995.
Nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước bình quân hàng năm
thời kỳ 5 năm 2001-2005 là 7,5%, trong đó nông, lâm, ngư nghiệp
tăng 4,3%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,8%; dịch vụ tăng 6,2%.
thương mại tiến hành thí điểm quyền chọn đô la Mỹ và tiền đồng trong điều kiện
được tự do thỏa thuận phí quyền chọn (tháng 6-2005). Những bước đi này có
dụng ý để thị trường tự điều chỉnh tỷ giá chừng nào mà Việt Nam chưa thể áp
dụng cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàn (independent floating ). Rõ ràng trong điều
hành chính sách tỷ giá, NHNN luôn coi trọng tính thị trường, đã cung ứng cho thị
trường nhiều công cụ để xác lập tỷ giá cân bằng. Điều này chứng minh rằng
NHNN không hề có ý định và cũng không thể “ém” tỷ giá như một số nhận định.
Hiệu quả điều hành chính sách suy cho cùng là những hệ quả mà chính sách đó
mang lại: thị trường ngoại hối ổn định, cán cân thương mại được cải thiện, dự trữ
quốc tế ròng tăng mạnh là những vấn đề cần được tham chiếu khi đánh giá
chính sách tỷ giá. Có thể nói trong “dung dịch thả nổi có điều tiết” của cơ chế tỷ
giá đã lựa chọn thì “nồng độ thả nổi” ngày càng tăng lên và vai trò “điều tiết” đích
thực của NHNN chỉ là tạo điều kiện cho thị trường có được một kỳ vọng hợp lý.
Việt Nam đã ổn định được VND so với đồng USD bằng cách áp dụng chính
sách tỷ giá hối đoái giới hạn biên độ giao dịch, theo đó, VND được phép dao
động trong một biên độ hẹp. Việt Nam cũng duy trì kiểm soát giá cả đối với các
mặt hàng chủ chốt và thuế quan. Nhờ vào chính sách như vậy mà nền kinh tế Việt
Nam đã có được sự ổn định về mặt giá cả trong thời gian dài.
Tỷ giá VND/USD hàng ngày được xác định bằng cách cho phép tỷ giá
liên ngân hàng cố định trong ngày hôm trước được dao động trong biên độ tối đa
+/- 0.25%. Cơ chế này có thể được coi là “thả nổi có quản lý” và trong những
tháng gần đây nó đã đòi hỏi phải can thiệp nhiều hơn.Mặc dù vậy, dự trữ ngoại
hối tiếp tục tăng trong vòng vài tháng qua.
- Tài Chính và Tiền Tệ:
Tiếp tục đổi mới và lành mạnh hoá hệ thống tài chính - tiền tệ, tăng tiềm lực và khả
năng tài chính quốc gia, thực hành triệt để tiết kiệm; tăng tỷ lệ chi ngân sách dành
cho đầu tư phát triển; duy trì ổn định các cân đối vĩ mô; phát triển thị trường vốn
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
15
- Xuất nhập khẩu:
nước ta và các nước trong khu vực.
Chú trọng nâng cao giá trị gia công và chất lượng từng sản phẩm xuất khẩu;
giảm xuất khẩu hàng chế biến thô, tăng tỷ trọng hàng chế biến sâu bằng công
nghệ mới; giảm gia công, đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu sử dụng nguyên, vật
liệu chất lượng cao trong nước với công nghệ mới; cải thiện hệ thống hạ tầng cơ
sở nuôi, trồng, sử dụng các loại giống cây, con có sản lượng, chất lượng cao và
công nghệ chế biến thích hợp đi đôi với các biện pháp bảo vệ môi trường; phải có
quy hoạch vùng nguyên liệu cho từng nhóm sản phẩm; quy trình quản lý sản xuất
phải được tổ chức lại một cách khoa học và tiết kiệm nhất; từng bước xây dựng
tiêu chuẩn chất lượng quốc gia cho các loại hàng hóa xuất khẩu với nhãn hiệu
''sản xuất tại Việt Nam''.
16
Sản phẩm xuất khẩu phải đáp ứng được những yêu cầu đa dạng của thị
trường thế giới, đặc biệt là yêu cầu về chất lượng, mẫu mã hàng hoá. Mỗi loại
hàng hóa phải hình thành được các thị trường chính, chủ lực và tập trung khả
năng mở rộng các thị trường này, đồng thời chủ động mở rộng sang các thị trường
khác theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ buôn bán; phải có đối sách
cụ thể với từng thị trường và từng bước giảm dần việc xuất khẩu qua các thị
trường trung gian. Định hướng chung là tận dụng mọi khả năng để duy trì tỷ trọng
xuất khẩu hợp lý vào các thị trường đã có ở châu á, đặc biệt là thị trường Nhật,
đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu trực tiếp vào các thị trường có sức mua lớn như Mỹ,
Tây Âu, thâm nhập, tăng dần tỷ trọng xuất khẩu vào các thị trường Đông Âu,
Nga, SNG và khu vực châu Mỹ, châu Phi.
Hạn chế việc nhập khẩu các sản phẩm trong nước đã sản xuất được và
sản xuất có chất lượng, đạt tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế; tăng cường tiếp cận các
thị trường cung ứng công nghệ nguồn và có khả năng đầu tư hiệu quả như Tây
Âu, Mỹ, Nhật Bản
- Hạn ngạch, thuế quan:
Bộ Thương mại thực hiện phân bổ các hạn ngạch đối với các mặt hàng
xuất khẩu cho các doanh nghiệp đặc biệt là ngành dệt may. Đây cũng là biện pháp
2001 2002 2003 2004
Ước
tính
2005
BQ mỗi
năm
2001-
2005
Tổng số 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43 7,51
- Nông lâm nghiệp và thuỷ sản 2,98 4,17 3,62 4,36 4,04 3,83
- Công nghiệp và xây dựng 10,39 9,48 10,48 10,22 10,65 10,24
- Dịch vụ 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 6,96
Sở dĩ tổng sản phẩm trong nước đạt được tốc độ tăng trưởng như trên là do hầu
hết các ngành, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế đều có mức tăng trưởng khá cao.
Ước tính năm 2005 so với năm 2000, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản
tăng 30% với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 5,42%, trong đó nông nghiệp tăng
4,11%/năm, lâm nghiệp tăng 1,37%/năm, thuỷ sản tăng 12,12%/năm; giá trị sản xuất
công nghiệp gấp 2,1 lần, bình quân mỗi năm tăng 16,02%, trong đó công nghiệp Nhà
nước gấp 1,73 lần, bình quân mỗi năm tăng 11,53%; công nghiệp ngoài Nhà nước
gấp 2,69 lần, bình quân mỗi năm tăng 21,91%; công nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
của nước ngoài gấp 2,17 lần, bình quân mỗi năm tăng 16,8%; tổng mức bán lẻ hàng
hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế gấp 1,96 lần; tổng mức lưu
chuyển hàng hoá ngoại thương gấp 2,3 lần, bình quân mỗi năm tăng 18,18%, trong đó
xuất khẩu gấp 2,24 lần, bình quân mỗi năm tăng 17,5% nhập khẩu gấp gần 2,36 lần,
bình quân mỗi năm tăng 18,58%.
Tốc độ tăng của một số ngành
và một số lĩnh vực kinh tế 2001-2005
Năm Tốc độ tăng
18
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải giữ vững
vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Yêu cầu có tính nguyên tắc này đã được bảo
đảm trong suốt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế những năm vừa qua. Mặc dù trong
những năm 2001-2005, số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm đáng kể do tổ
chức, sắp xếp lại và thực hiện cổ phần hoá, nhưng tỷ trọng của khu vực kinh tế Nhà
nước trong tổng sản phẩm trong nước vẫn duy trì ở mức trên 38% (Năm 2001 chiếm
38,40%, năm 2002 chiếm 38,38%; 2003 chiếm 39,08%; 2004 chiếm 39,10%; năm
2005 ước tính chiếm 38,42%). Kinh tế ngoài Nhà nước được khuyến khích phát
triển nên thường xuyên tạo ra 46-47% tổng sản phẩm trong nước. Khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục giữ vị trí quan trọng. Năm 2000 khu vực này tạo ra
13,28% tổng sản phẩm trong nước và đến năm 2005 đã tạo ra 15,89%.
Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước năm 2001-2005
theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế
%
2001 2002 2003 2004 2005
Tổng số 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
Kinh tế Nhà nước 38,40 38,38 39,08 39,10 38,42
Kinh tế ngoài Nhà nước 47,84 47,86 46,45 45,77 45,69
19
Kinh tế tập thể 8,06 7,99 7,49 7,09 6,83
Kinh tế tư nhân 7,94 8,30 8,23 8,49 8,91
Kinh tế cá thể 31,84 31,57 30,73 30,19 29,95
Kinh tế có vốn ĐTNN 13,76 13,76 14,47 15,13 15,89
Huy động vốn đầu tư đạt kết quả cao, tạo nguồn lực tăng cường kết cấu hạ
tầng kinh tế-xã hội
Đầu tư phát triển là một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và
giải quyết nhiều vấn đề xã hội vì hoạt động này trực tiếp làm tăng tài sản cố định, tài
sản lưu động, tài sản trí tuệ và số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời
góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm nâng
cao mức sống dân cư và mặt bằng dân trí; bảo vệ môi trường sinh thái và đưa các
Tổng số 5 năm 2001 - 2005 1 200 217 3 183 665 37,70
2001 170 496 481 295 35,42
2002 199 105 535 762 37,16
2003 231 616 613 443 37,76
So bộ 2004 275 000 715 307 38,45
20
Ước tính 2005 324 000 837 858 38,67
Trong tổng số vốn đầu tư 5 năm 2001-2005 thì vốn đầu tư trong nước chiếm
tới 84%, cao hơn hẳn tỷ lệ 78,6% của những năm 1996-2000. Sở dĩ có được kết
quả này một mặt do Nhà nước tăng cường đầu tư, nhưng mặt khác còn do các
chính sách khuyến khích kinh tế ngoài Nhà nước phát triển, trong đó có Nghị
quyết Trung ương 5 (Khoá IX) về kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân đã góp phần
rất quan trọng. Trong 5 năm 2001-2005 đã có gần 14 vạn doanh nghiệp dân doanh
đăng ký thành lập với tổng số vốn đăng ký lên tới 294 nghìn tỷ đồng. Nhờ vậy số
vốn của khu vực này chiếm trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng từ 22,6%
năm 2001 lên 26,2% năm 2002; 29,7% năm 2003; 30,9% năm 2004 và ước tính
năm 2005 là 32,4%.
Cùng với việc triển khai nhiều giải pháp huy động các nguồn vốn trong
nước, việc thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài tiếp tục được chú trọng, nhất là thu
hút vốn FDI và vốn ODA. Trong 5 năm 2001-2005 đã cấp giấy phép cho 3745 dự
án đầu tư trực tiếp của nước ngoài với số vốn đăng ký 19,9 tỷ USD. Đến nay trên
lãnh thổ nước ta đã có các nhà đầu tư của trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong
đó có 100 công ty đa quốc gia. Số vốn ODA do các nhà tài trợ cam kết dành cho
nước ta trong 5 năm 2001-2005 cũng lên tới trên 15 tỷ USD, đưa tổng số vốn ODA
cam kết trong 13 Hội nghị quốc tế về ODA dành cho Việt Nam từ năm 1993 đến nay
lên trên 32 tỷ USD. Số vốn ODA cam kết này đã được hiện thực hoá bằng nhiều hiệp
định cụ thể với tổng trị giá 24 tỷ USD và thực tế đã giải ngân được 16 tỷ USD, trong
đó 5 năm 2001-2005 giải ngân được 8 tỷ USD.
Nhờ đẩy mạnh đầu tư nên năng lực của hầu hết các ngành, các lĩnh vực đều
tăng lên đáng kể. Tính chung trong 5 năm 2001-2005, công suất điện tăng
nhiều công trình sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng trong những năm tới, chắc chắn sẽ
phát huy tác dụng tích cực đối với việc thực hiện kết hoạch phát triển kinh tế - xã hội
2006-2010 và những năm tiếp theo.
Đời sống các tầng lớp dân cư tiếp tục được cải thiện; sự nghiệp văn hoá giáo
dục, chăm sóc sức khoẻ dân cư và một số lĩnh vực khác có những tiến bộ đáng
kể.
Do kinh tế tăng trưởng với tốc độ tương đối khá và việc điều chỉnh mức lương tối
thiểu từ 180 nghìn đồng cuối năm 2000 lên 210 nghìn đồng đầu năm 2001; 240 nghìn
đồng năm 2002; 290 nghìn đồng đầu năm 2003 và 350 nghìn đồng năm 2005 cùng với
việc triển khai nhiều chương trình tạo việc làm, phát triển nông nghiệp và nông thôn,
xoá đói giảm nghèo nên đời sống các tầng lớp dân cư ở cả thành thị và nông thôn nhìn
chung tiếp tục được cải thiện.
Kết quả các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình do Tổng cục Thống kê tiến hành
những năm vừa qua cho thấy thu nhập bình quân một người một tháng theo giá thực tế đã
tăng từ 295 nghìn đồng/người/tháng năm 1999 lên 356,1 nghìn đồng/người/tháng năm
2001-2002 và 484,4 nghìn đồng/người/tháng năm 2003-2004. Tính ra, thu nhập bình quân
một người một tháng theo giá thực tế năm 2003-2004 đã tăng 64,2% so với năm
1999. Thu nhập tăng đã tạo điều kiện tăng tiêu dùng cho đời sống và tăng tích luỹ.
Chi tiêu cho đời sống bình quân một người một tháng đã tăng từ 221,1 nghìn đồng
năm 1999 lên 269,1 nghìn đồng năm 2001-2002 và 359,7 nghìn đồng năm 2003-2004.
Đáng chú ý là thu nhập cũng như chi tiêu đều tăng ở cả khu vực thành thị và
nông thôn, ở tất cả 8 vùng sinh thái và tất cả 5 nhóm thu nhập. Thu nhập bình quân
một người một tháng năm 2003-2004 của nhóm thu nhập thấp nhất đạt 141,8 nghìn
đồng, tăng 3,1% so với mức bình quân 2001-2002; nhóm thu nhập dưới trung bình
đạt 240,7 nghìn đồng, tăng 35%; nhóm thu nhập trung bình đạt 347 nghìn đồng, tăng
38,2%; nhóm thu nhập khá đạt 514,2 nghìn đồng, tăng 38,8%; nhóm thu nhập cao
nhất đạt 1182,3 nghìn đồng, tăng 35,4%.
Thu nhập và chi tiêu bình quân một người một tháng
theo giá thực tế phân theo thành thị, nông thôn
Nghìn đồng
năm 2001-2002 và 2003-2004
%
2001-2002 2003-2004
Tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền 96,86 98,49
Ô tô 0,05 0,09
Xe máy 32,33 44,22
Điện thoại 10,68 27,27
Ti vi 67,10 77,10
Máy vi tính 2,44 5,01
Máy điều hoà nhiệt độ 1,13 1,98
Máy giặt, sấy quần áo 3,79 6,21
Trên cơ sở kết quả thu nhập bình quân một người một tháng thu thập được
trong các cuộc điều tra mức sống dân cư, Tổng cục Thống kê đã tính được tỷ lệ hộ
nghèo lương thực, thực phẩm tại 3 thời điểm 1999; 2001-2002 và 2003-2004. Tỷ lệ
này đã giảm từ 13,3% năm 1999 xuống còn 9,9% năm 2001-2002 và 6,9% năm
2003-2004, trong đó tỷ lệ nghèo của khu vực thành thị giảm từ 4,6% xuống 3,9% và
3,3%; của khu vực nông thôn giảm từ 16% xuống 11,9% và 8,1%.
Cũng dựa trên kết quả của cuộc điều tra nêu trên nhưng tính theo chi tiêu cho
đời sống bình quân một người một tháng của các hộ gia đình thì tính ra được tỷ lệ
nghèo chung của nước ta (bao gồm cả nghèo lương thực, thực phẩm và nghèo phi
lương thực thực phẩm) và tỷ lệ này cũng giảm từ 37,4% năm 1997-1998 xuống còn
28,9% năm 2001-2002.
Trong cuộc điều tra mức sống dân cư năm 2003-2004, Tổng cục Thống kê đã
lấy ý kiến tự đánh giá của các hộ về mức sống năm 2003-2004 so với mức năm 1999
và kết quả cho thấy có tới 84% số hộ cho rằng đời sống đã được nâng lên; 11,2% cho
rằng đời sống vẫn như cũ và chỉ có 4,8% cho rằng đời sống bị giảm sút. Trong các
Báo cáo những năm gần đây, UNDP cũng đã xếp Việt Nam vào danh sách những
quốc gia dẫn đầu các nước đang phát triển về thành tích giảm nghèo và tiêu biểu cho
nhóm các nước đang phát triển đã đạt được sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát
triển các chính sách xã hội vì con người. Báo cáo Phát triển Con người năm 2005 của
2003 và 71,5 tuổi năm 2005.
Các hoạt động văn hoá thông tin triển khai tương đối rộng khắp, nhất là phong
trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở. Đến cuối năm 2004 cả
nước đã có 38% số thôn, ấp, bản, tổ dân phố và cụm dân cư được công nhận là thôn,
ấp, bản, tổ dân phố, cụm dân cư văn hoá và đến cuối năm 2005 đã có 12,5 triệu gia
đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá. Việc bảo tồn, tôn vinh văn hoá truyền thống,
nhất là văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người được chú trọng đặc
biệt. Trong những năm vừa qua đã giới thiệu và được thế giới công nhận thêm Nhã
nhạc cung đình Huế, Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản Văn hoá
Thế giới.
Công tác xuất bản, phát thanh truyền hình, hoạt động thể dục thể thao cũng có
những kết quả tích cực. Năm 2005 đã xuất bản 17,1 nghìn cuốn sách với 240,2 triệu
bản, tăng 79,8% về số đầu sách và tăng 35,2% về số bản in so với năm 2000. Việc
phủ sóng phát thanh và truyền hình tiếp tục được triển khai đến vùng sâu, vùng xa
nên đã có 95% số hộ gia đình trên phạm vi cả nước được nghe Đài Tiếng nói Việt
Nam và 90% số hộ được xem các chương trình của Truyền hình Trung ương. Tỷ lệ
dân số luyện tập thể dục thể thao tăng từ 16,4% năm 2002 lên 17,6% năm 2003 và
24
18,7% năm 2004. Thể thao thành tích cao tiếp tục xác lập được vị thế trên đấu
trường quốc tế và khu vực. SEA Games 22 (2003) giành được 343 huy chương, gấp
trên 5 lần SEA Games 20 (1999) và tại SEA Games 23 (2005) giành vị trí thứ 3 toàn
đoàn với 228 huy chương các loại.
Hạn chế và bất cập
Bên cạnh những thành tựu đạt được nêu trên, diễn biến và thực trạng kinh tế -
xã hội 5 năm 2001-2005 cho thấy nền kinh tế nước ta đang tồn tại nhiều hạn chế và
yếu kém, thể hiện trên một số điểm chủ yếu sau:
Nền kinh tế vẫn trong tình trạng kém phát triển, sức cạnh tranh thấp và
chứa đựng nhiều mặt mất cân đối.
Những năm 2001-2005 vừa qua nền kinh tế nước ta tăng trưởng bình quân
mỗi năm 7,51% là một thành công, nhưng do xuất phát điểm thấp nên quy mô
Mức đạt được
(USD)
Việt Nam so với
các nước (%)
Việt Nam 554 - 2490 -
Phi-li-pin 1 042 53,2 4321 57,6
In-đô-nê-xi-a 1 193 46,4 3361 74,1
Thái Lan 2 535 21,8 7595 32,8
Ma-lai-xi-a 4 625 12,0 9512 26,2
Trung Quốc 1 272 43,6 5003 49,8
25