1
1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KIỂU TRUYỆN CON VẬT TINH RANH
TRONG TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI
Chuyên ngành Văn học dân gian
Mã số 62 22 36 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI, năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực.
Tác giả
Đặng Quốc Minh Dương
2
2
MỤC LỤC
Lời cam đoan 2
Mục lục 3
Các chữ viết tắt 5
Các bảng biểu……………………………………………………………… 5
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………… 6
0.1. Lý do chọn đề tài …….……………………………………………… 6
0.2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………… 7
0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
0.4. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………… 8
1.5. Đóng góp của luận án …………………………………………… 9
1.6. Kết cấu luận án 10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI………….…… … 11
4.4. Motif hoãn binh…………………………………………… 103
4.5. Motif giả mạo……………………………………………… 105
4.6. Motif xui bẩy………………………………………………………… 108
4.7. Motif sự bắt chước……………………………………………………. 110
4.8. Motif vi phạm điều ngăn cấm……………………………………… 112
4.9. Motif ăn vụng……………………………………………………… 114
4.10. Motif trao đổi………………………………………… 117
Tiểu kết……………………………………………………… 119
CHƯƠNG 5: KIỂU TRUYỆN CON VẬT TINH RANH VÀ BẢNG TRA
CỨU A – T……… …………………………………………………… ……… 121
5.1. Các type truyện tương thích………………………… 121
5.2. Các type truyện không có sự tương thích………………………… 131
Tiểu kết……………………………………………………………… 145
KẾT LUẬN……………………………………………………………………… 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN…………………………………… 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………… 152
PHỤ LỤC 1: TÓM TẮT CÁC TRUYỆN KHẢO SÁT 161
PHỤ LỤC 2: CÁC TYPE TRUYỆN LOÀI VẬT TRONG BẢNG TRA CỨU
A – T VÀ CÁC TRUYỆN TƯƠNG THÍCH 201
4
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. Châu Úc và châu Đại Dương: CU&CĐD
2. Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn: ĐH KHXH&NV
3. Giáo dục: GD
4. Hà Nội: HN
5. Khoa học Xã hội: KHXH
6. Nhà xuất bản: Nxb
7. Sách đã dẫn: sđd
8. Thành phố Hồ Chí Minh: Tp. HCM
tí hon,… Tiếp cận truyện kể theo hướng này sẽ giúp thấy được những nguyên tắc sáng
tác truyền thống của một thể loại qua cách xây dựng nhân vật, cách xây dựng cốt truyện,
cách dẫn dắt, xâu chuỗi những tình tiết, motif trong truyện. Như vậy, hướng tiếp cận
truyện dân gian theo type sẽ giúp ta hiểu sâu hơn các kiểu tư duy, các nguyên tắc cấu tạo,
tổ chức truyện và những vấn đề liên quan như tính nhân loại, tính dân tộc,…
Trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam và thế giới, kiểu truyện con vật tinh
ranh là một trong những kiểu truyện quen thuộc và tiêu biểu. Trong kiểu truyện này,
nhân vật chính – một con vật nhỏ bé nhưng tinh ranh thường sử dụng các mưu kế, mánh
lới để đánh lừa, chơi khăm hoặc giúp đỡ các nhân vật khác. Đây là kiểu truyện mà tính
duy lý chiếm ưu thế, nó chi phối quá trình hình thành cốt truyện, xây dựng nhân vật. Bên
cạnh tính duy lý, kiểu truyện còn hấp dẫn bởi các câu chuyện giàu tính nhân văn và ý
nghĩa thẩm mỹ. Nhận ra sức hấp dẫn của kiểu truyện con vật tinh ranh, một số nhà
6
nghiên cứu đã có những kiến giải mang tính chất gợi mở về một số khía cạnh nổi bật của
kiểu truyện. Tuy nhiên còn nhiều vấn đề cốt lõi như kết cấu, nhân vật, motif,… cần phải
được đào sâu và mở rộng hơn nữa nhằm đi đến những phát hiện khoa học về cấu trúc
tổng thể cũng như cấu trúc bộ phận của một kiểu truyện tiêu biểu, qua đó giúp ta có “cái
nhìn tham chiếu” đầy đủ, sáng tỏ về giá trị nội dung và hình thức của kiểu truyện.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài Kiểu truyện con vật tinh
ranh trong truyện dân gian Việt Nam và thế giới với mong muốn tìm đến những chứng
cứ xác thực minh chứng cho sự đặc sắc của kiểu truyện, qua đó có cái nhìn cơ bản, đa
diện, đa chiều về kiểu truyện từ những nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Kết quả khảo
sát sẽ giúp bổ sung những kiến thức, nhận định về tiểu loại truyện loài vật cũng như kiểu
truyện con vật tinh ranh. Đồng thời, đề tài hy vọng sẽ đem lại nhiều điều bổ ích và cần
thiết cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian của bản thân. Như vậy, việc
nghiên cứu đề tài Kiểu truyện con vật tinh ranh trong truyện dân gian Việt Nam và thế
giới vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn.
0.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
0.2.1.Việc khảo sát một cách hệ thống về kiểu truyện con vật tinh ranh ở Việt Nam
và thế giới giúp chúng tôi thấy được sự phân bố của kiểu truyện. Hơn nữa, qua tập hợp
Để thực hiện đề tài, trước hết trong điều kiện cho phép, chúng tôi tập hợp những
truyện kể thuộc kiểu truyện con vật tinh ranh của Việt Nam và thế giới. Trên cơ sở đó,
chúng tôi tiến hành khảo sát kiểu truyện theo các phương pháp sau:
1.4.1. Phương pháp thống kê - phân loại
Phương pháp này được sử dụng trong việc khảo sát, phân loại và trong khi so sánh
đối chiếu. Nhờ phương pháp thống kê mà chúng tôi có được các số liệu để phân loại các
truyện kể; cũng qua đấy thấy được sự phân bố của kiểu truyện ở các dân tộc, quốc gia,
khu vực hay châu lục. Các số liệu thống kê cũng cho thấy tần số xuất hiện của các con
vật tinh ranh. Nhờ phương pháp này mà chúng tôi có những số liệu tin cậy, làm cơ sở để
đưa ra những lý giải thích hợp, những kết luận, khái quát khoa học.
1.4.2. Phương pháp phân tích – tổng hợp
Sau khi đã hoàn thành bước thống kê tư liệu – phân loại, chúng tôi sử dụng
phương pháp phân tích tư liệu. Các truyện kể sẽ được phân tích tỉ mỉ từng chi tiết và đánh
8
giá trên quan điểm phân tích một tác phẩm nghệ thuật dân gian hoàn chỉnh. Trong quá
trình khảo sát, chúng tôi chú ý phân tích nội dung các truyện, phân tích các nhân vật tham
gia vào diễn tiến truyện và một số motif của kiểu truyện để từ đó tổng hợp, rút ra nhận
xét, đánh giá bản chất, đặc trưng của kiểu truyện.
1.4.3. Phương pháp so sánh – loại hình
Phương pháp so sánh – loại hình được sử dụng trong suốt quá trình xử lí đề tài.
Phương pháp này giúp chúng tôi thấy được những tương đồng và dị biệt về nhân vật, kết
cấu, motif,… giữa các dân tộc, đất nước, khu vực khác nhau; so sánh nhằm phát hiện và
lý giải những vấn đề nguồn gốc xã hội, cội nguồn văn hóa, môi trường nảy sinh… của
kiểu truyện; so sánh để thấy được nét gặp gỡ, giao thoa trong kiểu truyện con vật tinh
ranh của các dân tộc do chịu (hoặc không chịu) ảnh hưởng về văn hóa, xã hội, lịch sử….
Phương pháp so sánh sẽ được vận dụng một cách đặc biệt trong chương 5 – chương so
sánh đối chiếu các type trong Bảng tra cứu A – T với các type trong kiểu truyện.
1.4.4. Phương pháp lịch sử - địa lý
Chúng tôi không sử dụng phương pháp này để tìm “quê hương ban đầu” hay “con
đường di chuyển” của các truyện kể mà để nghiên cứu theo type và motif. Thực chất của
tài.
- Chương 2: Kết cấu của kiểu truyện con vật tinh ranh.
- Chương 3: Nhân vật của kiểu truyện con vật tinh ranh.
- Chương 4: Một số motif thường gặp trong kiểu truyện con vật tinh ranh.
- Chương 5: Kiểu truyện con vật tinh ranh và Bảng tra cứu A – T.
10
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
I.1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SƯU TẦM, BIÊN DỊCH VÀ TÌNH HÌNH
NGHIÊN CỨU
I.1.1. Về tình hình sưu tầm, biên dịch các tập truyện
Ở Việt Nam, truyện cổ được ghi chép từ rất sớm trong các tác phẩm khởi đầu của
nền văn học viết như: Báo cực truyện, Giao Chỉ ký, Ngoại sử ký (thế kỷ XII), Việt điện u
linh của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh, Kiều Phú (thế kỷ XIV-
XV), Thế kỷ XIX và thời kì cận đại của thế kỉ XX, hoạt động sưu tầm, biên soạn truyện
cổ càng được nhiều người chú ý, trong đó, có thể kể đến các công trình như: Chuyện khôi
hài (1882), Chuyện đời xưa (1886) của Trương Vĩnh Ký, Chuyện giải buồn (1880: tập 1,
1885: tập 2) của Huỳnh Tịnh Của, Nam Hải dị nhân (1920) của Phan Kế Bính,… Liên
quan đến đề tài nghiên cứu, tập truyện đầu tiên xuất hiện truyện kể của kiểu truyện này là
tập Truyện cổ nước Nam (1932 – 1934) của Nguyễn Văn Ngọc. Trên cơ sở nhận thức
rằng: “trong khoa văn học dân gian, việc sưu tầm và chỉnh lý tư liệu phải được coi là tiền
đề hay cơ sở” [148, tr. 217] nên sau Cách mạng tháng Tám (1945) hoạt động sưu tầm,
biên soạn mới bắt đầu trở thành một hoạt động mang tính khoa học và thành một ngành
khoa học độc lập. Từ giai đoạn này, bên cạnh các công trình sưu tầm truyện cổ người
Việt, còn có các tuyển tập truyện cổ của các dân tộc anh em như: Truyện cổ tích miền núi
(1958), Truyện cổ Tây nguyên (1961), Truyện cổ dân tộc Mèo (1963), Truyện cổ Việt Bắc
(1963),… Một số công trình xuất hiện nhiều truyện kể của kiểu truyện đang khảo sát như:
Truyện cổ Xê Đăng, Truyện cổ Cà Tu, Truyện cổ Mạ, Truyện cổ Cơ Ho, Truyện cổ Khơ
me Nam Bộ, Truyện cổ dân gian Chăm, Truyện cổ Ê Đê, Truyện cổ M’nông, Kho tàng
Tuy bắt đầu muộn hơn nhưng từ những năm 60 của thế kỷ trước, công tác biên
dịch truyện cổ cũng bắt đầu được chú ý. Liên quan đến đề tài nghiên cứu, bản dịch sớm
nhất là Truyện dân gian Lào (1962), kế đến là các tập truyện như Truyện dân gian Trung
Quốc (1963), Truyện cổ Cao Miên (1968),… Từ những năm 80 - 90, công việc biên dịch
12
càng được chú ý, đẩy mạnh. Có hàng trăm tập truyện, tuyển tập truyện dân gian nước
ngoài được chuyển dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, trong đó, một số công trình có liên
quan đến đề tài như: Truyện cổ Grim, Truyện cổ dân gian Bêlôrútxia, Truyện dân gian
Nga, Truyện dân gian Ukraina, Truyện cổ dân gian Ấn Độ, Truyện cổ Hàn Quốc, Truyện
kể dân gian châu Phi, Truyện cổ Campuchia, Truyện cổ Mã Lai, Truyện cổ Inđônêxia,…
Nói về việc biên dịch, biên soạn không thể không nhắc đến Ngô Văn Doanh. Ông đã có
rất nhiều công trình về truyện dân gian các nước, các châu lục khác nhau, trong số đó,
phải kể đến bộ tuyển tập Truyện cổ năm châu, tuyển tập Kho tàng truyện cổ thế giới cũng
như tuyển tập về các nước trong khu vực Đông Nam Á. Đây là kho tư liệu rất quý giúp
cho các nhà nghiên cứu Việt Nam dễ dàng tiếp cận với kho truyện kể của các nước.
Gần đây, một số tác giả đã biên soạn, tuyển chọn truyện kể theo đề tài, theo
nhân vật. Chúng tôi quan tâm đến các tập truyện như Truyện cổ tích về các loài vật của
Phạm Thu Yến, Truyện cổ tích về loài vật của Lan Anh, của Lê Châu, Truyện cổ về các
loài vật của Thúy Quỳnh, Truyện kể về những con vật thông minh của Sơn Khê, Truyện
kể về các loài vật của Thu Lan,
Như vậy, có thể khẳng định rằng tình hình sưu tập, biên dịch truyện dân gian luôn
được các nhà nghiên cứu folklore Việt Nam quan tâm, chú ý. Nhờ vậy, nó đã giúp cho
người viết có được những cốt truyện cùng các bản kể về kiểu truyện để khảo sát và
nghiên cứu. Điểm qua các công trình trên có thể thấy rằng, phần lớn các tập truyện, tuyển
tập được biên dịch là truyện dân gian của các nước trong khối Xã hội chủ nghĩa trước
đây, các nước trong khu vực Đông Nam Á - khối Asean, các nước gần gũi với Việt Nam
về mặt địa lý và các nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Đây cũng là điều dễ hiểu
bởi vì tình hữu nghị của các nước dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau – mà một trong những
điều cần biết đầu tiên đó là vốn quý của dân tộc: kho tàng văn hóa dân gian.
I.1.2. Về tình hình nghiên cứu
vài ý kiến nhận xét, đánh giá với mục đích minh họa cho các công trình nghiên cứu về
những kiểu truyện khác, những vấn đề khác. Chúng tôi điểm qua một số bài viết đó.
1. Bảng chỉ dẫn về các kiểu truyện [203] của Anti Aarne và Stith Thompson chia
truyện kể thành 5 cụm lớn: Truyện cổ tích động vật, Những truyện kể thông thường,
Truyện cười và giai thoại, Truyện kể theo công thức và Những truyện còn lại chưa phân
loại. Trong phần I. Animal tales - truyện cổ tích động vật lại được hai tác giả sắp xếp theo
trình tự sau:
14
- Từ 1 – 99: Động vật hoang dã
- 100 – 149: Động vật hoang dã và vật nuôi
- 150 – 199: Người và động vật hoang dã
- 200 – 219: Vật nuôi
- 220 – 249: Chim
- 250 – 274: Cá
- 275 – 299: Các con vật khác và các vật dụng.
Trong các nhóm type truyện trên, A. Aarne và S. Thompsom lại phân cấp và gọi
tên các type truyện từ 1 – 69 là tiểu nhóm “con vật thông minh” (the clever animal). Như
vậy, trong Bảng chỉ dẫn về các kiểu truyện, các type truyện con vật thông minh thuộc
nhóm truyện động vật hoang dã. Cách phân nhóm này chỉ có giá trị tương đối. Bởi thực
tế các type truyện kể về mưu kế của loài vật còn xuất hiện khá nhiều ở các nhóm khác.
Tiểu nhóm “con vật thông minh” có 138 type truyện, trong đó có cả type truyện mở rộng
của vùng phủ sóng (truyện cổ Phần Lan, một phần của các nước Bắc Âu, các nước Nam
châu Âu, Đông Nam châu Âu và Ấn Độ). Ở đây, hai tác giả chú ý khảo sát và giới thiệu
những đơn vị truyện trọn vẹn, lưu truyền trong một vùng địa lý nhất định. Vì vậy, nó rất
giới hạn trong phạm vi khảo sát và mang tính chọn lựa.
Gắn liền với Bảng chỉ dẫn về các kiểu truyện là công trình gồm 6 cuốn Mục lục
các motif của văn học dân gian [205] của S. Thompson. Ở đây, Thompson tiếp cận
truyện kể từ đơn vị motif. Ông sắp xếp các motif theo logic từ các motif huyền thoại, siêu
nhiên đến các motif hiện thực, hài hước. Ông ký hiệu 23 chương theo các chữ cái La tinh
từ A đến Z. Trong mỗi chương, các mục được sắp thành từng nhóm lớn, cứ mỗi nhóm
cụm chủ đề, với các kiểu nhân vật chính” [94, tr. 29]. Theo ông, kiểu truyện con vật tinh
ranh là “hình thức cổ điển của thể loại này, là một chuỗi khá đầy đủ các chủ đề truyện cổ
xoay quanh một nhân vật phổ biến kẻ láu cá (ranh mãnh, lừa đảo, bịp bợm), truyện kể các
cuộc phiêu lưu và thủ đoạn của nhân vật này. Nhờ có sự láu cá và khôn khéo mà nhân vật
này đã thắng cuộc trong các tính huống khác nhau” [sđd, tr. 29]. Bài viết là những gợi
mở, mách bảo rất đáng quý để tìm hiểu kiểu truyện con vật tinh ranh.
3. Trong Sáng tác thơ ca dân gian Nga (tập 1), A. M. Nôvicôva dành một phần để
bàn về kiểu truyện con vật tinh ranh. Nhà nghiên cứu cho rằng: “Trong loại truyện kể về
loài vật ở Nga, các truyện cổ tích về con cáo nhiều hơn cả” [138, tr. 277]. Gắn liền với
con vật này là một chuỗi các motif cáo ăn trộm cá, cáo lừa bịp (bắt cá), cáo xưng tội, cáo
16
làm bà đỡ, cáo làm quan tòa, cáo làm mẹ đỡ đầu cho sói,… Nôvicôva nhận thấy tính hai
mặt của nhân vật con vật tinh ranh mà theo nhà nghiên cứu là “không phải tiêu biểu với
phônclo”. Bà nói thêm “Trong tất cả các truyện, con cáo đều được miêu tả là khéo léo,
giỏi giang, nhanh trí, mưu mẹo – đó là những tính cách không thể không thán phục. Song
đồng thời con cáo cũng được miêu tả như là một tên dối trá, trộm cắp, tính toán, hay thù
oán, tàn nhẫn,… Thái độ hai mặt đối với nhân vật không phải là tiêu biểu đối với
phônclo, vì phônclo mang tính chuẩn mực rất chặt chẽ và có khuynh hướng bộc lộ thái độ
hết sức phân minh” [sđd, tr. 277 – 278]. Những nhận xét của Nôvicôva không chỉ đúng
cho truyện dân gian Nga mà nó còn phù hợp với kiểu truyện con vật tinh ranh ở nhiều
quốc gia, khu vực khác.
Trước đó, trong công trình Truyện cổ tích [210], V. Ia. Propp dành chương VI để
nghiên cứu về truyện cổ tích loài vật. Trong chương này nhà nghiên cứu đã tìm hiểu các
vấn đề như tính đa dạng, tính quy tắc, nguồn gốc, cách phân loại của truyện loài vật.
Propp nhận định rằng: “Trung tâm của thể loại truyện cổ tích về loài vật là những con vật
khôn ngoan, hay có thể gọi là tinh ranh, và bao giờ cũng là kẻ chiến thắng nhờ ưu thế
vượt trội đó của mình” [210, tr. 307]. Theo Propp, ở Nga thời Trung đại đã từng tồn tại
một dòng văn học về loài cáo. Nhận xét về các mưu kế của con cáo, ông cho rằng: “Sự
lừa dối ở đây thể hiện ưu thế vượt trội của kẻ khôn ranh so với người ngu đần hay nhẹ dạ,
cả tin. Theo quan điểm của chúng tôi, sự lừa dối thường bị phán xét và định kiến về mặt
pháp nghiên cứu mới, Võ Quang Nhơn đã thay đổi quan điểm phân loại truyện cổ tích.
Ông thẳng thắn thừa nhận: “Vấn đề phân loại văn học dân gian nói chung và phân loại
truyện cổ tích nói riêng còn nhiều cách lý giải và xử lý chưa thống nhất, chưa phù hợp
với yêu cầu khoa học” [121, tr. 436]. Từ nhận thức đó, ông điều chỉnh lại cách phân loại
truyện cổ tích các dân tộc thiểu số, gồm: Truyện cổ tích thần kỳ, cổ tích loài vật và cổ
tích sinh hoạt. Đây là quá trình tự luận chiến để thay đổi quan niệm phân loại. Võ Quang
Nhơn thực sự là người có nhiều đóng góp trong việc sưu tầm, nghiên cứu văn học dân
gian các dân tộc thiểu số.
Thực ra thì từ năm 1984, trong mục từ “truyện cổ tích” (Từ điển văn học – tập 2,
bộ cũ), Chu Xuân Diên đã xem truyện cổ tích loài vật là một tiểu loại. Nhận định về tiểu
loại này, nhà nghiên cứu khái quát: “Ở loại truyện cổ tích về loài vật, có sự kết hợp
những điều quan sát hiện thực về các con vật với trí tưởng tượng nhân cách hóa giới tự
nhiên” [125, tr. 453]. Những khái quát ngắn gọn này có tính gợi mở cao.
18
Kế thừa thành quả của bộ giáo trình do Đinh Gia Khánh chủ biên, đồng thời vận
dụng nhiều phương pháp nghiên cứu tiên tiến trong và ngoài nước, năm 1990, bộ giáo
trình Văn học dân gian của trường Đại học Tổng hợp do Lê Chí Quế chủ biên được xuất
bản. Cùng thời điểm này, Hoàng Tiến Tựu (1990) cũng cho xuất bản bộ giáo trình của
ông. Cả hai bộ giáo trình đều xem truyện cổ tích loài vật là một tiểu loại riêng. Nhắc đến
kiểu truyện này, Lê Chí Quế đã có những nhận định gợi mở rất đáng quý. Theo tác giả
“kết cấu phổ biến của những câu chuyện về con vật thông minh (đôi khi láu cá) là sự
chiến thắng của con vật bé hơn với con vật lớn hơn không phải bằng sức lực mà bằng
trí”. Từ nhận định đó, nhà nghiên cứu đề cập đến kiểu truyện con thỏ tinh ranh, ông cho
rằng “con thỏ bé nhỏ nhưng nhanh nhẹn, thông minh đã lập mưu lừa được cả voi, hổ, cá
sấu là những con vật to khoẻ và độc ác” [149, tr. 116 - 117]. Lê Chí Quế cũng cho rằng,
truyện kể về con thỏ không chỉ xuất hiện nhiều trong truyện dân gian Việt Nam mà còn là
con vật tiêu biểu trong truyện dân gian Campuchia, vùng Đông Nam Á và nhiều nước
trên thế giới.
Năm 2000, Lê Trường Phát biên soạn tài liệu Thi pháp văn học dân gian cũng
nhắc đến nhân vật con thỏ tinh ranh. Ông cho rằng “nhân vật con thỏ nổi tiếng tinh khôn,
những sáng tạo riêng” [198, tr. 62]. So với truyện cổ tích loài vật của người Việt thì
truyện của các dân tộc thiểu số đa dạng, phong phú về nội dung hơn, cốt truyện sinh
động, mộc mạc và có phần chân thực hơn [sđd, tr. 66 - 67]. Đây là “bộ sách đầu tiên tập
hợp được số lượng lớn truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số dưới dạng song ngữ và
“được sắp xếp theo các tiểu loại” [sđd, tr. 80].
8. Năm 2005, dưới sự hướng dẫn khoa học của Chu Xuân Diên, chúng tôi thực
hiện đề tài Kiểu truyện con thỏ tinh ranh trong truyện cổ Việt Nam [40]. Qua công trình
này chúng tôi đã phác thảo chân dung về kiểu truyện ở Việt Nam. Thỏ - nhân vật chính
của kiểu truyện, luôn đóng vai là kẻ chủ động đánh lừa, chơi khăm các nhân vật to lớn, có
sức mạnh hơn nó. Phần thắng lợi trong những lần “chạm trán” thường thuộc về thỏ. Với
số lượng bản kể có hạn (58 truyện) và trong phạm vi giới hạn (loài thỏ và chủ yếu khảo
sát ở Việt Nam) nên công trình vẫn bỏ ngỏ nhiều điều thú vị và buộc phải mở rộng
nghiên cứu khi có điều kiện.
9. Ngoài ra, trong khá nhiều tập truyện, bên cạnh nội dung chính là các bản kể,
chúng tôi cũng ghi nhận được nhiều nhận định, khái quát rất đáng quý qua các lời giới
thiệu của các tập truyện này. Chẳng hạn như nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng trong lời
giới thiệu của Truyện cổ Khơ me Nam Bộ cho rằng con thỏ tinh ranh thuộc “nhóm nhân
20
vật nhỏ bé, có nhiều đức tính đáng quý như thông minh, mưu trí, dũng cảm” [174, tr.13];
Y Thi trong Truyện cổ M’nông lại khái quát về cách ứng xử thông minh của nhân vật con
thỏ. Ông cho rằng “nhân vật con thỏ tinh ranh có cách ứng xử cực kỳ thông minh trong
mọi tình huống. Trí tưởng tượng nhiều khi phát triển một cách phong phú không lường
trước được” [161, tr.19-20]; trong lời giới thiệu cho tập Truyện cổ Cơ Ho, khi đề cập đến
kiểu truyện “có chất trí tuệ” này, nhà nghiên cứu Võ Quang Nhơn cho rằng “loại truyện
này nhằm ca ngợi những con vật tuy bé nhỏ, nhưng thông minh, mưu trí, có khả năng
đánh bại những con vật to lớn, hung ác” [164, tr.8]. Chúng ta có thể thấy những nhận
định tương tự trong lời gới thiệu của của các công trình sưu tầm như Truyện cổ Xê Đăng
của Ngô Vĩnh Bình hay Truyện cổ Ê Đê của Y Điêng – Hoàng Thao hoặc Truyện cổ các
dân tộc Trường sơn - Tây nguyên của Đặng Nghiêm Vạn,…
10. Bên cạnh đó, cũng cần nhận thấy rằng, từ những năm 80 của thế kỷ trước cho
chúng tôi cũng đã được thừa hưởng thành quả của nhiều công trình sưu tầm và nghiên
cứu trong và ngoài nước, trong đó có cả những công trình khảo sát, nghiên cứu lý luận và
những công trình sưu tầm, tập hợp, biên dịch truyện dân gian. Tất cả đã giúp cho người
viết rất nhiều về mặt phương pháp luận cũng như có được những cốt truyện cùng các bản
kể về kiểu truyện để khảo sát và nghiên cứu. Những công trình này đã giúp chúng tôi rất
nhiều trong quá trình thực hiện đề tài, cả ở những điều đã được giải quyết và những gì mà
các tác giả chưa đề cập đến, chưa làm thỏa mãn người đọc. Những gợi mở, những điều
còn bỏ ngỏ đó đã thúc bách chúng tôi bước tiếp vào nghiên cứu vấn đề Kiểu truyện con
vật tinh ranh trong truyện dân gian Việt Nam và thế giới.
I.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.2.1. Tinh ranh - tên gọi của kiểu truyện/kiểu nhân vật chính
Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu folklore trên thế giới đã có nhiều cách định
danh khác nhau về kiểu nhân vật/kiểu truyện con vật tinh ranh. A. Aarne gọi tập hợp các
type truyện này là truyện “con vật thông minh” (the clever animal) [203]. Trong công
trình Mục lục các motif của văn học dân gian [205], S. Thompson lại dùng khái niệm
deceptions (trò lừa dối, mưu mẹo gian dối, mánh khóe lừa bịp). Khi nghiên cứu về truyện
dân gian châu Phi, Kốtlia sử dụng khái niệm “láu cá”. Trong nhận định trên, nhà nghiên
cứu ngầm giải thích rằng “láu cá” bao gồm các tính cách như ranh mãnh, lừa đảo, bịp
bợm [94, tr. 29]. Như vậy, nội hàm của khái niệm này khá giống với dụng ý của
Thompson. Trong cách hiểu của người Việt Nam, khái niệm “thông minh” mang ý nghĩa
đề cao, ngợi khen. Các khái niệm “trò lừa dối”, “mưu mẹo gian dối”, “mánh khóe lừa
22
bịp” (Thompson) hay “láu cá”, “ranh mãnh”, “lừa đảo”, “bịp bợm” (Kốtlia) lại có ý phê
phán. Do vậy, các khái niệm trên chưa thật sự phù hợp, chưa truyền tải hết tính đa diện,
đa chiều của nhân vật tinh ranh - nhân vật chính của kiểu truyện.
Nhận thấy khó có thể tìm được một khái niệm đắc dụng cho kiểu truyện trên phạm
vi toàn thế giới, A. Dundes – nhà nghiên cứu người Mỹ lại đưa ra hai khái niệm
"trompeur"(kẻ lừa đảo) và "trickster" (kẻ ranh mãnh) để so sánh nhân vật này trong
truyện kể châu Phi và châu Mĩ. Theo Dundes "những câu chuyện châu Phi khai thác là
thứ tình bạn giả tạo và kẻ bịp bợm sẽ phải trả giá cho sự phá vỡ cam kết của mình, trong
nghĩa là “khéo léo trong việc cư xử” (sđd, tr. 441), mang nghĩa ngợi khen. Như vậy, khái
niệm "tinh ranh" truyền tải tương đối trọn vẹn tính “hai mặt” của nhân vật chính trong
kiểu truyện. Do vậy, chúng tôi sử dụng khái niệm “tinh ranh” để đặt tên cho tên nhân vật
chính và cũng là tên của kiểu truyện.
1.2.2. Kết cấu và kết cấu truyện kể dân gian
Kết cấu là thuật ngữ chỉ toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm. Nó
là phương tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật. Kết cấu đảm nhiệm các chức
năng rất đa dạng: bộc lộ chủ đề và tư tưởng tác phẩm, triển khai, trình bày hấp dẫn cốt
truyện; cấu trúc hợp lý hệ thống tính cách; tổ chức điểm nhìn trần thuật của tác giả; tạo ra
tính toàn vẹn của tác phẩm như một hiện tượng thẩm mỹ. Nội hàm của thuật ngữ này
không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận,
chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể
của tác phẩm. Kết cấu bao gồm bố cục, tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật của
tác phẩm; nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thể của các thành phần cốt truyện; nghệ
thuật trình bày, bố trí các yếu tố ngoài cốt truyện… sao cho toàn bộ tác phẩm thực sự trở
thành một chỉnh thể nghệ thuật.
Do bị quy định bởi đặc điểm truyền miệng nên kết cấu của truyện kể dân gian
thường ở dạng đơn tuyến và có tính tuyến tính. Các sự kiện, hành động trong truyện được
kể theo trình tự thời gian: hành động nào xảy ra trước kể trước, hành động xảy ra sau kể
sau. Cốt truyện của truyện kể dân gian thường thông qua các sự kiện và motif. Nhìn
chung các truyện dân gian có dung lượng ngắn, kết cấu truyện sáng rõ và hoàn chỉnh. Ở
đây, sự ngắn gọn không có nghĩa là đơn giản mà là một tổ chức có độ nén về dung lượng
thông tin theo cách của văn học dân gian.
24
1.2.3. Nhân vật và nhân vật truyện kể dân gian
Trong các thể loại văn học tự sự và kịch, nhân vật là yếu tố cơ bản nhất, là công
cụ, phương tiện để tác giả thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm. Do đó, muốn hiểu và
nắm được chủ đề tác phẩm, trước hết, phải tìm hiểu hệ thống nhân vật trong tác phẩm.
Tùy từng góc độ khác nhau có thể chia nhân vật thành nhiều kiểu loại khác nhau như:
nhân vật chính - nhân vật phụ, nhân vật chính diện – nhân vật phản diện, nhân vật tính