MÔN HOC: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
ĐÈ BÀI KIỂM TRA: NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ
VÀ XÃ HỘI LƯỠNG HÀ QUA VIỆC TÌM HIỂU BỘ LUẬT HAMÔRABI
Lưỡng Hà có một vị trí địa lý vô cùng thuận lợi cho việc phát triển kinh tế,
văn hoá và xã hội. Phía Tây, qua eo biển Hồng Hải có một nền văn minh phát triển
rực rỡ và sớm nhất Thế giới-đó là Ai Cập; phía Đông tiếp cận với hai nền văn minh
lớn khác là Trung Quốc và Ấn Độ; phía Bắc, qua Địa Trung Hải, là một nền văn
minh nổi tiếng với những chuyện Thần thoại - đó là Hylạp.
Mặt khác, Lưỡng Hà còn nằm trên trục “Đường tơ lụa”- con đường giao lưu
kinh tế giữa Đông và Tây, giữa châu Á, châu Âu và châu Phi.
Với vị trí địa lý thuân lợi như vậy, ngay từ rất sớm Lưỡng Hà đã bước vào
một xã hội văn minh, thịnh đạt trên tất cả các phương diện : kinh tế, văn hoá và xã
hội.
Chủ nhân đầu tiên của vùng đất Lưỡng Hà là người Xume, trải qua các thời
kỳ Ac cát, vương triều III của vua Ua. Nhưng chỉ đến thời kỳ Babilon dưới sự trị vì
của vua Hamôrabi thì Lưỡng Hà mới đạt được các thành tựu đáng kể và trở thành
quốc gia nổi tiếng nhất trong lịch sử Lưỡng Hà cổ.
Hamôrabi là vị vua thứ nhất thuộc vương triều thứ nhất của Babilon. Lãnh
thổ của Hamôrabi ban đầu còn tương đối nhỏ, khi kinh tế chính trị phát triển tạo
điều kiện cho Hamôrabi mở rộng cương vực lãnh thổ của mình. Hamôrabi lần lượt
đánh bại cac thành bang xung quanh thống nhất được hầu hết Lưỡng Hà. Trên cơ
sở đó ông xây dựng bộ máy nhà nước chuyên chế tập quyển trung ương. Dưới thời
vua Hamôrabi, Babilon ổn định về kinh tế chính trị,văn hoá cũng rất phát triển
Như ta đã biết luật pháp là những quy định bắt buộc do nhà nước ban hành
nhằm chế định những hành vi của con người nhằm ổn định đời sống kinh tế, văn
hoá, xã hội, điều tiết các mối quan hệ xã hội. Luật pháp chỉ ra đời khi đất nước có
nền kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, các mối quan hệ xã hội trở nên
phức tạp, đòi hỏi luật pháp ra đời để điều tiết các mối quan hệ đó. Từ việc ổn định
tình hình kinh tế, xã hội trong nước mới có thể tạo điều kiện giữ vững cương vực
- Về kinh tế :
Qua nội dung của các điều luật ta thấy rằng Bộ luật này tập trung điều
chỉnh các mối quan hệ của nền kinh tế nông nghiệp đã phát triển ở trình độ tương
đối cao, và nền kinh tế thương mại hàng hoá đã hình thành và phát triển rộng khắp.
Trước hết ta thấy rằng vùng Lưỡng Hà được hai con sông Tigơrơ và Ơphrat hàng
năm bồi đắp phù sa màu mỡ, rất thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp bao
gồm các ngành nghề chăn nuôi và trồng trọt. Như vậy, đất đai và các sản phẩm
nông nghiệp đã trở thành hàng hoá và đã từng xảy ra không ít vụ tranh chấp. Vì thế
những điều luật về quyền sở hữu, chuyển nhượng đất đai; về việc mua bán gia súc
và các sp nông nghiệp; và có cả những điều luật nhằm chống lại tệ nạn ăn cắp gia
súc như bò, lợn cừu…. Điều này đã thể hiện rõ trong các điều khổan 8, 30, 36, 38
-66. Nội dung chính của các điều luật này nhằm khuyến khích sản xuất ( Cấm để
đất hoang hoá ), chế độ cống nạp của nông dân khi canh tác trên đất công thổ…
Nói đến nông nghiệp không thể không nói đến công tác Thuỷ lợi, bởi vì nó là
một trong những yếu tố quyết định năng suất mùa màng. Người Sume đã chú ý đến
việc làm thuỷ lợi từ rất sớm. Các hệ thống tưới tiêu đã hình thành. Các hệ thống đê
điều thiết lập để chống lũ lụt, bảo vệ mùa màng. Như vậy cư dân trên cương vục
Lưỡng Hà đã biết cách chế ngự thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho lợi ich của
con người. Điều luật 83 quy định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của người dân trong
việc xây đắp và củng cố đê điều, hoặc trách nhiệm của người dân pơhải bồi thường
khi làm úng lụt ruộng của người khác…
Về chăn nuôi, có những điều luật ( điều 6, 38, 57 ), quy định về việc chăn
nuôi gia súc, cho thuê gia súc, mua bán gia súc, trừng phạt những hành vi trộm cắp
gia súc… chứng tỏ nghề chăn nuôi ở đây đã phát triển việc xa mức tự cung tự cấp.
Tóm lại, qua bộ luật Hamôrabi ta có thể thấy được rằng nền kinh tế nông
nghiệp ở vùng Lưỡng Hà đã phát triển ở trình độ rất cao - mức độ của nền nông
nghiệp sản xuắt hàng hoá.
Nhờ có nền sản xuất hàng hoá phát triển, nên nhu cầu giao thương hàng hoá
nên quan hệ tư hữu ở khu vực Lưỡng Hà sớm ra đời. Sự phân hoá xã hội cũng diễn
ra đồng thời với quan hệ tư hữu đó và ngày càng trở nên gay gắt. Qua việc nghiên
cứu Bộ luật Hamôrabi ta thấy rằng : Xã hôi Lưỡng Hà hình thành 2 giai cấp chính :
Giai cấp quý tộc và nông dân
- Trong giai cấp quý tộc lại có sự phân chia quý tộc quan lại ( gồm vua, quan
và các thành phần thân cận nhà vua) và quý tộc tăng lữ ( gồm những người hoạt
động tôn giáo )
- Giai cấp nông dân (dân tự do) bao gồm những người hoạt động trong lĩnh
vực nông nghiệp, thương nhân, thợ thủ công
- Và tầng lớp nô lệ-tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội
Người đứng đầu nhà nước là vua Hamôrabi có quyền lực tối thượng, đứng
trên pháp luật ; không bị ràng buộc bởi bất cứ điều luật nào. Cho nên ngay từ
chương đầu của bộ luật đã viết : Ngài được thần Mác Đúc giao phó cho nhiệm vụ
chăn dắ muôn dân, có được vũ khí mạnh mẽ do thần Sababa và Íta ban cho; Ngài là
vua ngự trị trên các vua: “lời nói của trẫm siêu quần xuất chúng, uy lực của trẫm
không ai sánh bằng”. Các điều luật ban hành không phải để áp dụng cho vua, hoàng
tộc và các quan lại mà chỉ áp dụng cho dân chúng. Các hình phạt áp đặt lên người
dân hết sức nghiêm khắc ( điều 1 đến 22, 25… ) thậm chí là dã man như thiêu sống,
chặt tay, khoét mắt…Số điều luật giành cho dân tự do có tới 80 điều trong tổng số
226 điều của bộ luật. Trong tầng lớp dân tự do chỉ có giới thương nhân có thể bước
lên tầng lớp quý tộc còn nông dân và thợ thuyền tiểu thủ công không bao giờ có thể
bước lên bục vinh quang đó mà còn có nhiều nguy cơ có thể hạ xuông tầng lớp nô
lệ nếu không may gặp những rủi ro về kinh tế. Trong khi đó, tầng lớp quý tộc
không bao giờ bị hạ xuồng làm dân thường. Tuy quan hệ giữa tầng lớp dân tự do
tươngt đối công bằng, nhưng quan hệ của dân thường với giới quý tộc là rất bất
bình đẳng, ví dụ như điều 45 quy định rằng người thuê đất phải chịu mọi thiệt hai
do thiên tai gây ra trong khi đó giới chủ đất (quý tộc) không phải gánh chịu hoặc
chia sẻ bất kỳ tổn thất nào. Các hình phạt của bộ luật này nổi tiếng là hà khắc với
thì người vợ có quyền đòi của hồi môn để về nhà mẹ đẻ. Hoặc người phụ nữ cũng
được hưởng các quyền thừa kế. Điều đó chứng tỏ bộ luật này rất tiến bộ trong việc
bảo vệ các quyên lợi của phụ nữ ở thời kỳ cổ đại. Tuy nhiên, bộ luật cũng có những
điều khgoản hết sức khắt khe đ/v phụ nữ phạm tội, không giữ được trinh tiết, không
làm tròn trách nhiệm của mình (điều 129, 135, 41. 143), và thân phận của người
phụ nữ vẫn phải phụ thuộc vào người chồng.
- Về tình hình chính trị:
Qua bộ luật ta thấy tình hình chính trị không hề tách rời các vấn đề kinh tế xã
hội. Đặc điểm chính trị nổi bật nhât của vùng Lưỡng Hà cổ là : thời kỳ này họ đã sử
dụng bộ luật như một công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền lợi của giai cấp
thống trị và củng cố bộ máy Nhà nước tập quyền trung ương và chế độ chiếm hữu
nô lệ. Mọi quyền lực đèu tập trung trong tay nhà vua, người có uy quyền tối thượng
thay mặt các thần trị vì nhân dân. Nhà vua tự nhận mình là người thống trị các vua,
đại diện của sự thông minh và trí tuệ, anh em với thần Sabaha, là ngưòi bảo hộ
thành Kít. Điều đó được thể hiên ở câu nói nổi tiếng của Quốc vương Hamôrabi: “
lời nói của trẫm siêu quần xuất chúng, uy lực của trẫm không ai có thể địch nổi”.
Như vậy, vua tập trung trong tay mình cả vương quyền lẫn thần quyền.
Chính trị của Lưỡng Hà thời kỳ này mang đậm màu sắc tôn giáo. Nhà nuớc
sử dụng tôn giáo như một trong nhưng công cụ chính trị đẻ thống trị muôn dân và
duy trì địa vị thống trị của tầng lớp trên và giới tăng lữ.
Nhà vua đặc biệt chú ý đén việc củng cố quân đội - một lực lượng quan trọng
bảo vệ quyền lợi cho giới quý tộc, ổn định tình hình chính trị trong nước từ đó tạo
uy thế chinh phục các vùng đát xung quanh; làm cho đất nuớc ngày càng giàu
mạnh, lãnh thổ ngày càng mở mang và uy thế ngày càng lớn
Kết luận: Nhiều đàêu khoản của bộ luật Hamôrabi vẫn còn có hiệu lực thi
hành cho đến ngày nay. Điều đó chứng tỏ rằng bbộ luật này rất tiến bộ, nó vượt qua
không gian thời gian, vượt xa thời cổ đại so với các nền văn minh đương thời.
Tuy còn có những hạn chế do vấn đề lịch sử, nhưng nó mang nhiều tư tưởng