Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
CHƯƠNG I: PHÂN TÍCH TỔNG QUAN TÌNH HÌNH
KINH TẾ - CHÍNH TRỊ
A. Tình hình thế giới
I/ Tổng quan kinh tế thế giới năm 2010
Mặc dù giai đoạn tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế đã trôi qua
nhưng ảnh hưởng của nó vẫn khá nghiêm trọng, khiến nền kinh tế toàn cầu năm
qua phải trải qua nhiều biến cố. Trong năm 2010, kinh tế thế giới tiếp tục phục
hồi chậm chạp. Năm 2010 cũng đánh dấu những diễn biến khác thường về tỷ giá
của USD, EUR, JPY – những đồng tiền quan trọng trên thế giới. Khu vực đồng
Euro lâm vào cuộc khủng hoảng nợ nần. Có thể điểm lại những nét nổi bật của
bức tranh kinh tế thế giới năm 2010 qua những mặt sau:
1/ Kinh tế phục hồi sau khủng hoảng:
Năm 2010 khép lại với một loạt những biến động bất ngờ, mà trong đó
nổi bật là tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng của một loạt nền kinh tế: Kinh tế toàn
cầu năm 2010 có sự phục hồi sau khủng hoảng với mức tăng trưởng ước đạt
3,9%, trong đó các nước đang phát triển tiếp tục là nhóm có mức tăng trưởng cao
nhất trong năm 2010 (7,1%) gấp hơn 2 lần so với khối các nước phát triển
(2,8%). Trong bức tranh kinh tế thế giới năm 2010, Đông Á vẫn là điểm sáng khi
tiếp nối năm 2009 với mức tăng trưởng cao nhất (tới 9,3%); tiếp theo sau là khu
vực Nam Á và Mỹ Latinh và Caribe với mức tăng trưởng lần lượt là 8,7% và
5,7%. Khu vực cận Sahara châu Phi, Đông Âu và Trung Á cũng có sự phục hồi ở
mức tăng trưởng là 4,7%. Như vậy, các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi
tiếp tục dẫn dắt sự phục hồi kinh tế toàn cầu trong năm 2010. Điều này là do các
nước này thu hút được luồng đầu tư quốc tế lớn và có sự gia tăng mạnh của tiêu
dùng nội địa. Bên cạnh đó nhu cầu cao về nhiên liệu và hàng hóa của các nền
kinh tế quy mô lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia là động lực thúc đẩy sự
phục hồi sản xuất cho các nước phát triển và đóng vai trò sức bật thương mại cho
toàn khu vực.
1
Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
2
Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
khi khủng hoảng nổ ra, trong đó, tăng trưởng mạnh nhất là nhóm các cổ phiếu
ngành ngân hàng - tài chính).
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, thị trường tài chính, tiền tệ
thế giới vẫn biến động phức tạp, khó lường. Thị trường tài chính - tiền tệ thế giới
vẫn còn tiềm ẩn nhiều bất ổn. Trong 7 tháng đầu năm có khoảng 40 ngân hàng tại
Mỹ đã phá sản, có những ngày có tới 4 ngân hàng đồng loạt phá sản. Tỷ giá giữa
một số ngoại tệ mạnh trên thế giới biến động mạnh (đồng Euro giảm giá tới gần
20% trong vòng 2 tháng, đồng Yên Nhật lại tăng lên mức cao nhất trong vòng 15
năm qua so với đồng USD) đã tác động tới cán cân thanh toán quốc tế, dòng chảy
vốn và thương mại quốc tế, đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu.
Trong khi đó, nguy cơ lạm phát đang tăng tại một số nước chủ yếu do việc tăng
giá năng lượng (chỉ số giá tiêu dùng tại Trung Quốc tháng 7-2010 tăng 3,3% so
với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất kể từ tháng 10-2008; bên cạnh đó bong
bóng thị trường bất động sản tại một số nước, như Trung Quốc, Ấn Độ, Bra-xin
cũng đang đe dọa sự ổn định và phục hồi kinh tế của các nước này nói riêng và
nền kinh tế toàn cầu nói chung.
II. Tình hình chính trị thế giới năm 2010
Không hơn kém gì so với tình hình kinh tế, thế giới năm 2010 vừa qua
cũng đã chứng kiến đầy áp những sự kiện chính trị với những sự thay đổi lớn,
trong đó nổi bật hơn cả là:
1/ Mỹ thất bại cả về quân sự lẫn chính trị tại Áp-ga-ni-xtan.
Năm 2010, mục tiêu mà Mỹ theo đuổi là loại trừ sự đe dọa của chủ nghĩa
khủng bố tại Áp-ga-ni-xtan chứ không phải là xây dựng một chế độ dân chủ ở
nước này. Tháng 12-2009, việc Mỹ tăng 30.000 quân, các nước NATO bổ sung
khoảng 7.000 quân, nâng tổng số quân của Mỹ và NATO tại Áp-ga-ni-xtan lên
tới 150.000 quân, chính là bước đi ban đầu để Mỹ thực hiện mục tiêu trên. Có
thêm quân trong tay, Mỹ muốn tăng sức mạnh để chống lại những phần tử nổi
dậy, bảo vệ các trung tâm mấu chốt, sau đó “chuyển giao quyền lực cho chính
ngày 28-10, nếu cuộc hòa đàm I-xra-en - Pa-le-xtin tới đây chấm dứt trong hỗn
loạn, thì chính quyền B.Ô-ba-ma có thể cần một “thắng lợi ngoại giao” bằng cách
can dự vào I-ran để nâng cao vị thế của mình. Đây là một nhận định không ai
dám bỏ qua. Mạng tin này cũng dẫn lời ông M. In-đích, cựu quan chức cấp cao
và là nhà thương thuyết của Mỹ rằng, “Nếu ông B.Ô-ba-ma thành công trong vấn
đề Pa-le-xtin, nó sẽ góp phần thuyết phục I-ran rằng: theo đuổi vũ khí hạt nhân là
4
Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
không phù hợp với lợi ích của Tê-hê-ran. Tuy nhiên nếu thất bại, Mỹ có thể phải
tiến hành cuộc chiến tranh thứ ba ở Trung Đông và lần này với I-ran”.
Với những gì diễn ra như vậy, người ta hiểu vì sao Trung Đông lại dường
như đang chuẩn bị cho tình huống chiến tranh. Các tiểu vương quốc Arập Thống
nhất vừa khai trương căn cứ hải quân mới. Ai Cập và Arập Xê-út (theo mạng
phân tích tình báo Debka File của I-xra-en) đã tiến hành tập trận chung với quy
mô chưa từng có nhằm chống lại “mối đe dọa từ I-ran”. Mới đây, không quân I-
xra-en tập trận trên bầu trời Hy Lạp, mô phỏng một cuộc tiến công vào I-ran, v.v.
Vậy là, trong vai người bảo trợ, cũng như các lần trước, năm nay Mỹ
chẳng những không vãn hồi được hòa bình Trung Đông, mà còn là tác nhân
khiến cho khu vực vốn bất ổn này có thể còn bất ổn hơn, thậm chí dẫn đến nguy
cơ khôn lường. Nói cách khác, cuộc hòa đàm I-xra-en - Pa-le-xtin bị “chết lâm
sàng” ngay từ cuối tháng 9-2010 một lần nữa chứng tỏ, khả năng của Mỹ, quyền
lực của Mỹ đã bị giới hạn tại khu vực này.
3/ Châu Âu trong cơn khủng hoảng nợ công
Cơn bão nợ của Hy Lạp lan rộng ra khắp châu Âu. Pháp, Đức, Anh đặt
trong báo động nợ, hai nước trên bờ khủng hoảng là Tây Ban Nha và Bồ Đào
Nha. Ý và Ireland nghiêng ngả… Hàng loạt nền kinh tế châu lục đưa ra khẩu
hiệu “thắt lưng buộc bụng”, cắt giảm mạnh chi tiêu công.
Những cuộc biểu tình, đình công bùng nổ phản đối chính sách tiết kiệm
của chính phủ. Bất ổn kinh tế đã trở thành bất ổn chính trị. Các nước châu Âu lún
sâu vào nợ nần lại càng thêm chất chồng khó khăn, vì những tổn thất hàng triệu
nhất. Hàn Quốc thay thế hàng loạt quan chức quân sự cao cấp bằng các nhân vật
cứng rắn hơn; tiến hành một cuộc tập trận bắn đạn thật chưa từng có ngay gần
biên giới, cùng hàng loạt cuộc tập trận không quân, hải quân khác. Tổng thống
Lee tuyên bố “đáp trả không nao núng” bất kỳ hành động gây hấn nào từ Triều
Tiên. Còn Bình Nhưỡng cho hay không ngại ngần tiến hành “cuộc chiến tranh
thần thánh” sử dụng hạt nhân nếu bị Seoul tấn công.
Hơn bao giờ hết, hòa bình trở nên mong manh trên bán đảo cho dù người
dân cả hai miền vẫn luôn nguyện cầu chiến tranh sẽ không xảy ra.
Ngoài những vấn đề trên, năm 2010 khép lại cũng là năm đáng nhớ khi
Nga và Mỹ ký Hiệp ước START mới về cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược.
Đó là một sự kiện quốc tế quan trọng trong tiến trình hướng tới một thế giới phi
hạt nhân. Cùng với sự kiện này, có thể nói, năm 2010 là năm quan hệ Nga -
6
Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
NATO đang phát ra những tín hiệu tích cực chưa từng có, đặc biệt là, lần đầu tiên
trong lịch sử, hai bên đã đồng ý cùng nhau hợp tác về vấn đề hệ thống tên lửa
phòng thủ. Sẽ còn quá sớm để lạc quan về bước đột phá mang tính chiến lược
giữa hai thực thể, song rõ ràng là cả Nga và NATO đang muốn và cần sự hợp tác
thiết thực vì lợi ích của nhau và vì lợi ích toàn cầu. Năm 2010 còn là năm biểu
hiện rõ ràng hơn về xu thế hình thành cấu trúc khu vực. Đó là, Cộng đồng các
nhà nước Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê (không bao gồm Mỹ và Ca-na-đa) được thành
lập vào tháng 2-2010. Ở khu vực Đông Nam Á, ASEAN đang trở thành một
trong những trung tâm mới của thế giới, với mục tiêu xây dựng thành công Cộng
đồng ASEAN vào năm 2015.
Như vậy, bên cạnh xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn chiếm vị trí
chủ đạo của thế giới, năm 2010, thế giới còn hiện hữu nhiều bất ổn và nguy cơ
bất ổn.
B. Tình hình trong nước
Trước những biến động lớn của thế giới, tình hình trong nước cũng đã có
những biến động khá mạnh mẽ cả về mặt kinh tế lẫn chính trị - xã hội, trong đó
2009, trong đó vốn thực hiện ước đạt 10 tỷ USD, tăng 9,9%. Mặc dù vốn FDI
đăng ký có thấp hơn nhiều so với năm 2009 nhưng tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn
đăng ký lại cao hơn nhiều. Đây có thể được coi là điểm sáng trong thu hút FDI
năm 2010. Điều này cũng cho thấy sự cam kết lâu dài các nhà đầu tư nước ngoài
ở thị trường Việt Nam.
Tốc độ tăng vốn đầu tư cao và nhanh một mặt thể hiện quan hệ tích lũy –
tiêu dùng đã có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, nhưng mặt khác lại
cho thấy những hạn chế trong hiệu quả đầu tư. Nếu như năm 1997, chúng ta đạt
8
Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
được tốc độ tăng trưởng 8,2% với vốn đầu tư chỉ chiếm 28,7% GDP thì cũng với
tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy năm 2007 (8,5%) chúng ta phải đầu tư tới
43,1% GDP. Đến năm 2010, trong khi tổng mức đầu tư toàn xã hội lên tới 41%
GDP, thì tốc độ tăng trưởng lại chỉ đạt 6,7%. Bên cạnh đó còn xảy ra tình trạng
chậm trễ trong giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn
trái phiếu Chính phủ, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư ở tất cả các khâu của quá
trình quản lý dự án đầu tư. Những đặc điểm này là đáng báo động về cả trước
mắt cũng như lâu dài.
2/ Lạm phát và giá cả.
Năm 2010 lạm phát có những diễn biến phức tạp. Từ đầu năm đến cuối
tháng 8 chỉ số giá tiêu dùng diễn biến theo chiều hướng ổn định ở mức tương đối
thấp, trừ hai tháng đầu năm CPI ở mức cao do ảnh hưởng bởi những tháng Tết.
Tuy nhiên, lạm phát đã thực sự trở thành mối lo ngại từ tháng 9 khi CPI tăng bắt
đầu xu hướng tăng cao. Đến hết tháng 11, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng tới 9,58%
và mục tiêu kiềm chế lạm phát cả năm dưới 8% mà Quốc hội đề ra sẽ không thực
hiện được.
Lạm phát và giá cả của năm 2010 tăng cao xuất phát từ nhiều nguyên nhân:
9
Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
Thứ nhất, sự phục hồi của nền kinh tế làm cho nhu cầu các loại hàng hóa
10
Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
kinh ngạc. Mặc dù tỷ suất lợi nhuận đầu tư vào vàng năm qua đạt khoảng 38%.
Tuy nhiên, điều này về tổng thể không có lợi cho nền kinh tế, bởi nó không
những không tạo ra việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, nó còn góp phần
làm méo mó dây chuyền sang các thị trường khác như USD, nhà đất và chứng
khoán.
Nguyên nhân của việc lãi suất tăng cao:
o Lạm phát cao vượt dự kiến: Lạm phát cao đã khiến người
dân không còn muốn cất giữ tiền mặt, thay vào đó đầu tư các tài sản có tính
thanh khoản tốt và thường tăng theo lạm phát là USD và vàng. Vì vậy, các
ngân hàng không những khó huy động vốn mà tiền tiết kiệm được rút ra để
đầu tư vào các tài sản có tính an toàn cao hơn.
o Chính sách tiền tệ thắt chặt: Ngày 5/11, NHNN quyết định
điều chỉnh các lãi suất thêm 1%, lãi suất cơ bản lên 9%, lãi suất tái cấp vốn
lên 9%, lãi suất tái chiết khấu lên 7%. Động thái này cho thấy NHNN đang sử
dụng chính sách thắt chặt tiền tệ để phòng chống lạm phát. Trong thời gian
qua, NHNN cũng đã hạn chế cung tiền qua thị trường mở.
o Đầu tư khu vực nhà nước tăng mạnh: Năm 2010, dù lãi suất
đứng ở mức rất cao nhưng đầu tư trong nền kinh tế vẫn lên tới 43% GDP.
Điều này cho thấy thực tế là lãi suất cao không làm giảm tỷ lệ đầu tư trong
nền kinh tế. Nguyên nhân là do đầu tư khu vực nhà nước tăng lên rất mạnh và
đã kéo mặt bằng lãi suất lên cao.
o Sức ép từ Thông tư 13: Thông tư 13 yêu cầu nâng hệ số an
toàn vốn tối thiểu CAR từ 8% lên 9% và quy định số tiền cho vay không quá
80% huy động được. Trước khi có quy định hầu hết các ngân hàng Việt Nam
đều có hệ số CAR chưa đạt đến 9% và dư nợ cho vay lớn hơn vốn huy động.
Ngoài ra, quy định tại Thông tư 13 còn nâng hệ số rủi ro đối với các
khoản cho vay đầu tư bất động sản và chứng khoán từ 100% lên 250%. Do vậy,
các ngân hàng đã phải hạn chế cho vay và tăng cường huy động vốn để đáp ứng
Bên cạnh tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2010 của lao động
trong độ tuổi là 4,5%, giảm 1,11% so với 2009.
Trong đó, khu vực thành thị là 2,04%, giảm 1,29%, khu vực nông thôn là
5,47%, giảm 1,04% so với 2009.
Cũng theo Tổng cục thống kê, tỷ lệ dân số cả nước từ 15 tuổi trở lên tham
gia lực lượng lao động tăng từ 76,5% lên 77,3% năm 2010.
Trong đó, tỷ lệ lao động khu vực nông - lâm - thủy sản giảm từ 51,9%
năm 2009 xuống 48,2% năm 2010. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng
21,6% lên 22,4%. Khu vực dịch vụ tăng từ 26,5% lên 29,4%.
6/ Xuất nhập khẩu.
Năm 2010, xuất nhập khẩu khẩu của Việt Nam có nhịp độ tăng trưởng
đáng khích lệ trong bối cảnh kinh tế của những nước vốn là thị trường xuất khẩu
lớn của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, EU… vẫn phục hồi chậm chạp. Tổng kim
ngạch xuất khẩu năm 2010 ước đạt khoảng 70,8 tỷ USD, tăng 24,9% so với năm
2009. Xuất khẩu tăng là do sự đóng góp lớn của những mặt hàng công nghiệp
chế biến cộng với sự phục hồi của kinh tế thế giới làm cho xuất khẩu hàng nông,
lâm, thủy sản được lợi về giá. Vấn đề tồn tại lớn nhất của xuất khẩu đã bộc lộ
trong nhiều năm qua là việc vẫn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản,
nông, lâm, thuỷ, hải sản, dệt may, da giầy… Hơn nữa, các mặt hàng công nghiệp
chế biến vẫn mang tính chất gia công. Như vậy, xuất khẩu chủ yếu vẫn dựa vào
khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa xây dựng được các ngành công nghiệp
có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu
lớn.
Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2010 ước đạt 82,6 tỷ USD, tăng 19,8%
so với năm 2009. Nguyên nhân chính của sự gia tăng nhập khẩu là do kinh tế có
13
Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
sự phục hồi làm gia tăng nhập khẩu nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất (chiếm
khoảng 80% cơ cấu nhập khẩu). Mặc dù cả kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch
nhập khẩu đều tăng, nhưng do tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao hơn tốc độ
thuế) tăng khá nhiều. Đây là dư địa quan trọng để tăng thu ngân sách và giữ kỷ
cương luật pháp về ngân sách nhà nước. Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước
ước đạt 637.200 tỷ đồng, tăng 9,4% so với dự toán và tăng 9% so với thực hiện
năm 2009. Bội chi ngân sách năm 2010 ước khoảng 117.100 tỷ đồng, bằng
khoảng 5,95% GDP, giảm so với năm 2009 (6,9%) và cũng giảm so với kế hoạch
đề ra (6,2%). Đó là những kết quả rất đáng khích lệ trong bối cảnh nền kinh tế
vừa trải qua cơn suy giảm. Tuy nhiên, bội chi ngân sách vẫn còn cao (chưa về
mức dưới 5% như đã duy trì trong nhiều năm) và là một trong những nhân tố góp
phần làm gia tăng lạm phát. Điều này cũng cảnh báo độ an toàn của ngân sách
trong các năm tiếp theo nếu như không chủ động có các biện pháp cải cách để tạo
nền tảng tăng nguồn thu cũng như tăng cường kỷ luật tài chính cho ngân sách.
II. Tình hình chính trị - xã hội .
Trước những biến động của nền kinh tế, tình hình chính trị - xã hội
nước ta trong năm 2010 vừa qua cũng đã có những biến động lớn.
1- Tổ chức thành công Đại hội (ĐH) đảng bộ các cấp, tiến tới ĐH toàn
quốc lần thứ XI của Đảng. Đây là đợt sinh hoạt chính trị hết sức quan trọng
nhằm tổng kết toàn diện quá trình phát triển của đất nước, các bộ, ngành, đoàn
thể TƯ và địa phương nhiệm kỳ qua và xác định phương hướng, nhiệm vụ phát
triển giai đoạn 2011-2015, kiện toàn nhân sự đảng bộ các cấp trong nhiệm kỳ
mới.
Tại Hà Nội, cùng với ĐH lần thứ XV Đảng bộ TP, 2.942 chi bộ, đảng bộ
cơ sở; 55 đảng bộ quận, huyện, thị xã và các đảng bộ trực thuộc tổ chức thành
công ĐH, bảo đảm đúng tiến độ, đạt kết quả theo tinh thần đổi mới. Đặc biệt, tại
nhiều ĐH Đảng bộ các cấp lần đầu tiên đã tiến hành bầu trực tiếp Ban Thường vụ
và Bí thư cấp ủy.
2- Việt Nam hoàn thành xuất sắc Nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN. Với tinh
thần chủ động, tích cực, sáng tạo, có trách nhiệm, trong vai trò Chủ tịch ASEAN,
Việt Nam đã chủ trì thành công hơn 100 hội nghị và sự kiện chính trị quan trọng
của ASEAN, hoàn thành tốt mục tiêu của Hiệp hội. Trong đó có Hội nghị cấp
cao ASEAN, lần đầu tiên có Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng
7- Hoàn thành chương trình cải cách hành chính (CCHC) nhà nước giai
đoạn 2001-2010. Sau 10 năm thực hiện CCHC trên bốn nội dung: cải cách thể
chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; xây dựng và nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức và cải cách nền tài chính công, đã đạt kết quả bước đầu rất
16
Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
quan trọng. Đây cũng là năm hoàn thành Đề án 30 của Chính phủ về đơn giản
hóa thủ tục hành chính (TTHC) nhà nước giai đoạn 2007-2010. Kết quả, đã có
trên 5.500 TTHC được rà soát, có 453 TTHC được kiến nghị bãi bỏ, hủy bỏ; có
3.749 TTHC được kiến nghị sửa đổi, bổ sung theo hướng tạo thuận lợi hơn cho
người dân và doanh nghiệp, ước tính kinh phí tiết kiệm được gần 30.000 tỷ
đồng/năm.
8- Liên hợp quốc ghi nhận Việt Nam đi đầu trong thực hiện các Mục tiêu
Phát triển Thiên niên kỷ (MDG). Tại Hội nghị cấp cao Liên hợp quốc kiểm điểm
10 năm thực hiện MDG ở New York tháng 9-2010, Việt Nam được đánh giá là
một điển hình, hoàn thành sớm 5/8 MDG và về cơ bản có thể hoàn thành hết các
mục tiêu vào năm 2015. Hai mục tiêu được thực hiện thành công nhất là xóa đói
giảm nghèo và phổ cập giáo dục.
9- Mưa lớn, lũ lụt chưa từng có trong hơn 100 năm qua ở miền Trung. Lũ
lụt dồn dập, kéo dài trong các tháng 10 và 11 tàn phá nhiều tỉnh miền Trung, gây
thiệt hại lớn về người và của, làm 198 người chết, 35 người mất tích, 197 người
bị thương, gây thiệt hại về vật chất trên 13.500 tỷ đồng. Trong thời gian này,
đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài đã hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng,
Chính phủ, UB MTTQ các cấp, cùng với các cấp, các ngành, địa phương…
quyên góp của cải vật chất, lương thực, thuốc mem cứu trợ kịp thời cho nhân dân
vùng lũ vượt qua khó khăn.
10- Dịch sốt xuất huyết bùng phát. Năm 2010 là năm dịch sốt xuất huyết
(SXH) diễn biến phức tạp với hơn 120.000 trường hợp mắc, trong đó 84 ca tử
vong. So với năm 2009, số mắc tăng 31%. Đáng lưu ý, tại các cơ sở y tế đã ghi
nhận nhiều bệnh nhân bị xuất huyết nặng, nên tỷ lệ tử vong cũng gia tăng (50%
Kết thúc năm (29/12/2010), các chỉ số chứng khoán đều chốt với điểm số
cao so với phiên cuối năm 2009, DowJones tăng 11% (1147.49 điểm) lên
11575.54, S&P500 tăng 13% (143.41 điểm) lên 1115.10, Nasdaq tăng 17%
(393.73 điểm) lên 2662.88, FTSE100 tăng 9% (508.6 điểm) lên 6008.9,
Hangseng tăng nhẹ 3% (749.23 điểm) lên 22621.73 và ngược lại Nikkei 225 lại
giảm nhẹ 2% (253.81 điểm) còn 10292.63 điểm.
18
Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
2/ Thị trường vàng : Năm 2010 – một năm hoàng kim của vàng
Nhu cầu vàng trên thế giới gia tăng kể từ tháng 9/2008, khi cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu leo thang và tấn công mạnh vào các thị trường
làm cho niềm tin của giới đầu tư vào tiền giấy suy giảm mạnh.
Và năm 2010 quả thực là một năm hoàng kim của “vàng” – kim loại này
đã duy trì được một thập niên liên tục tăng giá. Sự phục hồi kinh tế toàn cầu còn
gặp nhiều khó khăn; những lo ngại về vấn đề khủng hoảng nợ công ở châu Âu;
sự suy yếu của đồng đôla; những căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên; áp lực lạm
phát gia tăng trên thế giới; xu hướng thực hiện thắt chặt CSTT của nhiều NHTW;
xu hướng tăng dự trữ vàng của các NHTW để thay thế cho các loại ngoại tệ và
tài sản tài chính khác; những biến động trên thị trường ngoại hối, diễn biến của
thị trường chứng khoán chưa ổn định, cũng như nhu cầu vàng vật chất rất lớn ở
khu vực các nước Châu Á…. đã tạo lực kéo cho giá vàng đi lên.
Trong năm, giá vàng thế giới đã liên tiếp lập nhiều kỷ lục mới với các
mốc 1240$/oz (12/05); 1250$/oz (08/06);1263$/oz (21/06); 1293.5$/oz (22/09)
và 1421$/oz (9/11) và sau đó đã quay trở lại trên ngưỡng 1400$/oz trong tháng
12/2010. Giá vàng năm 2010 trung bình ở mức 1222.95$/oz tăng thêm 250.6$/oz
(25,77%) so với mức trung bình 972.35$/oz của năm 2009. Tính đến ngày 29/12,
giá vàng thế giới hiện ở mức 1403.5 $/oz, tăng 29,06% so với phiên cuối cùng
năm 2009, và vượt lên 191$/oz so với mức đỉnh 1212.5$/oz của năm 2009.
Tính chất ổn định của vàng trong giai đoạn hiện nay không chỉ được giới
đầu tư mà ngay cả NHTW các nước cũng rất ưa chuộng, chính điều này đã tạo bệ
đứng sau mức kỷ lục 24.000 tỷ đồng của năm 2007.
Thực tế, tổng giá trị mua vào của khối ngoại trong năm 2010 chỉ đạt 66%
so với năm 2007 nhưng khối lượng cổ phiếu mua vào đạt trên 200%. Ngoài ra,
giá mua trung bình tính theo giá cổ phiếu năm 2010 là 44.000 đồng mỗi cổ phiếu
so với 48.000 đồng năm 2009 và 140.000 đồng năm 2007. Như vậy, giá trị cổ
phiếu của khối ngoại mua vào năm 2010 thấp hơn nhiều so với những năm trước
20
Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
đây. Chính mức giá hấp dẫn này là động lực giúp cho khối ngoại tăng cường mua
ròng trong năm 2010.
3/ Cổ phiếu ngân hàng mất đi tính hấp dẫn
Nguyên nhân khiến nhóm cổ phiếu ngân hàng mất đi tính hấp dẫn, ngoài
quy định bắt buộc tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng (đã được giải tỏa) còn bởi lý do lợi
nhuận. Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng giảm so với cùng kỳ năm 2009 khiến cho
kết quả kinh doanh của các ngân hàng trong quý III đạt được cho là không cao
(tính đến cuối quý III, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống chỉ đạt khoảng
19,5%). Đặc biệt, sau 9 tháng hoạt động, nhiều ngân hàng mới chỉ thực hiện
được hơn 2/3 chỉ tiêu lợi nhuận cả năm và nhiều ngân hàng phải điều chỉnh chỉ
tiêu lợi nhuận.
4/ Nở rộ hoạt động sát nhập
Hoạt động mua bán sáp nhập (M&A) trên thị trường chứng khoán đã nở
rộ cả về số lượng lẫn hình thức trong năm 2010. Các vụ sát nhập doanh nghiệp
điển hình là KMR với KMF, HT1 với HT2, KDC với NKD. Các vụ chào mua
công khai có VHG mua AGF, Thành Thành Công chào mua cổ phiếu NHS,
Prudential chào mua chứng chỉ quỹ PRUBF1, Bình Thiên An cùng các bên có
liên quan thâu tóm đối với DCC
Nhìn chung, năm 2010 trôi qua với những biến động không đáng kể đối
với thị trường chứng khoán thế giới, thi trường chứng khoán trong nước thì rất
ảm đạm, chứa đựng nhiều bất ổn và rủi ro.
21
biến do khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007 – 2008. Đồng Việt Nam liên tục
mất giá. Chỉ trong vòng 10 tháng kể từ 11/2009 đến 08/2010, NHNN đã 3 lần
điều chỉnh tỷ giá USD/VND liên NH, tăng tổng cộng 11.17%. Lãi suất tăng
mạnh, đặc biệt trong những tháng cuối năm, với lãi suất huy động ở mức 14 –
16%, lãi suất cho vay lên tới 19 – 20%. Cuộc chiến lãi suất gây không ít trở ngại
cho hoạt động SXKD của các DN.
* Diễn biến ngành
-Doanh thu tăng trưởng khá nhờ nhu cầu đầu tư & tiêu dùng tăng theo đà
hồi phục kinh tế. Trong 9 tháng đầu năm 2010, mức tăng trưởng doanh thu bình
quân các doanh nghiệp niêm yết đạt khoảng 25% so với cùng kỳ 2009. Tuy nhiên
chi phí đầu vào (giá nguyên vật liệu, tỷ giá, lãi suất…) tăng cao khiến khả năng
sinh lợi của nhiều ngành giảm sút. LNST 3 quý đầu 2010 giảm 3% so với cùng
kỳ 2009.
-Ước tính trong năm 2010, cùng với tăng trưởng kinh tế, doanh thu của
các doanh nghiệp niêm yết bình quân tăng 25 – 30% song lợi nhuận chỉ tăng
trưởng ở mức 0 – 2% so với năm 2009.
* Bối cảnh TTCK 2010
-Xu thế đi ngang là chủ đạo, dòng tiền yếu, niềm tin giới đầu tư sụt giảm.
-Tính chung cả năm, VN Index giảm 6.26%, HNX Index giảm 36.5%.
-Có tới 78% các ngành có giảm giá trong năm 2010
* Triển vọng 2011
- Bước sang năm 2011, triển vọng kinh tế vĩ mô được đánh giá sẽ không
có nhiều yếu tố đột biến, tuy nhiên tính ổn định sẽ được củng cố và tăng trưởng
tiếp tục được duy trì. Đây sẽ là động lực phát triển cho các ngành kinh tế. Một số
23
Bài tập nhóm TCDN 2 Lê Thị Mỹ Phương
khó khăn tiếp tục gặp phải trong năm 2011 là áp lực từ lạm phát cao, sự biến
động mạnh của tỷ giá và mặt bằng lãi suất khó có thể giảm xuống mức hợp lý
ngay trong nửa đầu năm.
- Với những biến động không như mong đợi của TTCKtrong năm 2010
nhất trong 3 năm trở lại đây và thấp hơn nhiều so với mức 37.73% của năm
2009, nhưng vượt con số kế hoạch là 25%, tổng phương tiện thanh toán tăng trên
25.2%.
Trong vòng 10 tháng kể từ 11/2009 đến 8/2010, NHNN đã phải thực hiện
3 lần điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng, tăng tổng cộng 11.17% lên mức 18,932
VND/USD. Tỷ giá trần hiện nay được niêm yết là 19,500 VND/USD, nhưng tỷ
giá trên thị trường tự do lên cao nhất ở mức 21,500 VND/USD.
Lãi suất tăng mạnh, đặc biệt trong những tháng cuối năm với mức lãi suất
huy động phổ biến 14-16%, lãi suất cho vay chạm 19-20%. Hình 4: Biến động lãi
suất liên ngân hàng từ năm 2008 đến năm 2010
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) tăng từ 1.9% cuối năm 2009 lên 2.5% vào cuối năm
2010. Đặc biệt là khoản nợ lên tới khoảng 26,000 tỷ đồng của 10 NHTM cho
Vinashin vay nếu như đưa vào nợ xấu thì sẽ đẩy NPL lên mức 3.2%.
1.3/ TRIỂN VỌNG NĂM 2011
a/ Cơ hội
Tăng trưởng tín dụng theo hướng bền vững : Với định hướng ưu tiên ổn
định vĩ mô, NHNN đã đưa ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng cho năm 2011 là
23%.
Ổn định mặt bằng lãi suất: Cùng mục tiêu kiểm soát lạm phát, kỳ vọng
mặt bằng lãi suất sẽ được giữ ổn định và từng bước hạ trong năm 2011
Điều hành lãi suất theo Luật Ngân hàng mới: Luật Ngân hàng mới bắt đầu
có hiệu lực từ 1/1/2011 sẽ có nhiều quy định mới, trong đó quan trọng nhất là
quy định về lãi suất: tách lãi suất điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất làm cơ
sở cho việc giải quyết tranh chấp và chống cho vay nặng lã.
25