Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt……………………………………………………………2
Danh mục bảng biểu……………………………………………………………3
Lời mở đầu……………………………………………………………………..4
Phần I: Giới thiệu đề tài nghiên cứu………………........................................... 6
1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài……………….……………….6
1.2. Xác định vấn đề nghiên cứu……………………………….………….....7
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài……………………………………….….7
1.4. Ý nghĩa của đề tài…………………………………………………….….8
1.5. Phương pháp số liệu mảng………………………………………………9
Phần II: Phân tích thực trạng…………………………………………………..14
A. Tổng quan tình hình hoạt động của các DN từ 2000 đến 2005………...14
B. Tình hình hoạt động của các DN theo KVKT từ năm 2000 đến năm
2005……………………………………………………………………..16
1. Hoạt động của DNNN……………………………………………….16
2. Hoạt động của DNTN………………………………………………. 22
3. Hoạt động của DN FDI……………………………………………....23
C. Quan hệ về hoạt động kinh doanh của DN theo KVKT……….………..23
1. So sánh tỷ suất sử dụng vốn theo ngành của các KVKT…………….24
2. So sánh lợi nhuận trên lao động theo KVKT………………………...27
3. So sánh mức trang bị vốn cho lao động theo KVKT………………...28
Phần III: Mô hình kinh tế lượng………………………………………………..30
3.1. Số liệu…………………………………………………………….30
3.2. Mô hình biến mảng……………………………………………….32
Phần IV : Kết luận chung và khuyến nghị……………………………………...45
A. Nhận xét chung…………………………………………………………..45
B. Khuyến nghị……………………………………………………………...51
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DN : Doanh nghiệp.
Hoàng Thị Kim Dung Page 1
Đề TÀI: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp theo khu vực kinh tế trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005.
Hoàng Thị Kim Dung Page 3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
Lời mở đầu
Trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, Chính sách tài chính quốc
gia hướng vào việc tạo ra vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trong toàn xã hội, tăng
nhanh sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân…. là yếu tố quyết định sống còn đối
với các doanh nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh tế của đất nước nói chung.
Chính vì vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề cấp bách đặt ra đối với nước
ta trong bối cảnh hiện nay.
Trong quá trình hội nhập và phát triển nền kinh tế quốc tế, nền kinh tế thị trường
và toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu của tất cả các nước trên thế giới. Để đạt được
điều đó, nước ta phải cố gắng rất nhiều. Nước ta là nước có xuất phát điểm thấp, cơ
sở hạ tầng kém phát triển, cơ chế quản lý còn nhiều thiếu sót và hạn chế. Chính vì
vậy, để cùng hội nhập và thực hiện tiến trình phát triển kinh tế trên toàn thế giới,
nước ta đang có những chính sách mới được đưa ra để phù hợp với điều kiện của
đất nước. Tìm ra được những ngành nghề để phát huy sức mạnh và những lợi thế
riêng của đất nước, xem xét khu vực kinh tế nào hoạt động có hiệu quả để phát huy
và hoàn thiện, khu vực kinh tế nào còn nhiều yếu kém và hạn chế thì cần đổi mới
và có chính sách hỗ trợ kịp thời. Đó chính là vấn đề được đảng và nhà nước đặc
biệt quan tâm.
Để thực hiện được mục tiêu đó, yếu tố mà nhà nước có thể nhận định được để đưa
ra các chính sách sao cho phù hợp nhất chính là hiệu quả hoạt động giữa các ngành
nghề kinh tế và giữa các khu vực kinh tế. Tìm ra các yếu tố tác động đến hiệu quả
sử dụng vốn ở các doanh nghiệp, việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực trong các
khu vực sở hữu khác nhau, trong các ngành kinh tế khác nhau để có những chính
Hoàng Thị Kim Dung Page 4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
nhân tố nào, đầu tư vốn trong ngành nào mang lại lợi nhuận cao, có khả năng cạnh
tranh với các nước và tận dụng được lợi thế so sánh của mình. Tìm hiểu cách thức
sử dụng vốn, lao động và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp là vấn đề cấp thiết đối với nước ta hiện nay để có thể đưa ra
được các chính sách tác động phù hợp và kịp thời đối với nền kinh tế của đất nước.
1.2. Xác định vấn đề nghiên cứu.
Hoàng Thị Kim Dung Page 6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
Như đã nói ở trên, nhu cầu cần thiết được đặt ra là xem xét yếu tố tác động đến
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp theo ngành kinh tế và sự khác
nhau về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong các khu vực
kinh tế. Trước tiên, ta nghiên cứu vấn đề theo chuỗi thời gian từ năm 2000 đến
năm 2005. Đề tài này được đưa ra nhằm đánh giá được ngành nào đạt hiệu quả
kinh tế cao, ngành nào chưa cao, nguyên nhân tại sao lại có sự khác biệt đó. Đặc
biệt, trong đề tài này, yếu tố quan trọng nhất đó là tìm hiểu hiệu quả của việc sử
dụng vốn và lao động trong các doanh nghiệp khác nhau như thế nào trong khu vực
kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài. Điều này nhằm tìm ra yếu tố tác động đến kết các doanh nghiệp trong các
khu vực kinh tế. Yếu tố nào tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp thì nên chú trọng hoàn thiện và phát huy hơn nữa. Còn yếu tố nào tác động
tiêu cực thì nên đưa ra biện pháp khắc phục cho phù hợp với tình hình phát triển
chung của đất nước.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu vấn đề hiệu quả sử dụng vốn của nước ta hiện nay với mục đích
tìm ra được ngành kinh tế phù hợp với thế mạnh phát triển của đất nước. Mục tiêu
nghiên cứu vấn đề nhằm đưa ra được mô hình chính xác, và thực hiện trong
khoảng thời gian gần đây nhất, từ đó có thể đưa ra được xu thế sử dụng vốn của
ngành nào là phù hợp nhất với tình hình phát triển chung của nền kinh tế thế giới.
Trong mô hình xây dựng biến biến phụ thuộc là lợi nhuận, các biến độc lập là vốn,
lao động và chi phí trung gian. Việc xây dựng mô hình nhằm mục đích kiểm định
1.5.1. Định nghĩa về phương pháp số liệu mảng.
Trong cùng những đơn vị quan sát trong một mẫu tiêu biểu được khảo sát từ 2 lần
trở lên, kết quả quan sát được biểu diễn dưới dạng bảng số liệu theo chiều dọc,
thực hiện theo thời gian. NSLY( The National Longitudinal Survey of Youth) đã
bắt đầu với các cuộc khảo sát vạch ra ranh giới vào năm 1979 và cùng những cá
nhân đó được phỏng vấn nhiều lần từ đó, hàng năm đến tận năm 1994 theo chu kỳ
2 năm 1 lần. Tuy nhiên, đơn vị quan sát dữ liệu mảng không chỉ là những cá nhân,
mà còn là hộ gia đình, doanh nghiệp, hoặc các vùng địa lý, có thể tồn tại trong
thực thể và giữ tính đồng nhất qua thời gian.
Số liệu mảng bao gồm những mẫu tiêu biểu và độ dài chuỗi theo thời gian. Việc
ghép như vậy ở các mô hình hồi quy để phù hợp với mô hình kinh tế, phân tích
được nhiều khía cạnh phức tạp hơn so với việc sử dụng dữ liệu đơn. Việc phân tích
số liệu mảng có thể thấy sự khác biệt và xu hướng diễn ra theo thời gian của các
mục tiêu nghiên cứu. Việc sử dụng số liệu mảng có thể giải quyết các vấn đề về sai
lệch mà nguyên nhân là do không quan sát được tính đồng nhất trong số liệu điều
tra mẫu, đây là vấn đề chung trong việc điều chỉnh mô hình với dữ liệu được chia
cắt theo thời gian.
Lý do thứ 2 mà chúng ta có thể khai thác được từ phương pháp phân tích số liệu
mảng đó chính là phân tích để có thể bộc lộ ra những chức năng mà rất khó để phát
hiện được trong số liệu mẫu.Chính vì vậy, phương pháp số liệu mảng ngày càng
được sử dụng nhiều trong việc sử lý số liệu.
Điều hấp dẫn thứ 3 của phương pháp số liệu mảng là chúng thường có số lượng
quan sát rất rộng, và các quan sát kết nối đối tượng ở nhiều thời điểm khác nhau.
Nếu có n đơn vị quan sát và cuộc khảo sát được thực hiện trong khoảng thời gian
Hoàng Thị Kim Dung Page 9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
T, thì có khả năng là sẽ có nT quan sát trong chuỗi thời gian T và n đơn vị tương
đương. Trong trường hợp của NLSY, có hơn 6000 cá nhân tham gia thí dụ điểm.
Cuộc khảo sát được thực hiện 19 lần vào năm 2004, như vậy tổng số quan sát đã
lên đến 100000 quan sát. Hơn thế nữa, việc thực hiện và duy trì chúng rất cần chi
tương quan với bất kỳ biến X
j
nào thì ước lượng hồi quy từ hồi quy Y theo X
j
sẽ bị ảnh hưởng chéo bởi những
yếu tố không đồng nhất không quan sát được. Thậm chí, nếu U
i
không tương quan
với bất kỳ một biến giải thích nào thì sự có mặt của nó cũng là nguyên nhân làm
cho các ước lượng OLS không hiệu quả,và sai số tiêu chuẩn không có hiệu lực. Vì
vậy, ta phải tìm cách loại trừ ảnh hưởng của các yếu tố không quan sát được.
Có 2 loại mô hình được sử dụng phổ biến là:
- Mô hình tác động cố định.
- Mô hình tác động ngẫu nhiên.
Hoàng Thị Kim Dung Page 10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
1.5.2.1. Mô hình tác động cố định.
Mô hình tác động cá thể riêng biệt cho phép mỗi đơn vị theo không gian
(mỗi cá thể, mỗi doanh nghiệp, hoặc mỗi quốc gia,...) có số hạng chặn khác nhau
mặc dù tất cả các hệ số góc là như nhau, cho nên:
x
ititiit
y
εβα
+
′
+=
(2)
trong đó
it
i
và ε
ij
không có tương quan với nhau,
khi đó ta có thể coi α
i
như một biến giải thích thông thường, khi đó α
i
không thay
đổi theo j mà chỉ thay đổi theo i.
Trong việc sử dụng số liệu mảng, khả năng ước lượng mô hình tác động cố định
(fixed effects model - FE) là khá chính xác. Trong mô hình tác động cố định,
những đặc tính không quan sát được của mỗi cá thể có thể tương quan với các biến
giải thích. Những đặc tính không quan sát được có thể dẫn đến khuyết tật của mô
hình như bỏ sót biến, về nguyên tắc khuyết tật này của mô hình có thể được khắc
phục bằng phương pháp biến công cụ khi sử dụng số liệu chéo, nhưng trong thực
hành thì rất khó có thể tìm được một biến công cụ thực sự giá trị. Số liệu mảng với
rất ít thời kỳ (giả sử có hai thời kỳ) cho chúng ta cách để xử lý nếu tác động riêng
Hoàng Thị Kim Dung Page 11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
biệt của cá thể không quan sát được và không thay đổi theo thời gian.
1.5.2.2. Mô hình tác động ngẫu nhiên.
Trong trường hợp các biến mà chúng ta quan tâm là hằng số cho mỗi cá thể, hồi
quy ảnh hưởng cố định sẽ không phải là công cụ hiệu quả bởi vì nó không bao gồm
các biến này. Hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên đưa ra 2 điều kiện và cung cấp cách
giải quyết cho vấn đề này.
Trong mô hình tác động ngẫu nhiên, U
i
có tương quan đến ε
ij,
it
Trong đó,
V
it
= U
i
+ε
ij
.
1.5.3. Kiểm định Hausman.
Để xem xét mô hình nào phù hợp hơn ta sử dụng kiểm định Hausman. Đây là kiểm
định nhằm giúp ta lựa chọn nên sử dụng mô hình tác động cố định hay là mô hình
tác động ngẫu nhiên. Thực chất kiểm định Hausman để xem xét có tồn tại tự tương
quan giữa U
i
và ε
it
hay không? Nếu không tồn tại hiện tượng tự tương quan thì khi
đó các ULOLS sẽ là UL vững và hiệu quả. Nếu có tồn tại tương quan, ULOLS sẽ
chệch và không vững. Do vậy, để có thể phân tích chính xác, tránh được những
Hoàng Thị Kim Dung Page 12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
khuyết tật của mô hình ta sử dụng kiểm định này để lựa chọn mô hình phù hợp
hơn. Kiểm định Hausman là kiểm định giả thiết:
H
0
: U
i
và biến độc lập không tương quan.
H
mô nhỏ ngày càng phát triển do 3 năm qua, doanh nghiệp mới chủ yếu là tư nhân
với quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Doanh nghiệp dưới 10 lao động chiếm 46%, từ 10 đến
dưới 50 lao động chiếm 35%. Về quy mô vốn, số doanh nghiệp dưới 10 tỷ đồng
chiếm 86%, trong đó hơn 1 nửa là dưới 1 tỷ đồng. Những ngành tập trung nhiều
doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn là công nghiệp, bình quân 154 lao động và 32 tỷ
đồng tiền vốn, tiếp đó là vận tải, thong tin liên lạc và xây dựng. Quy mô nhỏ và
phân tán là ngành thương nghiệp, bình quân 18 lao động và 6 tỷ đồng tiền vốn.
Doanh nghiệp ngành khách sạn nhà hang bình quân là 27 lao động và 9 tỷ đồng tiền
vốn.
Do phần lớn doanh nghiệp có mức vốn thấp (dưới 10 tỷ đồng) nên khả năng trang
bị máy móc thiết bị, kĩ thuật công nghệ tiên tiến là rất hạn chế. Mức trang bị tài sản
cố định cho 1 lao động ngoài quốc doanh là 50 triệu đồng, chỉ bằng 20% so với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Hoàng Thị Kim Dung Page 14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
Tổng cục thống kê cũng chỉ ra rằng, Doanh nghiệp phát triển còn mang tính tự
phát, chưa có định hướng rõ rang. Số doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
hữu hạn chiếm 77,5% số doanh nghiệp được thành lập từ năm 2000 trở lại đây,
nhưng biến động tới gần 20% hàng năm. Nhiều tỉnh có hàng nghìn doanh nghiệp
nhưng từ 70 đến 80% trong số đó chỉ có từ 1 đến 5 lao động và số vốn không quá 5
tỷ đồnh như Long An, Đồng Tháp, Nam Định… Doanh nghiệp nhà nước và doanh
nghiệp nước ngoài phát triển ổn định và có định hướng rõ ràng hơn, nhưng rất ít
doanh nghiệp có quy mô lớn, đặc biệt Việt Nam chưa có 1 tập đoàn kinh tế lớn
mạnh nào.
Trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển, năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam được xem là đáng lo ngại. Số doanh
nghiệp kinh doanh thua lỗ tăng từ 19% năm 2000 lên hơn 23% năm 2003, với mức
lỗ hàng chục nghìn tỷ đồng mỗi năm, gần bằng 1/4 số vốn hoạt động của các doanh
nghiệp này. Trong khi đó, số doanh nghiệp kinh doanh có lãi, năm cao nhất mới
chiếm 73% với mức lãi thấp( 50 đến 89 nghìn tỷ đồng). Theo thống kê, tổng số lãi
vốn nhà nước, các tổng công ty đã cổ phần hóa) cho thấy hoạt động của các đơn vị
sản xuất kinh doanh của các đơn vị này đạt kết quả tốt.
Tổng doanh thu năm 2007 của các tập đoàn , tổng công ty tăng 24%, tổng lợi
nhuận tăng 23% so với năm 2006. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 17%
( năm 2006 là 16%), 6 tháng đầu năm 2008, 8 tập đoàn và 96 tổng công ty vẫn đạt
doanh thu 59%, lợi nhuận đạt 53% và nộp ngân sách đạt 67% kế hoạch cả năm.
Hết năm 2007, vốn chủ sở hữu ở các tập đoàn, tổng công ty đã tăng 18% và tổng
Hoàng Thị Kim Dung Page 16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
tài sản tăng 26% (khoảng 927 ngàn đồng). Những nguồn tăng này chủ yếu được
hình thành từ tích lũy lợi nhuận và tiền bán cổ phần từ các công ty con. Theo đó,
đầu tư của công ty mẹ và công ty con, công ty liên kết trong năm 2007 cũng đã
tăng lên và chiếm 24% vốn của chủ sở hữu. Việc cổ phần hóa cũng thu về cho quỹ
hỗ trợ, sắp xếp doanh nghiệp của các tập đoàn, tổng công ty hiện nay là 24 ngàn tỷ
đồng.
1.2. Những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà
nước từ năm 2000 đến nay.
1.2.1. Quản lý và sử dụng vốn chưa hiệu quả.
Theo số liệu của kiểm toán nhà nước (KTNN) công bố ngày 17 /8/2005 đã đưa ra
bản báo cáo toát lên vấn đề kiểm đâu sai đấy, đặc biệt là có nhiều điểm nóng sai
phạm tài chính được phát hiện. Có 3 điểm nóng:
1. Điểm nóng đầu tiên là hiện tượng khai sai thuế, giấu thuế và nợ đọng thuế
khá phổ biến ở các doanh nghiệp nhà nước. Trong số 19 tổng công ty thì có
tới gần 300 tỷ đồng tiền thuế được kiến nghị thu thêm. Cá biệt như tổng
công ty tà thủy Việt Nam, số thuế thu thêm lên đến 63,9 tỷ đồng thuế VAT;
công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị là 33,3 tỷ đồng tiền thuế thu nhập
doanh nghiệp. Cũng chính loại doanh nghiệp này đang nợ đọng những
khoản tiền thuế khổng lồ là hơn 4300 tỷ đồng và hơn 25% số này không thể
thu hồi.
2. Điểm nóng khác chính là việc sử dụng vốn đầu tư không đúng mục đích. Bộ
với những mục tiêu hoạt động cụ thể của ngành. Các tổng công ty và doanh nghiệp
thành viên được giao những mục tiêu phi lợi nhuận( phúc lợi xã hội), do đó làm
Hoàng Thị Kim Dung Page 18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
giảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Theo quy định hiện hành, các tổng công
ty thực hiện rất nhiều vai trò đa dạng khác nhau và không thể hoạt động như một
đơn vị kinh doanh vì lợi nhuận do phải làm công việc như một cơ quan hỗ trợ và
giám sát hiệu quả của các doanh nghiệp thành viên. Những mục tiêu xác định là
khác nhau, do đó doanh nghiệp không thực hiện được hiệu quả.
Bên cạnh đó, trong một số ngành, chính phủ quyết định mức giá bán tối đa, do
đó các doanh nghiệp dựa theo đó mà ấn định mức giá bán( gồm giá trần và giá sàn)
cho các thành viên, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả hoạt động của các thành
viên. Thực tế cho thấy các doanh nghiệp trực thuộc không được bán vượt ngoài
khung của tổng công ty, do vậy các đơn vị thành viên bị mất thị phần vào các đơn
vị liên doanh không thuộc quyền kiểm soát của tổng công ty.
1.2.3. Sai lầm trong cách thức quản trị của doanh nghiệp nhà nước.
Điều bất cập rất lớn đối với các doanh nghiệp nhà nước hiện nay là vấn đề sử
dụng lao động. Theo chúng ta đã biết, chế độ dụng nhân và chế độ đãi ngộ là một
trong những yếu tố quan trọng trong hoạt động quản trị và phát triển nguồn nhân
lực, đem lại sự thành công cho doanh nghiệp. Tuy nhiên điều này đã không được
coi trọng trong hầu hết các doanh nghiệp nhà nước. Chính vì vậy , các doanh
nghiệp nhà nước hiện nay đã mắc phải một số sai lầm trong quản trị và tuyển dụng
lao động.
Nguyên nhân có thể có ở các vấn đề sau:
1. Doanh nghiệp nhà nước đang trong tình trạng thiếu hụt nhân sự có năng lực,
yếu kém về năng lực quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp.Trong chính sách
dụng nhân, các doanh nghiệp thường mắc sai lầm nghiêm trọng trong khi lặp
lại cơ chế sắp xếp, bố trí cán bộ trong cơ quan hành chính sự nghiệp của nhà
nước. Cơ chế bổ nhiệm cán bộ quản lý, lãnh đạo tuân theo các tiêu chí cơ
Hoàng Thị Kim Dung Page 19
cực, không công bằng trong cách trả lương. Hiện tượng “thưởng trong
lương” rất phổ biến trong các doanh nghiệp nhà nước. Đó là biến tướng của
việc buộc phải chi sai quỹ tiền lương nhằm đảm bảo thu nhập đủ sống cho
công nhân viên của doanh nghiệp (vì lương theo hệ số của thang lương –
bảng lương quá thấp). Bất cập này là nguyên nhân chính của tình trạng lãn
công, tâm lý “không cần làm nhiều vì lương vẫn thế” trong đại bộ phận của
doanh nghiệp.
4. Chính sách động viên khen thưởng cũng chẳng khác gì lương. Bằng cấp và
yếu tố thâm niên vẫn là những đặc điểm cơ bản nhất dùng làm tiêu chí để
thực hiện. Vì thế, nó không còn mang tính khích lệ, động viên kịp thời đối
với người có cống hiến, có hiệu quả trong giải quyết công viêc. Ví dụ, tại
một doanh nghiệp nhà nước, giám đốc quyết định mỗi phòng được cử một
cán bộ quản lý và một nhân viên xuất sắc đi du lịch nước ngoài. Sau khi tiến
hành lựa chọn, đa phần người được chọn là người có thâm niên công tác
hoặc có ảnh hưởng nhất định tại phòng, trong khi đó những nhân viên trẻ có
năng lực, có cống hiến thực sự thì lại không được đề cử. Điều này đã dẫn
đến tình trạng bất bình đẳng trong tập thể người lao động.
5. Chế độ khen thưởng hàng năm lại mang tính hình thức. Việc bình bầu A, B,
C và tính chất bình bầu không thực tế. Để không mất lòng mọi người, ai ai
cũng xếp loại A, hi hữu mới có trường hợp xếp loại C là dành cho những
người mới vào làm việc.
Trên đây là những bất hợp lý trong chế độ đãi ngộ đã không kích thích được sự
phấn đấu, cạnh tranh bằng năng lực giữa các nhân viên.
Bên cạnh đó, lượng vốn mà các doanh nghiệp nhà nước sử dụng không hiệu
quả, còn lãng phí rất nhiều như các công trình xây dựng cầu vượt, các công
Hoàng Thị Kim Dung Page 21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
trình xây đường, nhà máy… Tiền vốn bỏ ra nhiều mà lợi ích sử dụng không
cao, không thiết thực để áp dụng vào thực tế.
2. Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam trong giai
Khi nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới,
xuất khẩu là yếu tố quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế. Trong các khu vực kinh
tế, doanh nghiệp có vốn đẩu tư nước ngoài (FDI) giữ vị trí hàng đầu trong việc tạo
ra giá trị xuất khẩu. Doanh nghiệp FDI tham gia xuất khẩu hầu hết các mặt hàng
chủ lực và chiếm tỷ trọng cao trong nhiều mặt hàng công nghiệp như hàng dệt
may, giày dép, điện tử, máy móc, thiết bi…. Riêng trong năm 2008, các doanh
nghiệp FDI đã xuất khẩu đạt 24,2 tỷ USD, chiếm 44% trong tổng kim ngạch xuất
khẩu. Nếu tính cả dầu thô thì đạt 34,5 tỷ USD và chiếm 55% tổng kim ngạch xuất
khẩu. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay,
trong quý I, tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước chỉ tăng 2,4 %, thấp nhất trong
nhiều năm qua, trong đó khu vực kinh tế FDI giảm mạnh nhất.
Tuy phải đối mặt với những khó khăn chung của nền kinh tế, doanh nghiệp FDI
vẫn là khu vực kinh tế hoạt động mang tính hiệu quả vì cách thức quản lý mang
tính chuyên nghiệp và chế độ tuyển dụng nguồn nhân lực mang tính hiệu quả hơn
so với các thành phần kinh tế khác.
C. Mối quan hệ về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp theo khu vực
kinh tế giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005.
Hoàng Thị Kim Dung Page 23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa toán kinh tế
1. So sánh tỷ suất sử dụng vốn giữa các doanh nghiệp theo ngành của các khu
vực kinh tế.
Ta có các bảng sau:
+ Bảng về tỷ suất lợi nhuận trên vốn của các DNNN theo ngành như sau:
Bảng 1
TSLN1 TSLN2 TSLN3 TSLN4 TSLN5 TSLN6
9.96 4.66 9.29 1.02 6.73 5.22
TSLN7 TSLN8 TSLN9 TSLN10 TSLN11 TSLN12
1.33 2.45 2.28 2.26 2.67 1.64
+ Bảng tỷ suất lợi nhuận trên vốn theo ngành của DNTN theo ngành như sau:
Bảng 2