Bài giảng lịch sử văn minh thế giới - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Bùi Ngọc Thạch (Chủ biên), Nguyễn Văn Vinh
BÀI GIẢNG
LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI

Hà Nội – 2013
2


4

5

MỤC LỤC

Chương I. MỞ ĐẦU 7
1.1. Khái niệm văn minh 7
1.2. Các nền văn minh lớn trên thế giới 8
Câu hỏi ôn tập 12
Chương 2. VĂN MINH AI CẬP 13
2.1. Cơ sở hình thành và phát triển của nền văn minh Ai Cập 13
2.2. Tiến trình phát triển lịch sử Ai Cập 14
2.3. Những thành tựu chủ yếu của văn minh Ai Cập cổ đại 15
Câu hỏi ôn tập 20
Chương III. VĂN MINH LƯỠNG HÀ 21
3.1. Cơ sở hình thành văn minh Lưỡng Hà 21
3.2. Các giai đoạn phát triển của văn minh Lưỡng Hà 22
3.3. Những thành tựu văn minh Lưỡng Hà 23
Câu hỏi ôn tập 27
Chương IV. VĂN MINH ARẬP 28
4.1. Sơ lược về lịch sử Arập 28
4.2. Đạo Hồi 29
Câu hỏi ôn tập 37
Chương V. VĂN MINH ẤN ĐỘ 38
5.1. Cơ sở hình thành văn minh Ấn Độ 38
5.2. Sơ lược lịch sử cổ trung đại Ấn Độ 38
5.3. Những thành tựu chính của văn minh Ấn Độ 39
Câu hỏi ôn tập 46
Chương VI. VĂN MINH TRUNG QUỐC 47

11.3. Xu thế toàn cầu hóa và những tác động 161
Câu hỏi ôn tập 167
KẾT LUẬN 168
TÀI LIỆU THAM KHẢO 170

7

Chương I. MỞ ĐẦU

1.1. Khái niệm văn minh
Lịch sử nhân loại là lịch sử của các nền văn minh. Lịch sử văn minh thế giới gắn liền với
quá trình phát triển của loài người. Lịch sử đó trải suốt qua các thế hệ từ nền văn minh Xume
và Ai Cập cổ đại cho đến các nền văn minh Trung Mỹ, văn minh Cơ đốc giáo và Hồi giáo, cho
đến văn minh có nguồn gốc Trung Hoa và văn minh Hindu. Xuyên suốt lịch sử, các nền văn
minh đã giúp các dân tộc tự khẳng định mình. Vì vậy, nguyên nhân, sự trồi dậy, phát triển giao
lưu, thành công, thoái trào và suy vong của các nền văn minh được các sử gia triết gia, được
các chuyên gia nghiên cứu từ lâu như Max Weber, Emile Durkheim, Arnol Toybee, Fernand
Broudel, Pall Kennedy, Jeard Diamon
Đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nội hàm của khái niệm văn minh được sử dụng
1
.
Đối với Brudel, một nền văn minh là “một không gian”, một “vùng văn hóa”, “một tập hợp các
đặc điểm và hiện tượng văn hóa”. I.Wallerstein cho rằng văn minh là một tổng thể nhất định
nào đó và cùng tồn tại (nếu không phải là luôn song song) với các biến thể khác của hiện tượng
này”. Philip Dawson thì viết văn minh là sản phẩm “của một quá trình có cội nguồn nào đó có
tính sáng tạo văn hóa, sản phẩm của một dân tộc nhất định”. Trong khi đó E. Durkheim cho
rằng văn minh là “một không gian đạo đức bao bọc một số dân tộc, văn hóa của mỗi dân tộc
chỉ là một phần của tổng thể. Với Spengler, văn minh là số mệnh tất yếu của văn hóa …Văn
hóa là chủ đề chung có trong mọi định nghĩa về văn minh.
Tóm lại: Văn minh là trạng thái tiến bộ cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài

trong tiến trình lịch sử, nhưng văn hóa và văn minh khác nhau ở chỗ văn hóa là toàn bộ những
giá trị mà loài người sáng tạo ra từ khi loài người ra đời đến nay, còn văn minh chỉ là những
giá trị mà loài người sáng tạo ra trong giai đoạn phát triển cao của xã hội. Đó là giai đoạn có
nhà nước. Thông thường vào thời kì thành lập nhà nước thì chữ viết cũng xuất hiện, do đó văn
hóa có một bước phát triển nhảy vọt. Tuy nhiên, do hoàn cảnh cụ thể, có một số nơi, khi nhà
nước ra đời vẫn chưa có chữ viết, nhưng đó là những trường hợp không điển hình.
Liên quan đến khái niệm văn hóa và văn minh còn có khái niệm văn hiến. Trong Bình
Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi từng viết: Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến từ
lâu.
Khổng Tử viết “Lễ của đời Hạ, ta có thể nói được, nhưng nước Kỉ (nước còn bảo tồn lễ
của đời Hạ) không đủ chứng minh; lễ của đời Ân, ta có thể nói được, nhưng nước Tống (nước
còn bảo tồn lễ của đời Ân) không đủ chứng minh. Đó là vì văn hiến không đủ, nếu đủ thì ta có
thể chứng minh (Luận Ngữ)
Như vậy, văn hiến là một thuật ngữ chỉ chung sử sách và các chế độ chính sách. Có sử
sách tức là đã bước vào thời kì văn minh, do đó trước đây, dưới thời phong kiến, khi chưa có
chữ văn minh với nghĩa như ngày nay, chữ văn hiến thực chất là văn minh. Như vậy, câu “Như
nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” có nghĩa là nước Đại Việt cũng là
một nước văn minh.
Các khái niệm Văn hóa, văn hiến, văn minh và văn hóa ngoài những nghĩa riêng biệt
không lẫn lộn được nhưng đối với từng cá nhân, chỉ có thể nói trình độ văn hóa, không thể nói
trình độ văn minh, ngược lại, đối với xã hội, chỉ có thể nói thời đại văn minh, không thể nói
thời đại văn hóa, nói chung, ba thuật ngữ này có nghĩa rất gần nhau. Chỗ khác nhau là, văn
minh là giai đoạn phát triển cao của văn hóa, còn văn minh và văn hiến khác nhau ở chỗ văn
minh là một từ mới du nhập, văn hiến là một từ cổ ngày nay không dùng nữa.
1.2. Các nền văn minh lớn trên thế giới
Loài người ra đời cách đây hàng triệu năm, từ đó đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật
chất và tinh thần. Nhưng mãi đến cuối thế kỷ IV TCN, xã hội nguyên thủy bắt đầu tan rã ở Ai
Cập, nhà nước bắt đầu ra đời, từ đó loài người mới bắt đầu bước vào thời kỳ văn minh.
Trong thời cổ đại, tức là từ cuối thiên niên kỷ IV - III TCN, đến những thế kỉ đầu sau
công nguyên, ở phương Đông tức là ở châu Á và ở đông bắc châu Phi có bốn trung tâm văn

Ở phương Tây, thời cổ đại chỉ có nền văn minh Hy-La, đến thời trung đại cũng chỉ có
một trung tâm văn minh mà chủ yếu là Tây Âu.
Ngoài những nền văn minh ở lục địa Á, Âu, Phi ở châu Mỹ, trước khi bị người da trắng
chinh phục, tại Mexico và Peru ngày nay đã từng tồn tại nền văn minh của người Maya, Aztec
và Incas.
Đến thời cận đại, do sự tiến bộ nhanh chóng về khoa học, kĩ thuật, nhiều nước phương
Tây đã trở thành những quốc gia phát triển về kinh tế và hùng mạnh về quân sự. Dựa vào ưu
thế đó, các nước này đua nhau chinh phục thế giới. Cùng với việc biến hầu hết các nước châu
Á - Phi - Mỹ La tinh thành thuộc địa của các cường quốc châu Âu, văn minh phương Tây đã
truyền bá khắp thế giới.
Tuy trong lịch sử, trên thế giới đã tồn tại những nền văn minh như vậy, nhưng những nền
văn minh ấy không phải hoàn toàn biệt lập với nhau. Thông qua các hoạt động như chiến tranh,
buôn bán, truyền giáo… các nền văn minh ấy đã được tiếp xúc với nhau, do đó đã học tập lẫn
nhau. Nhiều thành tựu của văn minh Trung Hoa, Ấn Độ, và Ảrập không những đã truyền bá
cho nhau mà còn truyền sang Tây Âu. Ngược lại, Ấn Độ và Tây Á cũng đã tiếp thu nhiều yếu
tố của văn minh Hy Lạp. Đến thời kỳ trung đại, trước thế kỷ XVI, phương Tây vẫn lạc hậu hơn
phương Đông, do đó phương Tây đã học rất nhiều phát minh quan trọng của phương Đông như
chữ số, toán học, y học, kĩ thuật làm giấy, nghề in, thuốc súng, la bàn, thậm chí cả phong cách
rất quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển rất nhanh chóng của nền văn minh phương Tây.
10

Nội dung của lịch sử văn minh bao gồm trình độ phát triển kinh tế, quan hệ xã hội, hôn
nhân, gia đình, phong tục, y phục, nhà cửa, cư trú cho đến thể chế chính trị và các thành tựu về
văn hóa tinh thần như chữ viết, văn học, sử học, tư tưởng, nghệ thuật, luật pháp, khoa học, kĩ
thuật, giáo dục, sử học,… song ở đây chỉ giới thiệu những thành tựu chủ yếu của văn hóa tinh
thần, chứ không trình bày dàn trải tất cả mọi vấn đề của văn minh.
Max Weber có lẽ là một trong số rất ít tác giả xã hội học, nếu không muốn nói là người
duy nhất, đã coi các nhân tố tôn giáo như có vai trò trung tâm trong sự hình thành của các nền
văn minh và đặc biệt trong sự ra đời của tư duy duy lý phương Tây. Trong các công trình
nghiên cứu về các tôn giáo lớn trên thế giới như Do Thái giáo cổ đại, Lão giáo, Khổng giáo,

Arnold Toynbee “các nền văn minh hoàn thiện trong khuôn khổ của riêng nó mà người ngoài
không thể hiểu được”. Một nền văn minh là một tổng thể.
11

Các nền văn minh vừa mang tính trường tồn, vừa tiến hóa. Chúng năng động, thăng và
giáng, hội nhập và tách ra, hoặc chúng biến mất và bị thời gian chôn vùi. Qúa trình hay diễn
tiến của các nền văn minh được mô tả theo nhiều cách khác nhau. Quiley nhìn nhận nền văn
minh vận động qua bảy giai đoạn: hỗn hợp, thai nghén, mở rộng, xung đột, đế chế chung, tàn
lụi, và xâm lược. Melko khái quát hóa một mô hình chuyển đổi từ hệ thống phong kiến kết tinh
rồi sang hệ thống nhà nước quá độ hướng đến hệ thống đế quốc kết tinh. Còn Toynbee nhận
thấy một nền văn minh nổi lên là để đáp ứng lại những thách thức sau đó trải qua một giai đoạn
phát triển và ngày càng tăng quyền kiểm soát môi trường của nó do thiểu số sáng tạo ra, sau đó
đến thời kỳ khó khăn, sự xuất hiện của một trạng thái phổ quát rồi tan rã.
Bởi các nền văn minh là những chỉnh thể văn hóa chứ không phải chính trị, chúng không
duy trì trật tự, thiết lập pháp lý, thu thuế, chiến đấu, thương thuyết trên các hiệp ước mà các
chính phủ thường phải làm. Cấu thành chính trị của các nền văn minh biến thiên từ nền văn
minh này sang nền văn minh khác và biến thiên theo thời gian trong cùng nền văn minh. Như
vậy, một nền văn minh có thể chứa đựng một hoặc nhiều đơn vị chính trị. Các đơn vị này có
thể là các bang, các đế chế, các liên đoàn, các liên bang, các nhà nước đơn dân tộc, các nhà
nước đa dân tộc, tất cả có thể có những hình thức chính phủ khác nhau. Do nền văn minh tiến
hóa, sự thay đổi thường xảy ra về con số và bản chất của các đơn vị chính trị thành tố ở một
cực, một nền văn minh và một chỉnh thể chính trị có thể trùng lặp. Lucian Pye cho rằng: Trung
Quốc là “cả một nền văn minh giả đò là một nhà nước”. Nhật Bản là một nền văn minh đồng
thời là một nhà nước. Hầu hết các nền văn minh có hơn một nhà nước hoặc bao trùm hơn một
chỉnh thể chính trị. Trong thế giới hiện đại, hầu hết các nền văn minh có hai nhà nước hoặc hơn
thế.
Đã có nhiều ý kiến khác nhau về số lượng các nền văn minh lớn trong lịch sử nhân loại
Quigley khẳng định có 16 nền văn minh hình thành 1 cách rõ rệt, cộng với 8 nền văn minh bổ
sung. Arnol Toynbee cho rằng có 21 rồi 23 nền văn minh, Spengler lại cho là có 8 nền văn
minh lớn. Mc Neill đưa ra con số 9 nền văn minh trong toàn bộ lịch sử, Bagby cũng cho cùng


Chương 2. VĂN MINH AI CẬP

Ai Cập là quê hương của một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trong lịch sử
xã hội loài người. Qúa trình hình thành gắn liền với những điều kiện tự nhiên, môi trường xã
hội, văn hóa châu Phi. Trong quá trình phát triển văn minh Ai Cập còn chịu ảnh hưởng và tiếp
nhận nền văn minh văn hóa khác của khu vực và trên thế giới.
2.1. Cơ sở hình thành và phát triển của nền văn minh Ai Cập
Ai Cập nằm ở Đông bắc châu Phi, là một thung lũng hẹp và dài dọc theo sông Nin. Khu
vực Đông bắc châu Phi vừa có yếu tố tự nhiên của châu Phi, vừa gần khu vực có khí hậu cận
nhiệt đới (khí hậu Địa Trung Hải). Vì vậy nhiều khu vực có điều kiện tự nhiên không quá hà
khắc. Đó là địa bàn lý tưởng cho sự phát triển văn minh sớm ở trình độ cao.
Phía Tây là vùng sa mạc Libi và Sahara khô cằn không thuận lợi cho sự sống của con
người và môi trường sinh thái.
Phía Nam là khu vực nhiều đồi núi, đất canh tác không nhiều. Nhưng đây lại là không
gian hình thành mầm mống đầu tiên của nền văn minh Ai Cập. Nguồn tài nguyên phong phú là
điều kiện để góp phần làm nên những công trình kiến trúc vĩ đại (tài nguyên đá, lâm sản ). Mặt
khác còn là nơi bắt nguồn của các con sông lớn (sông Nin)…
Phía bắc vừa là cái nôi, vừa là trung tâm phát triển cao nhất của văn minh Ai Cập, trong
đó vùng hạ châu thổ sông Nin có ý nghĩa rất quan trọng. Toàn bộ lịch sử Ai Cập gắn với sông
Nil. Herodot (cha đẻ của sử học phương Tây) đã nhận xét “Ai Cập là tặng phẩm của sông
Nin”. Sông Nin dài 6500 km, và có 7 nhánh đổ ra Địa Trung Hải, sông chảy theo hướng Đông
Nam lên Tây Bắc. Vùng châu thổ kéo dài 700 km, nơi rộng nhất của sông Nin là 50km, nơi hẹp
nhất là 20km. Tạo thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp với lượng phù xa màu mỡ
hàng năm được bồi đắp. Sông Nin còn mang tới lượng nước tưới tiêu cho sản xuất. Bên cạnh
đó sông Nin còn trở thành tuyến đường giao thông huyết mạch của đất nước. Sông Nin, với tất
cả những điều kiện tự nhiên thuận lợi của nó, đã có ảnh hưởng to lớn không chỉ đến quá trình
phát triển lích sử của Ai Cập, mà còn đến mọi mặt đời sống chính trị - xã hội - văn hóa của cư
dân đất nước này.
Hơn thế, phía bắc Ai Cập giáp Địa Trung Hải. Trong lịch sử nhân loại Địa Trung Hải

Giữa các nôm thường diễn ra các cuộc chiến tranh nhằm giành giật đất đai, nguồn nước
tưới tiêu. Vì vậy, đã hình thành xu hướng liên minh lực lượng, tập hợp sức mạnh giữa các nôm
dẫn đến thành lập liên minh thượng Ai Cập và Hạ Ai Cập.
Vào khoảng năm 3200 TCN lãnh thổ Ai Cập đã được thống nhất với sự thắng thế của các
liên minh vùng thượng Ai Cập. Theo truyền thuyết vị vua đầu tiên là Menet. Tuy còn nhiều nét
sơ khai, nhà nước Ai Cập cổ đại đã được hình thành và mang nhiều đặc điểm của một nhà nước
chuyên chế phương Đông. Nó là một trong những dấu hiệu chứng tỏ cư dân Ai Cập cổ đại đã
bước vào giai đoạn văn minh.
2.2.2. Thời Cổ Vương Quốc
Thời kỳ Cổ vương quốc bao gồm 8 vương triều, từ vương triều III đến vương triều X.
Đầu thời Cổ vương quốc, chế độ tập quyền trung ương ngày càng được củng cố, kinh tế cũng
phát triển hơn trước. Trên cơ sở ấy, các Pharaon đã huy động sức người, sức của để xây dựng
cho mình những Kim Tự tháp rất đồ sộ. Nhưng từ vương triều V, thế lực của chính quyền trung
ương bắt đầu suy giảm, đến vương triều VII, nền thống nhất không duy trì được nữa.
2.2.3. Thời kỳ Trung vương quốc ( khoảng 2200 - 1570 TCN)
Thời kỳ Trung vương quốc bao gồm 7 vương triều, từ vương triều XI đến vương triều
XVII, trong đó, thời kỳ thống trị của vương triều XI và vương triều XII là thời kỳ ổn định nhất.
Nhưng đến năm 1750 TCN, ở Ai Cập đã nổ ra một cuộc khởi nghĩa của dân nghèo. Từ đó Ai
Cập bị suy yếu. Đến năm 1710 TCN, miền bắc Ai Cập bị người Hitsốt ở Palextin chinh phục
và thống trị 140 năm. Trong thời gian này, miền Nam Ai Cập cũng phải thần phục vương triêu
ngoại tộc ấy.
15

2.2.4. Thời kỳ Tân vương quốc (1570 - khoảng 1100 TCN)
Năm 1570 TCN, người HítSốt bị đánh đuổi khỏi Ai Cập, đất nước lại được thống nhất,
thời Tân Vương quốc bắt đầu. Thời kỳ này gồm 3 vương triều, từ vương triều XVIII đến vương
triều XX. Các vua đầu vương triều XVIII tích cực thi hành chính sách xâm lược bên ngoài đã
chinh phục được Xyri, Phênixi, Palestin ở châu Á và Libi, Nubi ở châu Phi.
Cuối vương triều XVIII, do thế lực của tầng lớp tăng lữ thời thần Mặt trời Amôn phát
triển quá mạnh, lấn át cả uy quyền của vua, vì vậy, để làm suy yếu thế lực của tầng lớp tăng lữ,

Chữ viết cổ của Ai Cập thường được viết trên đá, gỗ, đồ gốm, vải gai, da… nhưng chất
liệu dùng để viết phổ biến nhất là giấy Papyrus. Vốn là ở hai bên bờ sông Nil có một loại cây
16

tên Papyrus, người Ai Cập đã lấy thân loại cây này chẻ thành từng thanh mỏng, ghép các thanh
ấy thành tờ giấy, ép mỏng rồi phơi khô. Đó là loại giấy sớm nhất thế giới. Do vậy, về sau trong
ngôn ngữ nhiều nước châu Âu, giấy được gọi là Paper…Để viết trên loại giấy đó, người Ai
Cập cổ dùng bút làm bằng thân cây sậy, còn mực làm bằng bồ hóng.
Loại chữ tượng hình này được dùng trong hơn 3.000 năm, sau đó, không còn ai biết đọc
loại chữ này nữa.
Vào thế kỷ V, một học giả Ai Cập tên là Ghêrapôlông đã nghiên cứu cách đọc loại chữ
cổ này nhưng không thành công. Một nghìn năm sau, đến thế kỷ XVII mới có một số người đặt
lại vấn đề nhưng vẫn chưa có kết quả.
Năm 1798, Napoleon Bernapac III viễn chinh sang Ai Cập. Tại một địa điểm gần thành
phố Rosetta trong khi đào chiến hào, binh lính Pháp đã phát hiện được một tấm bia, đặt tên là
tấm bia Rossetta. Trên tấm bia có khắc hai thứ chữ: phần trên khắc chữ Ai Cập cổ, phần dưới
khắc chữ Hi Lạp. Ngay sau đó, các học giả tìm cách giải mã thứ chữ đó nhưng kết quả vẫn
chưa cải thiện hơn những lần trước. Mãi đến năm 1822, Champollion - một nhà ngôn ngữ học
người Pháp 32 tuổi mới tìm được cách đọc thứ chữ này. Chính từ đó, một môn khoa học mới
được ra đời, đó là môn Ai Cập học. Học giả nhiều nước Pháp, Đức, Anh…đã nghiên cứu ngôn
ngữ Ai Cập, biên soạn tiếng Ai Cập cổ, đọc được chữ Ai Cập cổ, người ta mới biết được nhiều
tư liệu quý giá thuộc các lĩnh vực như lịch sử, văn học, thiên văn, toán học…của Ai Cập cổ đại.
2.3.2. Văn học
Ai Cập cổ đại có một kho tàng văn học khá phong phú, bao gồm tục ngữ, thơ ca trữ tình,
các câu chuyện mang tính chất đạo lí, giáo huấn, trào phúng, truyện thần thoại…Trong số đó,
Truyện hai anh em, Nói Thật và Nói Láo, Nói chuyện với linh hồn của mình, Lời kể của Ipuxe,
Lời răn dạy của Đuaúp, Sống sót sau vụ đám thuyền…là những truyện tương đối tiêu biểu.
2.3.3. Tôn giáo
Giống như cư dân các quốc gia cổ đại khác, người Ai Cập thời kỳ này thờ đa thần: các
thần tự nhiên, các thần động vật, linh hồn người chết, thần đá, thần lửa, thần cây…

người chết thì linh hồn rời khỏi thể xác. Từ đó, linh hồn tồn tại độc lập nhưng con người không
thể nhìn thấy, chỉ có thể thấy được trong giấc mộng. Linh hồn tồn tại đến khi thi thể người chết
hủy nát thì mới chết hẳn. Nhưng nếu thi thể được bảo tồn thì linh hồn một lúc nào đó sẽ nhập
vào thể xác và con người sẽ sống lại. Chính vì vậy người Ai Cập mới có tục ướp xác.
Người Ai Cập cổ đại còn thờ nhiều loại động vật từ dã thú, gia súc, chim đến côn trùng
như chó sói, cá sấu, sơn dương, cừu, mèo, hồng hạc, đặc biệt là bò mộng Apix.
Có nơi cá sấu Xuhốc cũng được coi là một vị thần linh thiêng. Các thầy cúng thường đưa
rượu thịt đến cho cá sấu ăn uống. Do nhiều loại động vật được thần thánh hóa như vậy nên
người Ai Cập cổ đại thường rất quý gia súc. Ví dụ, nếu mèo tự nhiên mà chết thì tất cả những
người trong nhà đều phải cạo lông mày, nếu chó chết thì mọi người trong nhà phải cạo tóc. Các
con vật chết cũng phải được ướp xác như người.
Ngoài các con vật có thực, người Ai Cập còn thờ các con vật tưởng tượng như phượng
hoàng, nhân sư.
2.2.4. Kiến trúc và điêu khắc
a. Kim Tự tháp
Kim Tự tháp là những ngôi mộ của các vua Ai Cập thuộc vương triều III và IV thời cổ
vương quốc. Các ngôi mộ ấy được xây dựng ở vùng sa mạc ở Tây Nam Cairô ngày nay.
Kim Tự tháp bắt đầu được xây dựng từ thời vua Gjeser - vua đầu tiên của vương triều III,
vương triều đầu tiên của thời Cổ vương quốc. Đây là ngôi tháp có bậc, cao 60m, đáy là một
hình chữ nhật dài 120m, rộng 106m. Xung quanh tháp Djeser có đền thờ và mộ những thành
viên trong gia đình và những người thân cận. Toàn bộ khu lăng này được bao bọc bởi một vòng
tường xây bằng đá vôi.
Thời kỳ Kim Tự tháp được xây dựng nhiều nhất và đồ sộ nhất là thời vương triều IV.
Vua đầu tiên của vương triều này là Xnêphru đã xây cho mình hai Kim tự tháp. Các vị vua tiếp
theo đều xây dựng riêng cho mình một Kim tự tháp. Trong số các Kim tự tháp ở Ai Cập, cao
lớn nhất, tiêu biểu nhất là Kim tự tháp Kêốp. Trải qua 5000 năm nhưng các Kim tự tháp hùng
vĩ vẫn sừng sững ở vùng sa mạc Ai Cập bất chấp thời gian và nắng mưa. Vì vậy từ lâu người
18

Ảrập vẫn có câu “Tất cả đều sợ thời gian, nhưng thời gian sợ Kim Tự tháp”. Cũng chính vì thế,

Họ nhận thấy rằng buổi sáng sớm khi sao Lang (Sirus) bắt đầu mọc cũng là lúc nước sông Nin
bắt đầu dâng. Hơn nữa, khoảng cách giữa hai lần mọc của sao Lang là 365 ngày. Họ lấy
khoảng thời gian ấy làm một năm. Mỗi năm được chia làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày, 5
ngày còn thừa để vào cuối năm ăn tết. Năm mới của Ai Cập bắt đầu từ ngày nước sông Nin bắt
đầu dâng (vào khoảng tháng 7 dương lịch). Một năm được chia làm 3 mùa, mỗi mùa 4 tháng.
Đó là mùa Nước dâng, mùa Ngũ cốc, và mùa Thu hoạch.
Như vậy lịch của Ai Cập cổ đại là một thứ lịch được phát minh từ rất sớm (vào khoảng
thiên niên kỷ IV TCN) và tương đối chính xác và thuận tiện. Tuy nhiên, lịch sử Ai Cập cổ đại
so với lịch mặt trời còn thiếu mất ¼ ngày, nhưng lúc bấy giờ họ không biết đặt ra năm nhuận.
b. Toán học
19

Do yêu cầu phải đo đạc lại ruộng đất bị sông Nin làm ngập và do cần phải tính toán vật
liệu trong các công trình xây dựng, từ sớm, người Ai Cập đã có khá nhiều hiểu biết đáng chú ý
về toán học.
Vấn đề đầu tiên của toán học là phép đếm. Người Ai Cập cổ đại ngay từ đầu đã biết dùng
phép đếm lấy 10 làm cơ sở (thập tiến vị). Các chữ số cũng được dùng chữ tượng hình để biểu
thị vì không có số 0 nên cách viết chữ số của họ tương đối phức tạp.
Đơn vị: Hình chiếu cái que
Chục: Hình một đoạn dây thừng
Trăm: Hình một vòng dây thừng
Ngàn: Hình cây sậy
10 nghìn: Hình ngòn tay
100 nghìn: Hình con nòng nọc
Triệu: Hình người giơ hai tay biểu thị kinh ngạc
Về các phép tính cơ bản, người Ai Cập chỉ mới biết phép cộng và phép trừ. Còn nhân và
chia, vì chưa biết bảng nhân nên phải dùng phương pháp cộng và trừ liên tiếp.
Đến thời Trung vương quốc, mầm mống của đại số học đã xuất hiện. Ẩn số x được gọi là
aha nghĩa là “một đồng”, ví dụ một số ngũ cốc chưa biết được số lượng thì gọi là “một đồng
ngũ cốc”. Người Ai Cập đã biết được cấp số cộng và có lẽ cũng đã biết được cấp số nhân.

người nữa chữa bệnh đau dạ dày, một người khác nữa chữa các bệnh trong nội tạng”
Ngoài ra, các lĩnh vực khác như vật lí học, hóa học…cũng có những hiểu biết đáng kể.
Không thể tưởng tượng được rằng trong việc thiết kế và xây dựng các Kim tự tháp mà cho đến
nay vẫn rất bền vững lại thiếu những kiến thức về vật lí học nhất là về lực học.
Tóm lại, nền văn minh Ai Cập cổ đại đã để lại cho nhân loại nhiều thành tựu tuyệt vời và
đã có nhiêu đóng góp trực tiếp đối với sự phát triển của nhiều lĩnh vực trong nền văn hóa thế
giới.

CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân tích những cơ sở hình thành Kim Tự Tháp Ai Cập cổ đại ?
2. Phân tích vai trò của sông Nin đối với sự hình thành của văn minh Ai Cập ?
21

Chương III. VĂN MINH LƯỠNG HÀ

3.1. Cơ sở hình thành văn minh Lưỡng Hà
Đây là nền văn minh tiêu biểu của vùng Tây Á,
2
xuất hiện sớm trong lịch sử văn minh
nhân loại. Hình thành và phát triển trên lưu vực của hai con sông Tigro và Ơphrat. Bắt nguồn
từ phía bắc vùng núi cao Nam Âu đổ ra Ấn Độ Dương, rồi chảy ra vịnh Pecxich. Văn minh
Lưỡng Hà vừa gắn với yếu tố lục địa, yếu tố biển, và được hình thành trong một không gian
lớn.
Văn minh Lưỡng Hà hình thành ở trung tâm văn minh Tây Á, nhưng là nơi giao lưu giữa
các nền văn minh.
Giống như sông Nin ở Ai Cập, hai con sông Tigro và Ơphrat đóng vai trò quan trọng đối
với sự hình thành và phát triển của các quốc gia ở khu vực Lưỡng Hà. Tạo ra các đồng bằng
châu thổ rộng lớn với lớp phù sa màu mỡ thuận lợi cho phát triển nông nghiệp sớm. Vì vậy các
kết quả nghiên cứu khảo cổ học đã chứng minh rằng vùng Tiền Á là nơi nông nghiệp xuất hiện
sớm nhất thế giới (từ thiên niên kỷ thứ IX-VII TCN). Tiền Á là một trung tâm gốc của cây

22

Đến thiên niên kỷ III TCN, người Accat thuộc tộc Xemit từ thảo nguyên Xyri đến định
cư ở miền Trung Lưỡng Hà. Tại đây, họ đã lập nên quốc gia Accat nổi tiếng một thời. Cuối
thiên niên kỷ III TCN, người Amorit, một nhánh của người Xemit cũng từ phía Tây tràn vào
Lưỡng Hà. Chính họ đã thành lập quốc gia cổ Babylon nổi tiếng nhất trong lịch sử Lưỡng Hà
cổ đại.
Ngoài ra còn có nhiều tộc người khác ở vùng lân cận cũng tràn vào Lưỡng Hà. Các tộc
người trước sau tới Lưỡng Hà lại đồng hóa với nhau làm cho thành phần cư dân ở đây hết sức
phức tạp.
3.2. Các giai đoạn phát triển của văn minh Lưỡng Hà
3.2.1. Những quốc gia của người Xume
Vào khoảng đầu thiên niên kỷ III TCN, ở miền Nam Lưỡng Hà, nơi cư trú của người
Xume, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, do sự phân hóa giàu nghèo, đã xuất hiện nhiều
nhà nước nhỏ lấy thành thị làm trung tâm gọi là những thành bang. Giữa các thành bang ấy
thường diễn ra những cuộc đấu tranh để tranh giành đất đai và nguồn nước. Đến giữa thiên kỷ
III, trong số các thành ban ở miền Nam Lưỡng Hà, nổi bật nhất là Lagat, nhưng không lâu sau,
thành bang Umma ở phía Bắc đã đánh bại Lagat. Tiếp đó, Umma nhanh chóng chinh phục
được nhiều thành bang khác và thống nhất miền nam Lưỡng Hà (cũng gọi là vùng Xume).
3.2.2. Accat
Thành bang Accat do một chi nhánh người Xemit thành lập ở phía bắc vùng Xume. Đến
thời vua Xacgon (2369-2314 TCN), Accat trở thành một quốc gia hùng mạnh. Xacgon đã tấn
công và chinh phục được toàn bộ vùng Xume và như vậy lần đầu tiên đã thống nhất cả vùng
Lưỡng Hà. Tiếp đó, Accat còn chiếm được các khu vực xung quanh thành lập một quốc gia lớn
mạnh ở Tây Á. Xácgôn tự xưng là “vua của bốn phương”. Tuy vậy, sự hùng mạnh của Accat
cũng không duy trì được lâu. Đến cuối thế kỷ XXIII TCN, Accat đã bị người Guti ở Đông bắc
chinh phục và thống trị trong thời gian dài.
3.2.3. Vương triều III của Ua (2132 - 2024 TCN)
Sau khi người Guti bị đánh đuổi, quyền thống trị ở Lưỡng Hà chuyển sang tay vương
triều III của Ua, một thành bang cổ xưa của Xume. Phạm vi thống trị của vương triều này cũng

về Mêđi, nửa phía nam thuộc về Babylon. Để tăng thêm tình hữu nghị giữa hai nước đồng
minh, Nabôpôlaxa đã hỏi công chúa Mêđi cho con trai mình là Nabusodenoxo. Năm 64 TCN,
Nabôpôlaxa chết, Nabusodenoxo lên nắm quyền. Đây là thời kỳ cường thịnh nhất của Tân
Babylon . Chính Nabusodenoxo đã ra lệnh xây vườn treo trên không nổi tiếng.
Năm 532 TCN, Nabusodenoxo qua đời. Từ đó tình hình nội bộ Tân Babylon không được
ổn định. Trong khi đó, ở Iran bắt đầu xuất hiện nước Ba Tư hùng mạnh. Năm 550 TCN, Ba Tư
đánh bại Mêđi, Babylon cũng trở thành mục tiêu chinh phục của Ba Tư. Năm 538 TCN, quân
Ba Tư tấn công và chiếm được thành Babylon. Tân Babylon cũng trở thành một bộ phận của
đế quốc Ba Tư.
Năm 328 TCN, đế quốc Ba Tư bị Alexangdro Makedonia tiêu diệt. Cả Tây Á bị nhập vào
đế quốc Makedonia. Sau khi Alexangdro chết, đế quốc Makedonia bị phân chia, Babylon nằm
trong vương quốc của Xêlơcut, một vị tướng của Alexangdro.
3.3. Những thành tựu văn minh Lưỡng Hà
3.3.1. Chữ viết
Chữ viết ở Lưỡng Hà đầu tiên do người Xume sáng tạo vào cuối thiên niên kỷ IV TCN.
Trong thời kỳ đầu, chữ viết của Lưỡng Hà cũng là chữ tượng hình. Ví dụ, muốn viết các chữ
chim, cá, lúa, nước, thì vẽ hình con chim, cá, bông lúa, làn sóng. Dần dần các hình vẽ được
đơn giản hóa tức là không phải vẽ toàn bộ sự vật mà chỉ vẽ một bộ phận tiêu biểu mà thôi. Ví
dụ, chữ trời chỉ vẽ một ngôi sao, chữ bò mộng chỉ vẽ cái đầu bò với hai sừng dài.
Trên cơ sở tượng hình, để biểu thị các khái niệm, động tác…người ta phải dùng phương
pháp biểu ý. Ví dụ, muốn viết chữ khóc thì vẽ con mắt và nước, đẻ thì vẽ chim và trứng, bò
rừng thì vẽ bò và núi. Lúc đầu, hình cái cày vừa có nghĩa là cái cày lại có nghĩa là người cày.
Để phân biệt, bên cạnh hình cái cày thêm hình gỗ có nghĩa là cái cày, bên cạnh hình cái cày có
thêm hình người thì có nghĩa là người cày.
Người ta còn dùng hình vẽ để mượn âm thanh. Ví dụ, muốn viết âm xum thì vẽ bó hành,
vì bó hành có âm là xum. Các hình vẽ chỉ âm tiết còn kết hợp với một số hình khác để phân
biệt các khái niệm. Ví dụ, hình bàn chân kết hợp với âm tiết NA là “đi”, hình bàn chân kết hợp
với âm BA là “đứng”, chữ hài thanh còn dùng để biểu đạt nhiều loại từ khác như giới từ, phó
24


Anh hùng ca).
Văn học dân gian gồm có cách ngôn, ca dao, truyện ngụ ngôn…Loại văn học này thường
phản ánh cuộc sống lao động của nhân dân và cách cư sử ở đời. Loại văn học này thường là
văn học truyền miệng; vì vậy ngày nay ta biết được không nhiều.
Sử thi ra đời từ thời Xume, đến thời Babylon chiếm một vị trí rất quan trọng. Loại văn
học này chịu ảnh hưởng của tôn giáo rất mạnh. Chủ đề của nó thường là ca ngợi các thần.
Thuộc về các loại này, có các truyện như “Khai thiên lập địa”, “Nạn hồng thủy”, “Gingamet”
là tương đối tiêu biểu.
Tác phẩm tiêu biểu nhất của văn học Lưỡng Hà cổ đại là sử thi Gingamet. Tác phẩm này
vốn là của người Xume, sau được người Babilon cải biên và phát triển. Văn học Lưỡng Hà đã
đạt được những thành tựu đáng kể. Hơn nữa văn học Lưỡng Hà đã có ảnh hưởng lớn đối với
25

khu vực Tây Á. Những truyện Khai thiên lập địa, sáng tạo ra loài người, Nạn hồng thủy…trong
kinh thánh đều bắt nguồn từ nền văn học Lưỡng Hà.
3.3.3. Tôn giáo
Cư dân Lưỡng Hà cổ đại thờ rất nhiều loại thần như thần tự nhiên, thần động vật, thần
thực vật, linh hồn người chết…Hơn nữa, trước khi thành lập quốc gia thống nhất, Lưỡng Hà
bao gồm nhiều thành bang, mỗi thành bang có những thần riêng nên đối tượng sùng bái của cư
dân Lưỡng Hà rất phức tạp, vị trí của các thần trước sau thường khác nhau.
Các thần lực lượng tự nhiên chủ yếu gồm có:
Thần Anu là thần trời. Dần dần Anu được quan niệm là cha và là vua của các thần.
Thần Enlin là thần đất, cũng được quan niệm là chúa tể của trời đất
Thần Ea là thần nước, con trưởng của thần Anu, đồng thời là cha của thần Mácđúc.
Mặt trời, Mặt trăng, và tinh tú được coi là các vị thần, vì vậy thần Mácđúc còn được coi
là thần sao Mộc, thần Ixta thì được coi là thần sao Kim.
Thần Mặt trời Samát được quan niệm là con của thần Mặt Trăng Xin vì người Xume cho
rằng ngày là do đêm sinh ra. Về sau, thần Samát được coi là thần tư pháp và là thần bảo hộ các
vua. Thời Babylon thần Mácđúc, cháu của thần Anu, con trưởng của thần Ea trở thành chúa tể
của các thần. Vì vậy, câu đầu tiên của bộ luật Hammurabi đã viết:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status