Một số vấn đề ôn tập
Học phần: Lịch sử văn minh Thế giới .
Dành cho lớp : QLNN tại Trung tâm BDTX. Tỉnh Kontum
Vấn đề 1. Kim tự tháp Ai Cập
Vấn đề 2. Tư tưởng Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam
trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục
Vấn đề 3. Bốn phát minh kỹ thuật của nền văn minh Trung Hoa:
Vấn đề 4. Nghệ thuật Hy Lạp – La Mã cổ đại
Vấn đề 5. Thần thoại Hy Lạp – La Mã.
Vấn đề 6. Vai trò cách mạng tư sản
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
Vấn đề 1. Kim tư tháp Ai Cập
- Kiến trúc Ai Cập là công trình có quy mô lớn, kích thước đồ sộ, nặng
nề và thần bí. Những người thợ giỏi trong xã hội Ai Cập cổ đại với vật liệu đá đã
tạo ra những kỳ tích kiến trúc như : đền thờ Thần Mặt trời, cung điện, lăng mộ,
….trong đó đặc sắc nhất chính là các kim tự tháp “ Vô tiền khoáng hậu”. Kim tự
tháp được xây dựng nhiều từ thời kỳ cổ vương quốc ở Tây Cai rô ngày nay, về sau
ở vùng thương nguồn sông Nin. Trong đó ở Ghi dê có 3 kim tự tháp lớn nhất ( Kê
ốp, Kê phren, Mi kê ri). Thời kỳ Kim tự tháp được xây dựng nhiều nhất và đồ sộ
nhất là thời vương triều IV với những Kim tự tháp rất lớn: Kim tự tháp Keop (tên
Ai Cập) là Hufu cao 146,5 m, Kim tự tháp Kephren cao 137 m, Kim tự tháp
Mikerin cao 66 m. Kim tự tháp của Keop, con của Xnephru. Kim tự tháp Keop xây
thành hình tháp chóp, đáy là một hình vuông mỗi cạnh 230 m, bốn mặt là những
tam giác ngoảnh về bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Toàn bộ Kim tự tháp được xây
bằng những tảng đá vôi mài nhẵn, mỗi tảng nặng 2,5 tấn, có tảng nặng 30 tấn. Để
xây Kim tự tháp này, người ta đã dùng đến 2.300.000 tảng đá với một khối lượng là
2.408.000 m khối. Phương pháp xây Kim tự tháp là ghép các tảng đá được mài
nhẵn với nhau chứ không dùng vữa, thế mà các mạch ghép kín đến mức một lá kim
loại mỏng cũng không thể lách qua được. Ở mặt phía Bắc của Kim tự tháp Keop,
Tư tưởng Dân chủ, bình đẳng: xây dựng một xã hội đại đồng, lấy dân làm
gốc “Quốc dĩ dân vi bản”, sau được Mạnh Tử hoàn chỉnh thành: “ Dân vi quý,
xã tắc thứ chi, quân vi khinh”
Tư tưởng “ Chính danh định phận”: Danh/ cương vị, quyền hạn, Phận:
bổn phận, nhiệm vụ. Xã hội mất ổn định là do mọi người không làm đúng Danh –
Phận, muốn vậy phải Chính danh: Danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn
không thuận thì việc không thành dẫn đến sai lễ, không điều hành công việc được.
XH muốn ổn định thì Vua phải ra Vua, Tôi ra tôi…
+ Tư tưởng đức trị
Chủ trương dùng đạo đức để cai trị, hạt nhân của Đức trị là Nhân và Lễ.
Nhân là Nhân Nghĩa: Nhân là tình thương người/ Nghĩa là để tự răn mình. Nhân
tạo người, Nghĩa tạo ta, đó là những phẩm chất của người có học( người quân tử):
Cung kính với bề trên, hiếu để với Cha mẹ, tín nghĩa với bằng hữu, cương trực
trung thực với chính mình… Lễ là nghi lễ, quy phạm đạo đức, kỷ cương, tôn ti
trật tự. Về sau được nâng lên thành Lễ giáo phong kiến khắt khe, thể hiện ngay cả
trong những ứng xử hàng ngày. Làm sai Lễ là trái đạo đức. Nhân là nội dung, lễ
là hình thức. Đức trị còn đòi hỏi người có học phải tuyệt đối tuân thủ những phạm
trù đạo đức : Tam cương, Ngũ thường, Lục kỷ,
+ Tư tưởng giáo dục
Với những quan điểm tiến bộ đi trước thời đại:
- Học tập để uốn nắn nhân cách và bồi dưỡng nhân tài,
- Ai cũng được học không phân biệt giàu nghèo.
- Học phải kiên trì, khiêm tốn,
- Học đi đôi với hành,
- Học phải khách quan…
Những quan niệm giáo dục của Khổng Tử mặc dù cách xa với thời đại chúng ta
đang sống, nhưng đến nay nó vẫn có những giá trị nhất định, tư tưởng giáo dục là
bộ phận gìau sức sống nhất, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển VHGD Trung Quốc,
tạo nên truyền thống hiếu học và Tôn sư trọng đạo lâu đời. vì thế Ông được tôn
vinh là Vạn thế sư biểu, Chí Thánh tiên sư, và dù chưa từng làm vua vậy mà vẫn
đẽ, được vun đắp từ đời này qua đời khác.
Vấn đề 3. Bốn phát minh kỹ thuật của Trung hoa
a. Mô tả
Trung quốc đã đi trước phương Tây với nhiều phát minh kỹ thuật lớn.
Nhưng 4 phát minh sau đây xứng đáng được gọi là Tứ đại phát minh bởi nó đã đưa
đến những biến chuyển lớn lao khi du nhập sang phương Tây.
- Giấy viết là phát minh của quan hoạn Thái luân năm 105, khi ông dùng vỏ
cây, lưới cũ, giẻ rách giã nhỏ tạo ra một thứ giấy khá dai để viết thay cho các loại
giấy nặng nề tốn kém trước đây… ở TQ giấy chỉ dùng chủ yếu chép kinh, dành cho
phái Nho gia. Nó thực sự đẩy mạnh sự phát triển văn hóa giáo dục khi sang phương
Tây
- Nghề in: từ thế kỷ VI người TQ đã có kỹ thuật in bằng ván khắc, nhưng có
nhiều hạn chế, từ triều Tùy (tức CN 581-618) do Tất Thăng phát minh ra, sau đó
được người Mông Cổ truyền sang Châu Âu, về sau người đời gọi Tất Thăng là thủy
tổ của nghành in. Tất Thăng đã cải tiến in bằng chữ rời( thế kỷ XI)bằng đất nung,
về sau liên tục cải tiến thành chữ bằng đồng hay chì…Kỹ thuật in cũng chỉ bó hẹp
trong việc in sách kinh, trong giới có học. Đầu tiên kỹ thuật ấn loát hoạt tự được
truyền đến Triều Tiên, Nhật Bản, sau đó thông qua người Mông Cổ truyền sang các
nước phương tây. Sự ra đời của kỹ thuật ấn loát đã đẩy mạnh tốc độ giao lưu, phát
triển văn hóa giữa các nước trên thế giới, do đó có thể coi kỹ thuất ấn loát là một
cống hiến lớn của Trung Quốc
- Thuốc súng Có lẽ đây là phát minh nổi tiếng nhất của Trung Hoa cổ đại.
Vào khoảng thế kỷ thứ VI, các nhà giả Kim thuật (còn gọi là nhà Luyện đan, kiêm
đạo sĩ, chiêm tinh, chuyên tìm tòi, pha chế các dược liệu, hoá chất… mong tìm ra
phương thuốc “Trường sinh bất tử” dâng lên Hoàng đế), trong khi mày mò, vô tình
tạo ra thuốc nổ từ diêm tiêu và lưu huỳnh. Thuốc súng đầu tiên được tạo ra từ hỗn
hợp của nitrat kali, than và lưu huỳnh. Nó được miêu tả lần đầu tiên vào năm 1044
trong bộ sưu tập kỹ thuật quân sự biên soạn bởi Zeng Goliang. Tuy vậy ở thời điểm
đó, thuốc nổ chỉ được ứng dụng làm pháo đốt, pháo bông phục vụ cho lễ hội vui
chơi ở cung đình và được sản xuất từ các công xưởng thuộc triều đình.Phương Tây
Hy lạp và La Mã đều có những công trình kiến trúc huy hoàng và rực rỡ, đáng
khâm phục. Nghệ thuật kiến trúc Hy Lạp đã được kế thừa và phát triển của nghệ
thuật Cret, Ai cập, Ba Bi Lon… vì thế nó tạo nên sự hoàn mỹ, hiện thực và đầy bản
sắc dân tộc. Nhà cửa, lâu đài, đền miếu, sân vận động đều nguy nga tráng lệ. Trong
các công trình ấy tiêu biểu nhất, đền Páctênông được coi là một kiệt tác và là biểu
tượng của kiến trúc cổ Hy lạp. Ngoài ra, ở các nơi khác cũng có những công trình
kiến trúc đẹp như đền thần Dớt ở Ôlempi, các đền thờ ở một số thành phố Hy Lạp
trên đảo Xixin.
Kiến trúc của La Mã tuy chịu ảnh hưởng sâu sắc Hy lạp, nhưng người La Mã
vẫn rất tự hào bởi những công trình của họ, bởi xét về quy mô, số lượng vượt trội
hơn hẳn và lan tỏa rộng ra trên một vùng lãnh thổ rộng lớn thuộc quyền cai quản
của Đế chế: Trung Đông, Tiểu Á, Bắc Phi, Tây Âu. Các cuộc chinh phạt đã mang
về cho La Mã nguồn của cải to lớn, với nguồn nhân lực dồi dào, vật liệu xây dựng
đa dạng, trình độ kỹ thuật, mỹ thuật tiến bộ, tất cả đã cho phép người La Mã thực
hiện giấc mơ biến La Mã “ từ một thành phố làm bằng đất sét thành một thành phố
làm bằng cẩm thạch”. Các công trình kiến trúc của La Mã rất đa dạng bao gồm
tường thành, đền miếu, cung điện, rạp hát, khải hoàn môn, cột kỷ niệm, cầu đường,
ống dẫn nước Những công trình này đều hùng vĩ, đồ sộ, và có tính thực dụng cao.
Ba công trình kiến trúc tiêu biểu cho nghệ thuật và nếp sống của người La Mã là
đấu trường Coloseum, nhà tắm Cracalla và đền thờ Pantheon. Đấu trường
Cloloseum biểu hiện cho sự hùng cường và vĩ đại của Đế chế La Mã, được xây
dựng trong 8 năm( 72-80)….
Nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp đến thế kỷ V TCN có nhiều kiệt tác gắn liền với
tên tuổi những nghệ sĩ tài năng như Mirông, Phiđiát, Pôliclét.
Nghệ thuật điêu khắc La Mã cùng một phong cách với nghệ thuật điêu khắc Hy
Lạp. Nhưng người La Mã rất chú ý đến việc thể hiện cá tính cơ bản của đối tượng.
Các bức tượng được miêu tả cực kỳ chính xác như ngoài đời thường. Các tác phẩm
điêu khắc chủ yếu là tượng và phù điêu. Các nhà điêu khắc La Mã đã tạo rất nhiều
tượng hết sức đẹp đẽ để trang sức, đường phố, quảng trường, đền miếu…Đặc biệt
là tượng của các hoàng đế nổi tiếng của La Mã được dựng ở khắp nơi. Do đặc điểm
Thần thoại Hy – La sắp xếp theo một trật tự hợp lý từ cao xuống thấp: cao
nhất là thần Dớt -các thần có quan hệ ruột thịt với Dớt: vợ ( Hê ra), con gái ( Ác tê
mít: thần săn bắn, Athen na: thần thông thái, An phrôdid: thần sắc đẹp), con trai
( Héc quyn, Apôlông), Em trai (Nep tuyn, Ha1det/thần địa ngục), Em gái
( Đêmêtê/thần đất)
Thế giới các thần không khác gì thế giới của con người: ở trên núi Ôlimpơ
cao ngất, quan năm rực rỡ nắng vàng với những cỗ xe mây trắng lao như bay suốt
ngày đêm từ trên núi xuống chở các thần chu du thiên hạ, các thần cũng yêu cũng
ghét cũng giận hờn, cũng đánh nhau…( đó là quan niệm “Thiên nhân đồng hình””
Thiên nhân đồng tính”, , thế giới thần là có thực , xác định được cụ thề, thần và con
người giống nhau, thần có vẻ đẹp và cuộc sống trần thế như con người không xa
cách có thể hình dung được, nhìn thấy được, giao tiếp được( khác phương Đông khi
chết mới giao tiếp được, không thể hình dung được…)
Thần thoại Hy- La được hư cấu cao độ trên cơ sở các yếu tố hiện thực(Eo
Bôxpho, quần đảo Iônia, dải Ngân hà, cây nguyệt quế ), trong đó các yếu tố tôn
giáo, khoa học, nghệ thuật quyện chặt vào nhau . Chính vì vậy đã trở thành nguồn
chất liệu sinh động và nguồn cảm hứng vô tận cho các loại hình nghệ thuật…
Thần thoại Hy- La vừa có yếu tố dân gian vừa có yếu tố bác học, phản
ánh đậm nét xã hội chiếm nô điển hình.
Vấn đề 6. Vai trò của cách mạng tư sản
+ CMTS diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, trải qua nhiều
giai đoạn khác nhau vô cùng gay go và quyết liệt đã lật đổ chế độ phong kiến
xác lập các quốc gia dân tộc tư sản , xác lập địa vị của CNTB trên phạm vi thế
giới. Đưa loài người tiến bước vào một nền văn minh mới: văn minh công
nghiệp.
+ Cách mạng tư sản đã thiết lập thể chế Dân chủ tư sản với những
nguyên tắc, thể chế tiến bộ, dân chủ, ưu việt hơn hẳn chế độ phong kiến.
Những thành quả dân chủ ấy còn là cơ sở để sau này g/c vô sản kế thừa xây
dựng nền Dân chủ vô sản.
+ Cách mạng tư sản đã để lại những văn kiện nổi tiếng đó là các