BÀI GIẢNG LỊCH SỬ VĂN MINH THÊ GIƠÍ - Pdf 26

Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA
BÀI GIẢNG
LỊCH SỬ VĂN MINH THÊ GIƠÍ
Giáo viên: LÊ THỊ THANH TRÚC
Phú Yên, tháng 12 năm 2010
Trang 1
Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc
BÀI 1:
VĂN MINH AI CẬP CỔ ĐẠI.
1.1. Một số nét tổng quan về Ai Cập:
VMAC gắn liền với con sông Nill, nhà sử học Hêrôđôt đã từng nói “ AC là tặng phẩm
của sông Nill ”, nó có tác dụng rất lớn đến sự phát triển KT-VH-XH của AC. Hai bên bờ
sông Nill có rất nhiều cây Papirut mà người dân ở đây dùng giấy viết. AC đã hình thành
nhà nước thống nhất của mình từ năm 3200 trước CN, và đã trải qua 3 thời kì: Cổ Vương
quốc(3200-2400), Trung Vương quốc(2750-1710), Tân Vương quốc(1560-941). Giữa các
thời kỳ thì AC lâm vào tình trạng phân liệt hay ngoại xâm, cư dân AC sống bằng nghề
nông và chăn nuôi. Những công trình thủy lợi nổi tiếng nhất là hồ Moolit với các kênh đào
nối liền sông Nill với biển Hoàng Hải(kênh đào Xuyê). Ngoài sản xuất và chăn nuôi họ còn
có một số ngành nghề thủ công: chế tạo vật dụng từ kim loại, làm đồ thủy tinh, dệt vải do
vậy buôn bán thời kỳ này phát triển mạnh đặt biệt từ thời Tân Vương quốc, họ bán những
gì họ làm ra và mua lại từ nơi khác. Thời Cổ Vương quốc công cụ phổ biến là đồng đỏ(CU
chưa qua chế biến), qua đến thời Trung Vương quốc thì sử dụng CU thau còn đồ Fe thì
được sử dụng vào thời kì Tân Vương quốc.
Trong thời kì Cổ Vương quốc AC có hai giai cấp: thống trị: Paraong, chủ nô, quan lại,
chủ ruộng đất; bị trị: nông dân công xã và nô lệ là giai cấp lao động chủ yếu. Nhà nước AC
là nhà nước chuyên chế tập quyền Vua có quyền Vua có quyền lực tối cao, bộ máy nhà
nước có 3 chức năng: bóc lột nông dân trong nước, xâm lược và bóc lột, xây dựng các công
trình thủy lợi.
1.2. Các thành tựu Văn hóa: Chữ viết và quá trình tìm ra cách đọc chữ viết.

nghĩ còn mộ là nơi để sống. Kiến trúc nổi tiếng của AC là các Kim tự tháp, Kim tự tháp là
nơi mộ táng của các Paraong. Người ta tìm thấy 100 Kim tự tháp, tất cả các Kim tự tháp
này đều nằm ở tả ngạn sông Nill và có 6 quần thể Kim tự tháp lớn nằm không quá 70km.
Trang 3
Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc
Ba Kim tự tháp lớn nhất mang tên các Paraong đó là Khupu, Kim tự tháp thứ hai là Kapora,
Kim tự tháp thứ ba là Menlanra. Trong đó Kim tự tháp Khupu có chiều cao nhất là 140m.
- Về khoa học: AC cổ đại phát triển sớm và có nhiều thành tựu lớn, đầu tiên là lịch
pháp và thiên văn. Lịch của người AC LÀ âm lịch – một năm có 365 ngày và chia làm 12
tháng, như vậy cứ 4 năm lại có một năm nhuận, họ cũng đã biết làm đồng hồ đo bằng ánh
sáng Mặt trời: một ngày được chia làm 24 giờ. Người AC đã sớm phát hiện ra các vì sao và
soạn thảo ra bản đồ 12 cung hoàng đạo, vẽ được chòm sao Bắc cực, biết được 5 ngôi sao:
Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ.
- Về Toán học: Người AC đã sáng tạo ra hệ đếm thập tiến vị, đặc biệt giỏi về hình
học. Người ta đã biết tính diện tích hình tam giác, hình tròn, tính được thể tích hình tháp
đáy vuông, hình cầu và số pi bằng 3.14.
- Về Yhọc: do có tục ướp xác, những thợ ướp phải mổ xác nên người AC biết rất rõ về
cấu tạo cơ thể người. Chính vì thế mà họ cũng phân biệt được rất rõ các chuyên khoa trong
y học: nội, ngoại, mắt, răng, dạ dày
Trang 4
Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc
BÀI 2:
VĂN MINH LƯỠNG HÀ CỔ ĐẠI.
2.1. Tổng quan về Lưỡng Hà.
Giữa khu vực Tây Á có 2 con sông lớn – sông Tigoro và sông Euphrates và miền đất
giữa 2 con sông chính là khu vực Lưỡng Hà. Hai con sông này có vai trò rất quan trọng đối
với sự hình thành và phát triển của các quốc gia ở khu vực Lưỡng Hà. Khí hậu Lưỡng Hà
nóng và khô, lượng mưa hàng năm không đáng kể. Cư dân Lưỡng Hà đã chăm lo tới công
tác thủy lợi, đào kênh để tưới tiêu cho đồng ruộng. Lưỡng Hà hầu như không có nguồn tài
nguyên kim loại và mỏ đá nhưng bù lại, lại có khá nhiều đất sét để phát triển nghề gốm,

Về truyện nổi tiếng theo đề tài truyện ngụ ngôn nhân cách hóa các con vật để
khuyên răn giáo dục con người : “ Cuộc tranh cãi giữa ngựa và bò”. Thuyền thuyết về nạn
đại hồng thủy và cuộc đấu tranh của thần Ninuta với loài quỹ dữ đã phản ánh thực tế điều
kiện tự nhiên vừa thuận lợi và cũng vừa dữ tợn của hai dòng sông Tigoro và sông
Euphrates.
Tín ngưỡng tôn giáo:
Trang 6
Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc
Người Lưỡng Hà theo đa thần giáo, mỗi quốc gia đều có thần chủ của mình: thần
nước, thần Tammu vị thần dạy cư dân trồng trọt, làm nghề thủ công, bảo vệ mùa màng
Thần Neegan, thần mặt trời Samat.
Điêu khắc hành lễ tìm thấy ở Tell Asmar (Iraq), có tuổi từ 2750 tới 2600 trước Công
Nguyên (Nguồn: Wikipedia)Ở Lưỡng Hà các tổ chức chính trị đầu tiên chính là thành phố.
Di tích của các thành phố cổ hơn Lưỡng Hà được tìm thấy tại các nơi khác ở Trung Đông
nhưng không đâu có thể so sánh được với sự phổ biến của các thành thị này tại vùng đồng
bằng nam Lưỡng Hà. Chính văn hóa thị thành này có vẻ đã tạo ra những triển vọng mới
cho loài người. Dù sao đi nữa thì danh từ Văn Minh mà ta dùng để dịch chữ Civilization
của tiếng Anh thì trong đó có chữ Latin “Civil” có nghĩa là “một người dân thành thị”.
Trang 7
Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc
BÀI 3:
VĂN MINH ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI.
Ấn Độ là một bán đảo hình tam giác, nằm ở phía nam Châu Á nhưng hầu như ngăn
cách với Châu lục này bởi dải núi Himalaya cao nhất thế giới, nước từ dãy Hymalaya theo
hai con sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges) lại đem phù sa tới bồi đắp cho những cánh
đồng ở Bắc Ấn.
Ấn Độ có một nền văn minh lớn lâu đời, là cái nôi của quá trình chuyển biến từ
vượn thành người. Không có hóa thạch xương nhưng hai nền văn hóa đá cũ hậu kì đã được
phát hiện có niên đại khoảng từ 400.000 đến 200.000 năm. Đó là văn hóa Soan ở Tây –
Bắc, trên hạ lưu Indus và văn hóa Madras ở miền Nam. Đồ đá nhỏ hay đá giữa cũng tìm

Mahabharata là bản trường ca gồm 220.000 câu thơ. Bản trường ca này nói về một cuộc
chiến tranh giữa các con cháu Bharata. Bản trường ca này có thể coi là một bộ “bách khoa
toàn thư” phản ánh mọi mặt về đời sống xã hội Ấn Độ thời đó.
Ramayana là một bộ sử thi dài 48.000 câu thơ, mô tả một cuộc tình giữa chàng
hoàng tử Rama và công chúa Xita(con của nữ thần mẹ đất). Thiên tình sử này ảnh hưởng
tới văn học dân gian một số nước Đông Nam Á. Riêmkê ở Campuchia, Riêmkhiêm ở Thái
Lan chắc chắn có ảnh hưởng từ Ramayana.
Thời cổ đại ở Ấn Độ còn có tập ngụ ngôn Năm phương pháp chứa đựng rất nhiều tư
tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu.
* Nghệ thuật: Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực rỡ, ảnh hưởng
tới nhiều nước Đông Nam Á. Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục vụ tôn giáo. Có
thể chia ra ba dòng nghệ thuật: Hinđu giáo, Phật giáo, Hồi giáo.
Trang 10
Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc
BÀI 4:
VĂM MINH TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
4.1. Điều kiện tự nhiên và cư dân:
Trung Quốc là một trong bốn trung tâm văn minh lớn của phương Đông cổ đại,
Trung Quốc có hàng ngàn con sông lớn nhỏ, có con sông Hoàng Hà (4.000km) ở phía Bắc
và ở phía Nam có con sông Trường Giang (5.000km). Lãnh thổ rộng, địa hình đa dạng
phức tạp phía Tây là núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, miền Đông thấp hơn và gần biển
nên khí hậu tương đối ôn hòa.
Lịch sử cổ đại Trung Quốc kéo dài gần 2.000 năm (từ khoảng thế kỉ XXI TCN đến
năm 221 TCN).
Cư dân ở lưu vực Hoàng Hà thuộc tộc người Mông Cổ, có hai tộc người được hình
thành sớm ở đây là Hạ và Thượng lưu Hoàng Hà. Vùng lưu vực Trường Giang là địa bàn
của các nước Sở, Ngô, Việt. Cư dân vùng này khác hẳn cư dân vùng Hoàng Hà về ngôn
ngữ và phong tục tập quán. Ví dụ: Cư dân các nước Ngô, Việt có tục cắt tóc, xăm mình, đi
chân đất…
Trang 11

4.4. Thời kỳ dựng nước Trung Quốc (1.066 TCN 206 TCN)
Vạn Lý Trường Thành bắt đầu được xây dựng từ trước khi Tần Thủy Hoàng thống
nhất Trung Quốc
Vạn Lý Trường Thành bắt đầu được xây dựng từ trước khi Tần Thủy Hoàng thống
nhất Trung Quốc
Thời kỳ này bắt đầu bởi sự sụp đổ của nhà Thương và bắt đầu kỷ nguyên của nhà
Chu (1.066 TCN - 221 TCN) bao gồm nhà Tây Chu, (1.066 TCN - 771 TCN) và nhà Đông
Chu hay còn được gọi là thời Xuân Thu và Chiến Quốc và kết thúc chiến tranh giữa các
Trang 13
Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc
tiểu vương quốc bằng sự bắt đầu triều đại nhà Tần thống nhất Trung Hoa vào năm 221
TCN.Sau đó nhà Hán thống nhất Trung quốc thành lập vương triều Hán tồn tại gần 400
năm.
4.5. Những thành tựu Văn hóa:
4.5.1. Văn học:
Thể loại văn học phát triển sớm nhất ở Trung Quốc là thơ ca, bao gồm ca dao của
nhân dân và những bài thơ ca do giai cấp thống trị sáng tác. Thơ cũng là lời của bài hát
Kinh Thi là tập thơ cổ nhất ở Trung Quốc do nhiều tác giả sáng tác thời Xuân-Thu,
được Khổng tử sưu tập và chỉnh lí. Kinh Thi gồm có 3 phần: Phong, Nhã, Tụng.
Thơ Đường là thời kì đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc. Trong hàng ngàn tác giả
có ba nhà thơ lớn nổi bật là Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.
Tới thời Minh-Thanh, tiểu thuyết lại rất phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như:
Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Thuỷ hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô
Thừa Ân, Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần trong
đó Hồng lâu mộng được đánh giá là tiểu thuyết có giá trị nhất.
4.5.2. Khoa học tự nhiên:
Toán học: người Trung Quốc đã biết sử dụng phép ghi số tính với 10 bậc sớm nhất
thế giới, đặc biệt thời nhà Chu rất coi trọng sách viết về Toán học . Đến đời Đông Hán thì
Toán học đã phát triển đến những thành tựu nhất định, nhà Toán học nổi tiếng nhất Trung
Quốc là Tô Xung Chi đã tìm ra số pi chính xác đến hệ thập phân số 10 và đi trước thời gian

Phát minh ra kim chỉ nam: từ việc biết được từ tính và chiều hướng của nam châm.
Đến thời Bắc Tống người ta đã chế tạo ra la bàn và ngày cải thiện, hoàn thiện hơn.
Nghề làm giấy: khi chưa phát hiện ra giấy họ đã sử dụng nhiều loại nhưng chất
lượng kém, không phẳng rất khó viết. Vào năm 105 TCN có nhà khoa học tên Thái Luân
đã làm ra giấy từ những nguyên liệu dế kiếm như giẻ rách, vỏ cây và nó thể hiện rất tốt.
Người Trung Quốc đã làm ra giấy trước phương Tây hàng nghìn năm góp phần vào công
cuộc cách mạng truyền bá chữ viết và truyền bá tư tưởng.
Thái Luân tổng kết kinh nghiệm làm giấy của thế hệ trước, dẫn nhiều người thợ
dùng vỏ cây, vải gai, vải rách, lưới rách nát v.v để làm giấy. Trước tiên họ cắt hoặc thái
vỏ cây, vải gai, vải rách và lưới rách nát thành từng miếng vụn, rồi ngâm lâu trong nước,
giã thành dịch nhuyễn, trải qua nấu hấp, đổ thành lớp mỏng trên chiếu, phơi khô dưới ánh
sáng mặt trời, như vậy làm thành giấy. Loại giấy làm bằng biện pháp này có đặc điểm nhẹ
và mỏng, rất thích hợp viết chữ, nhận được sự hoan nghênh của mọi người, Nhà vua khen
ngợi. Thái Luân cải tiến kỹ thuật làm giấy. Từ đó, toàn quốc đều bắt đầu dùng biện pháp
làm giấy. Vì vậy, loại giấy này được gọi là “Giấy tước hầu Thái”.
Trang 16
Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc
Trang 17
Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc
Phát minh ra nghề in: vốn có truyền thống khắc vào đá đến thời nhà Tùy thì nghề in
khắc bản ra đời và ngày càng được cải thiện từ việc in chữ rời bằng đất nung đến chữ viết
in bằng gỗ, thiếc. Người Trung Quốc đi sớm hơn người Dức 4000 năm.
Nghệ thuật: Kiến trúc Vạn Lý Trường Thành là kiến trúc đồ sộ có tầm cỡ trên thế
giới, ngoài ra còn có thành Trường An, cung A Phòng, chùa Phật An ở Núi Ngũ Đài Sơn,
phố Lạc Dương, Tử Cấm Thành.
Tư tưởng, tôn giáo:
Bát quái, Ngũ hành, Âm dương: từ xa xưa người Trung Quốc đã nêu ra các thuyết
Bác quái, Ngũ hành, Âm dương. Ngay từ khi tộc Chu phát triển, người Chu đã quan niệm
rằng thế giới do 8 loại vật chất là trời, đất, hồ, núi, lửa, nước, sét, gió tạo thành và họ đặt ra
8 quẻ để biểu thị 8 loại đó. Tám que đó là: Càn ( trời), Khôn (đất), Cấn (núi), Đoài (hồ), Ly

BÀI 5
VĂN MINH HI LẠP CỔ ĐẠI
5.1. Điều kiện tự nhiên và cư dân.
Hi Lạp cổ đại là một quốc gia ở khu vực Địa Trung Hải, có lãnh thổ rộng bao gồm
miền lục địa Hi Lạp (Nam bán đảo Ban Căng), miền đất ven bờ tiểu Á và những đảo thuộc
biển Êgiê.
Điều kiện tự nhiên đã có những tác động đáng kể tới khuynh hướng phát triển của
nền kinh tế cũng như thiết chế nhà nước của quốc gia cổ đại Hi Lạp. Hi Lạp ít đồng ruộng,
đất đai lại không thuận lợi và không thích hợp với việc trồng cây lương thực nhưng lại
thích hợp với việc trồng nho và oliu.
Trang 20
Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc
Quả
Oliu là
một
loài
cây
nhỏ
trong dòng họ Oliu, có nguồn gốc ở vùng ven biển và lưu vực sông của miền Đông Địa
Trung Hải, một số nước châu Á và châu Phi, phía Bắc Iran và cuối phía nam vùng biển
Caspi.
Loài quả này có vai trò và tầm quan trọng to lớn trong nền nông nghiệp của vùng
Địa Trung Hải.
Người Hy Lạp đã lưu lại những quan sát về loài cây này, oliu hiếm khi phát triển
mạnh ở khoảng cách gần biển, mà từ phần lưng chừng, có nghĩa là từ độ cao của sườn núi
lên trên. Trong huyền thoại Hy Lạp đã có một nhân vật văn hóa,một biểu tượng anh hùng
thời nguyên thủy là Aristaeus có sự hiểu biết về chăn nuôi, làm pho mát, nuôi ong và cách
trồng trọt cây oliu.
Trang 21
Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc

người Hi Lạp thời Home đã dùng vật nuôi để tỏ lòng mến khách làm vật trao đổi trong các
buổi tế lễ thần linh.
5.2. Văn hóa Hi Lạp cổ đại.
Trên cơ sở mẫu tự của người Phenixi, người Hi Lạp đã cải biên và sáng tạo ra hệ
thống mẫu tự Hi Lạp . So với hệ thống chữ tượng hình Ai Cập, hình đinh của Lưỡng Hà,
mẫu tự Hi Lạp đã đạt tới một trình độ cao, có khả năng hoàn thiện, khái quát hệ thống các
kí hiệu biểu đạt tư duy.
Trang 23
Giáo viên: Lê T . Thanh Trúc
Thần thoại là một trong những hình thái văn học xuất hiện sớm nhất ở Hi Lạp,
những truyện kể dân gian truyền miệng với những nội dung hoan đường, huyền bí, kì ảo…
gồm những truyện về sự sáng tạo thế giới, các đấng thần linh, các anh hùng dũng sĩ.
Thần thoại phản ánh nguyện vọng của nhân dân trong cuộc đấu tranh với thiên
nhiên, giải thích các hiện tượng tự nhiên, phản ánh cuộc sống lao động và những hoạt động
đời thường của chính người Hi Lạp.
Thần thoại Hi Lạp đã hình thành và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử, xuất phát
từ thực trạng kinh tế, xã hội, từ những tư tưởng triết học phong phú, vì vậy thần thoại vừa
mang tính lịch sử xác thực, phản ánh thực trạng xã hội vừa đậm đà chất hoang đường, duy
lí và triết lí.
Thần thoại “là miếng đất màu mỡ nuôi dưỡng nghệ thuật Hi Lạp…tiền đề… vật liệu
của nghệ thuật Hi Lạp”.
Hi Lạp là quê hương của triết học Phương Tây, được hình thành trên cơ sở của nền
kinh tế công thương nghiệp phát triển, xã hội chiếm nô đạt mức cao và trên nền tảng của
những thành tựu khoa học tự nhiên, ít bị chi phối bởi tôn giáo.
Triết học ở Hi Lạp cổ điển có nhiều trường phái tập trung trong hai phái đối lập
nhau; phái tuy tâm và phái duy vật.
Đại biểu xuất sắc nhất của trường phái triết học duy vật ở Hi Lạp là các nhà triết học
nổi danh: Talet, Anaximang, Heracolit, ….cho rằng nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật là do
vật chất tạo thành, có vân động và có biến đổi.
Talet cho rằng nước là các bản chất của vạn vật, nước luôn thay đổi hình thái và vì


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status