VŨ DƢƠNG NINH (CHỦ BIÊN) – NGUYỄN GIA PHU
NGUYỄN QUỐC HÙNG – ĐINH NGỌC BẢO
LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
(Tái bản lần thứ mƣời hai)
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Công ty Cổ phần sách Đại học – Dạy nghề – Nhà
xuất bản Giáo dục giữ quyền công bố tác phẩm.
19 – 2010/CXB/336 – 2244/GD
Mã số: 7X171y0 – DAI
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
BÀI MỞ ĐẦU
I.
Khái niệm văn minh
II.
Các nền văn minh lớn trên thế giới
CHƢƠNG I: VĂN MINH BẮC PHI VÀ TÂY Á
A.
Văn minh Ai Cập cổ đại
I. Tổng quan về Ai Cập cổ đại
II. Những thành tựu chủ yếu của văn minh Ai Cập cổ
đại
B.
Văn minh Lƣỡng Hà cổ đại
II. Văn hóa Tây Âu từ thế kỷ V đến thế kỷ X
III. Văn hóa Tây Âu từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XIV
IV. Văn hóa Tây Âu thời Phục hƣng
V. Sự tiến bộ về kĩ thuật
VI. Sự ra đời của Đạo Tin lành
VII. Sự tiếp xúc giữa các nền văn minh
CHƢƠNG VII: SỰ XUẤT HIỆN VĂN MINH CÔNG
NGHIỆP
I. Điều kiện ra đời của nền văn minh công nghiệp
II. Cuộc cách mạng công nghiệp
III. Phát minh Khoa học - Kĩ thuật và những học thuyết
chính trị thời cận đại
IV. Thành tựu văn học và nghệ thuật
CHƢƠNG VIII: VĂN MINH THẾ GIỚI THỂ KỶ XX
I. Văn minh thế giới nửa đầu thế kỷ XX
II. Chiến tranh thế giới và sự phá hoại văn minh nhân loại
III. Văn minh thế giới nửa sau thế kỷ XX
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI NÓI ĐẦU
Lịch sử văn minh thế giới là môn học có nhiệm vụ cung cấp
những kiến thức cơ bản về quá trình ra đời và phát triển của các
nền văn minh tiêu biểu trong lịch sử loài người.
Giáo trình này gồm 8 chương đem lại cho người đọc sự hiểu
biết cơ bản và hệ thống về những nền văn minh thời cổ trung đại
ở phương Đông (Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa, Đông
Nam Á) và phương Tây (Hy Lạp, La Mã, các nước Tây Âu) và
nền văn minh công nghiệp thời cận hiện đại.
Với thời lượng giảng dạy là 4 đơn vị học trình (60 tiết), giáo
trình này không thể đi sâu vào chi tiết mà chỉ mong muốn tạo
nên một cái nhìn khái quát và một sự hiểu biết cơ bản về lịch sử
văn minh của loài người.
Để cuốn sách ngày càng hoàn chỉnh, chúng tôi mong nhận
dược ý kiến đóng góp của bạn đọc.
Ngày 19-8-1998
CÁC TÁC GIẢ
BÀI MỞ ĐẦU
I - KHÁI NIỆM VĂN MINH
Văn minh là gì?
Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh
thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của
nền văn hóa. Trái với văn minh là dã man.
- Ví dụ: văn minh Phƣơng Đông, văn minh Hy Lạp...
Chữ văn minh trong tiếng Pháp là civilisation, trong tiếng
Anh là civilization, còn có nghĩa là hoạt động khai hóa làm thoát
khỏi trạng thái nguyên thủy.
Nhƣ vậy, khi định nghĩa văn minh, ngƣời ta đã đề cập đến
một khái niệm mới, đó là văn hóa.
Vậy, văn hóa là gì? Văn hóa là một từ tiếng Hán, do Lƣu
Hƣớng, ngƣời thời Tây Hán nêu ra đầu tiên. Nhƣng lúc bấy giờ,
hai chữ văn hóa có nghĩa là "dùng văn để hóa", nói một cách
khác, văn hóa tức là giáo hóa. Đến thời cận đại, nghĩa của chữ
văn hóa có phần khác trƣớc.
Nguyên là, chữ văn hóa trong tiếng Anh và tiếng Pháp là
culture. Chữ này có nguồn gốc từ chữ La tinh cultura nghĩa là
trồng trọt, cƣ trú, luyện tập, lƣu tâm... Đến giữa thế kỉ XIX, do
nhảy vọt. Tuy nhiên, do hoàn cảnh cụ thể, có một số nơi, khi nhà
nƣớc ra đời vẫn chƣa có chữ viết, nhƣng đó là những trƣờng hợp
không điển hình.
Liên quan tới khái niệm văn hóa và văn minh còn có khái
văn hiến. Trong bài Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi viết: "Xét
như nước Đại Việt ta, thực là một nước văn hiến". Vậy văn hiến
là gì?
Khổng Tử nói: "Lễ của đời Hạ, ta có thể nói được, nhưng
nước Kỉ (nước còn bảo tồn lễ của đời Hạ) không đủ chứng minh;
lễ của đời Ân, ta có thể nói được, nhưng nước Tống (nước còn
bảo tồn lễ của đời Ân) không đủ chứng minh. Đó là vì văn hiến
không đủ, nếu đủ thì ta có thể chứng minh."(Luận ngữ).
Nhƣ vậy, văn hiến là một thuật ngữ chỉ chung sử sách và
các chế độ chính sách. Có sử sách tức là đã bƣớc vào thời kì văn
minh, do đó trƣớc đây, dƣới thời phong kiến, khi chƣa có chữ
văn minh với nghĩa nhƣ ngày nay, chữ văn hiến thực chất là văn
minh. Nhƣ vậy, câu "Xét như nước Đại Việt ta thực là một nước
văn hiến" có nghĩa là "Xét như nước Đại Việt ta thực là một
nước văn minh".
Tóm lại, các khái niệm văn hóa, văn minh và văn hiến,
ngoài những nghĩa riêng biệt không lẫn lộn đƣợc nhƣ đối với
từng cá nhân, chỉ có thể nói trình độ văn hóa, không thể nói trình
độ văn minh, ngƣợc lại, đối với xã hội, chỉ có thể nói thời đại
văn minh, không thể nói thời đại văn hóa, nói chung, ba thuật
ngữ này có nghĩa rất gần nhau. Chỗ khác nhau là, văn minh là
giai đoạn phát triển cao của văn hóa, còn văn minh và văn hiến
khác nhau ở chỗ văn minh (civilisation) là một từ mới du nhập,
còn văn hiến là một từ cổ ngày nay không dùng nữa.
ở phƣơng Đông, trở thành đế quốc rộng lớn, hùng mạnh, duy
nhất ở phƣơng Tây. Văn minh La Mã vốn chịu ảnh hƣởng của
văn minh Hy Lạp, vốn cò cùng một phong cách, giờ đây lại hòa
đồng làm một, nên hai nền văn minh này đƣợc gọi chung là văn
minh Hy-La.
Văn minh Hy-La vô cùng xán lạn, là cơ sở của văn minh
châu Âu sau này. Nhƣng sau khi đế quốc Tây La Mã diệt vong,
nền văn minh đó bị lụi tàn, mãi đến thế kỉ VI, văn minh phƣơng
Tây mới bắt đầu đƣợc phục hƣng và từ đó mới phát triển mạnh
mẽ và liên tục cho đến ngày nay.
Nhƣ vậy, trên thế giới cổ hai khu vực văn minh lớn: phƣơng
Đông và phƣơng Tây. Thời cổ đại, phƣơng Đông có bốn trung
tâm văn minh là Ai Cập, Lƣỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Thời
trung đại, cả Tây Á và Ai Cập đều nằm trong bản đồ đế quốc
Arập nên ở phƣơng Đông chỉ còn lại ba trung tâm văn minh lớn
ở Arập, Ấn Độ và Trung Quốc. Trong các nền văn minh ấy, văn
minh Ấn Độ và Trung Quốc đƣợc phát triển liên tục trong tiến
trình lịch sử.
Ngoài những trung tâm văn minh lớn còn có những nền văn
minh của các quốc gia nhỏ và của từng thời kì lịch sử nhƣ nền
văn minh sông Hồng, nền văn minh Đại Việt v.v...
Ở phƣơng Tây, thời cổ đại chỉ có nền văn minh Hy-La, đến
thời trung đại cũng chỉ có một trung tâm văn minh mà chủ yếu là
Tây Âu.
Ngoài những nền văn minh ở lục địa Á, Âu, Phi, ở châu Mỹ,
trƣớc khi bị ngƣời da trắng chinh phục, tại Mêhicô và Pêru ngày
nay đã từng tồn tại nền văn minh của ngƣời Maya (Mayas),
Adơtec (Aztèque) và Inca (Incas).
tinh thần, chứ không trình bày dàn trải tất cả mọi vấn đề của văn
minh.
Chương I
VĂN MINH BẮC PHI VÀ TÂY Á
A. VĂN MINH AI CẬP CỔ ĐẠI
I - TỔNG QUAN VỀ AI CẬP CỔ ĐẠI
1. Địa lí và cƣ dân
Ai Cập ở vùng Đông Bắc châu Phi, nằm dọc theo vùng hạ lƣu
của lƣu vực sông Nin, sông Nin bắt nguồn từ vùng xích đạo của
châu Phi, dài 6700km, nhƣng phần chảy qua Ai Cập dài 700km.
Miền đất đai do sông Nin bồi đắp chỉ rộng 15-25km, ở phía Bắc
có nơi rộng đến 50km vì ở đây sông Nin chia thành nhiều nhánh
trƣớc khi đổ ra biển. Hàng năm, từ tháng 6 đến tháng 11, nƣớc
sông Nin dâng cao đem theo một lƣợng phù sa rất phong phú bồi
đắp cho vùng đồng bằng hai bên bờ ngày càng thêm màu mỡ.
Chính vì vậy, nền kinh tế ở đây phát triển sớm tạo điều kiện cho
Ai Cập có thể bƣớc vào xã hội văn minh sớm nhất thế giới. Cũng
chính vì vậy, nhà sử học Hy Lạp Hêrôđôt nói rằng: "Ai Cập là
tặng phẩm của sông Nin".
Tuy vậy, về mặt địa hình, Ai Cập là một nƣớc tƣơng đối bị
đóng kín, phía Bắc, là Địa Trung Hải, phía Đông giáp Biển Đỏ,
phía Tây giáp sa mạc Xahara, phía Nam giáp Nubi, nơi giáp giới
ấy là một vùng núi hiểm trở khó qua lại. Chỉ có ở Đông Bắc,
vùng kênh đào Xuyê sau này, ngƣời Ai Cập cổ đại mới có thể
qua lại với vùng Tây Á.
ở Ai Cập đã trải qua hai vƣơng triều là vƣơng triều I và vƣơng
triều II và đƣợc gọi chung là thời Tảo vƣơng quốc.
Ngay từ thời kì này, ngƣời cổ Ai Cập đã biết sử dụng công
cụ bằng đồng đỏ, biết dùng cày và dùng súc vật đế kéo cày.
Ngƣời đứng đầu nhà nƣớc là một ông vua chuyên chế gọi là
Pharaông.
----------------------------*Những con số này chỉ là tương đối. Hiện nay các tác phẩm khác nhau
đã đưa ra những niên đại rất khác nhau về các thời kì lịch sử của Ai
Cập cổ đại.
b) Thời kì Cổ vương quốc (khoảng 3000-2200 TCN)
Thời kì Cổ vƣơng quốc bao gồm 8 vƣơng triều, từ vƣơng
triều III đến vƣơng triều X. Đầu thời Cổ vƣơng quốc, chế độ tập
quyền trung ƣơng càng đƣợc củng cố, kinh tế cũng phát triển
hơn trƣớc. Trên cơ sở ấy, các Pharaông đã huy động sức ngƣời
sức của để xây dựng cho mình những Kim tự tháp rất đồ sộ.
Nhƣng từ vƣơng triều V, thế lực của chính quyền trung ƣơng bắt
đầu suy giảm, đến vƣơng triều VII, nền thống nhất không duy trì
đƣợc nữa.
c) Thời kì Trung vương quốc (khoảng 2200-1570 TCN)
Thời kì Trung vƣơng quốc bao gồm 7 vƣơng triều, từ vƣơng
triều XI đến vƣơng triều XVII, trong đó, thời kì thống trị của
vƣơng triều XI và vƣơng triều XII là thời kì ổn định nhất. Nhƣng
đến năm 1750 TCN, ở Ai Cập đã nổ ra một cuộc khởi nghĩa của
dân nghèo. Từ đó Ai Cập bị suy yếu. Đến năm 1710 TCN, miền
Bắc Ai Cập bị ngƣời Híchxốt ở Palextin chinh phục thống trị
140 năm. Trong thời gian ấy, miền Nam Ai Cập cũng phải thần
phục vƣơng triều ngoại tộc ấy.
cƣ dân Ai Cập cổ đại từ rất sớm đã sáng tạo nên một nền văn
minh tinh thần vô cùng rực rỡ, trong đó, những thành tựu chủ
yếu là chữ viết, văn học, kiến trúc và các kiến thức khoa học tự
nhiên.
1. Chữ viết
Từ khi xã hội có giai cấp bắt đầu hình thành, chữ viết ở Ai
Cập đã ra đời. Chữ viết của Ai Cập cổ đại lúc đầu là chữ tượng
hình, tức là muốn viết chữ để biểu thị một vật gì thì vẽ hình thù
của vật ấy. Vì vậy, nhìn vào các bản viết chữ Ai Cập cổ đại, ta
thấy các hình vẽ nhƣ ngƣời, các loại động vật (chim, gia súc, dã
thú, côn trùng), cây cối, mặt trời, mặt trăng, sao, nƣớc, núi non
v.v...
Đối với các khái niệm trừu tƣợng hoặc phức tạp thì phải dùng
phƣơng pháp mượn ý. Ví dụ, muốn viết chữ khát thì vẽ hình con
bò đứng bên cạnh chữ nước, chữ chính nghĩa thì vẽ lông đà điểu,
vì lông đà điểu hầu nhƣ dài bằng nhau.
Tuy nhiên, hai phƣơng pháp ấy chƣa đủ để ghi mọi khái niệm,
vì vậy dần dần xuất hiện những hình vẽ biểu thị âm tiết. Những
hình vẽ biểu thị âm tiết này vốn là những chữ biểu thị một từ
nhƣng đồng âm với âm tiết mà ngƣời ta muốn sử dụng. Ví dụ,
con mắt tiếng Ai Cập là ar, do đó hình con mắt còn biểu thị âm
tiết ar.
Dần dần, những chữ chỉ âm tiết biến thành chữ cái, ví dụ, hòn
núi nhỏ đọc là ca đƣợc dùng để biểu thị phụ âm k. Tổng số chữ
tƣợng hình của Ai Cập cổ đại có khoảng 1000 chữ, trong đó số
chữ cái có 24 chữ.
Vào thiên kỉ II TCN, ngƣời Híchxốt đã học tập chữ cái của
ngƣời Ai Cập để ghi ngôn ngữ của mình. Về sau, loại chữ viết
Cập, biên soạn sách tiếng Ai Cập cổ, đặc biệt biên soạn cuốn Từ
điển chữ tượng hình Ai Cập. Nhờ đọc đƣợc chữ Ai Cập cổ,
ngƣời ta mới biết đƣợc nhiều tƣ liệu quý giá thuộc các lĩnh vực
nhƣ lịch sử, văn học, thiên văn, toán học... của Ai Cập cổ đại.
2. Văn học
Ai Cập cổ đại có một kho tàng văn học khá phong phú, bao
gồm tục ngữ, thơ ca trữ tình, các câu chuyện mang tính chất đạo
lí, giáo huấn, trào phúng, truyện thần thoại... Trong số đó,
Truyện hai anh em, Nói Thật và Nói Láo, Nói chuyện với linh
hồn của mình, Lời kể của Ipuxe, Lời răn dạy của Đuaúp, Sống
sót sau vụ đắm thuyền v.v... là những truyện tƣơng đối tiêu biểu.
Truyện Nói Thật và Nói Láo kể chuyện hai anh em, ngƣời anh
tên là Nói Láo, ngƣời em tên là Nói Thật. Nói Láo huênh hoang
rằng có một vật có thể chứa đƣợc cả núi rừng. Nói Thật không
chứng minh đƣợc nhƣ thế là nói láo nên đã bị móc mắt. Nói Thật
trở thành đầy tớ của ngƣời anh và bị đày đọa rất cực khổ. Nhƣng
có một cô gái xinh đẹp đã yêu và lấy anh chàng mù lòa và sinh
đƣợc một đứa con trai. Lớn lên, đứa con quyết báo thù cho cha.
Một hôm, nó dắt một con bò của mình đến nhà của Nói Láo. Nói
Láo muốn đổi con bò, nhƣng đứa bé không đồng ý, lại còn bịa ra
nhiều chuyện hoang đƣờng về con bò của mình. Hơn nữa, nó
còn xin các thần phán xử Nói Láo. Các thần không tin những lời
bịa đặt về con bò và nhớ lại những chuyện hoang đƣờng mà
trƣớc kia Nói Láo đã bịa đặt. Vì vậy, cuối cùng đứa bé đã đƣợc
thắng kiện.
Lời kể của Ipuxe nói về những biến động lớn lao trong xã hội
do cuộc khởi nghĩa của quần chúng năm 1750 TCN đem lại:
"Hãy xem: Sự việc hình như không bao giờ xảy ra ấy
thần Âm phủ, là Diêm vƣơng.
Cũng nhƣ loài ngƣời, các thần cũng thƣờng kết hợp với nhau
và tạo thành những thần mới. Thần không khí Su chính là kết
quả của sự kết hợp của Thiên thần Nut và Địa thần Ghép.
Về sau, cùng với sự hình thành nhà nƣớc tập quyền trung
ƣơng, thần Mặt Trời trở thành vị thần quan trọng nhất. Nơi thờ
thần Mặt Trời đầu tiên là thành Iunu, ngƣời Hy Lạp gọi là
Hêliôpôlix. Thần Mặt Trời ở đây gọi là thần Ra.
Theo truyền thuyết, thần Ra hiện hình thành một vầng
mặt trời xuất hiện từ một đóa hoa sen, từ đó mặt đất mới có
ánh sáng. Thần Ra sinh ra thần Ghép và thần Nut. Thần
Ghép bị cây cối che phủ. Trên mình thần Nut thì đầy tinh tú.
Những ngôi sao ấy di chuyển trên thân thể thần Nut. Một
hôm, thân Ra khóc, từ trong nước mắt của thần Ra đã sinh
ra loài người.
Đến khi thần Ra già, xương của thần biến thành bạc,
thịt của thần biến thành vàng, tóc biến thành đồng. Vì thần
Ra đã già nên một số thần và loài người không phục tùng
thần Ra nữa. Vì vậy, thần Ra sai nữ thần Hato hủy diệt loài
người. Khi Hato bắt đầu giết loài người, thần Ra đổi ý,
muốn ngăn thần Hato lại. Thần Ra bèn đổ mấy thùng rượu
ngon trước mặt Hato, Hato uống say rồi ngủ thiếp đi, do đó
loài người được cứu khỏi bị hủy diệt. Sau đó, thần Ra cưỡi
trên lưng thân Bò bay lên trời.
Đến thời Trung vƣơng quốc, Tépbơ (Thèbes) trở thành kinh
đô của cả nƣớc. Vì vậy, thần Mặt Trời Amôn của Tépbơ trở
thành vị thần cao nhất của Ai Cập. Thời kì này, thần Amôn cũng
đƣợc gọi là Amôn-Ra. Ngƣời Ai Cập tin rằng, hàng ngày thần
toán và trí tuệ. Thần Mặt Trăng đƣợc thể hiện dƣới hình tƣợng
một con ngƣời đầu chim hồng hạc hoặc đầu khỉ.
Ngƣời Ai Cập cổ đại cũng rất coi trọng việc thờ ngƣời chết.
Họ quan niệm rằng trong mỗi con ngƣời đều có một hình bóng
gọi là "can" (linh hồn) hoàn toàn giống ngƣời đó nhƣ cái bóng ở
trong gƣơng. Khi con ngƣời mới ra đời thì linh hồn chui vào
trong thân thể, khi con ngƣời chết thì linh hồn rời khỏi thể xác.
Từ đó, linh hồn tồn tại độc lập nhƣng con ngƣời không thể nhìn
thấy, chỉ có thể thấy đƣợc trong giấc mộng. Linh hồn tồn tại đến
khi thi thể ngƣời chết hủy nát thì mới chết hẳn. Nhƣng nếu thi
thể đƣợc bảo tồn thì linh hồn một lúc nào đó sẽ nhập vào thể xác
và con ngƣời sẽ sống lại. Chính vì quan niệm nhƣ vậy nên ngƣời
Ai Cập mới có tục ƣớp xác(1).
Người Ai Cập cổ đại tin rằng thế giới âm phủ cũng
giống như thế giới trần gian, ở đó cũng có sông Nin, thần
Ra ngự thuyền đi trên đó. Chúa tể của âm phủ là thần
Odirix. Người mới chết phải chịu sự xét xử của vị thần này.
Khi xét xử, thần Odirix ngồi trên ngai vàng, người chết
được giải đến trước mặt Thần. Thần Tốt và thần Arubix(2)
cân quả tim của người chết, đĩa cân bên kia là nữ thần chân
lí và chính nghĩa. Nếu người chết có nhiều tội thì trái tim sẽ
nặng, lập tức người chết bị một con yêu quái đến ăn thịt.
Ngƣời Ai Cập cổ đại còn thờ nhiều loại động vật từ dã thú, gia
súc, chim đến côn trùng nhƣ chó sói, cá sấu, rắn, sơn dƣơng,
cừu, mèo, hồng hạc, đặc biệt là bò mộng Apix.