Giáo trình lịch sử văn minh thế giới thời cổ trung đại phần 2 - Pdf 35

Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại

- 28 –

CHƯƠNG III : VĂN MINH TRUNG QUỐC
I. KHÁI QUÁT
1. Đòa lý.
Trung Quốc nằm ở Đông Á, phía Bắc giáp Mông Cổ, Nga, phía Tây giáp các quốc gia vùng Trung
Á, phía Nam giáp các quốc gia thuộc Đông Nam Á, n Độ, phía Đông là Thái Bình Dương.
Miền Tây phần lớn là núi rừng nên khí hậu khô hanh, chòu sự chi phối của vùng núi cao. Miền
Đông phần lớn là đồng bằng châu thổ nên khí hậu ôn hòa, chòu sự chi phối của khí hậu biển.
Hai con sông lớn:
Hoàng Hà phía Bắc có chiều dài 5.464 km tạo ra một vùng đồng bằng ven sông là cái nôi của văn
minh Trung Quốc.
Trường Giang phía Nam dài khoảng 6.300km cũng tạo nên vùng đồng bằng Giang Nam màu mỡ.
Hai con sông này còn là yếu tố quan trọng hình thành lòch sử Văn minh Trung Quốc và đường
giao thông quan trọng.
Lãnh thổ: thế kỷ XXI TCN, lãnh thổ Trung Quốc được xác đònh ở vùng Trung lưu sông Hoàng Hà.
Trong qúa trình lòch sử, lãnh thổ Trung Quốc đã phát triển ra toàn lưu vực sông Hoàng Hàvà Trường
Giang. Đến thế kỷ III, cương giới Trung Quốc phía Bắc là Vạn lý trường thành, phía Tây tới Đông Nam
Cam Túc ngày nay, phía Nam tới Hữu ngạn sông Trường Giang. Đó là một qúa trình liên tục bành trướng
mở rộng lãnh thổ. Đến thế kỷ XVIII, lãnh thổ Trung Quốc về cơ bản thì như ngày nay.

2. Dân cư.
Trung Quốc là một trong những cái nôi của loài người. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện được
dấu tích của quá trình chuyển biến liên tục từ vượn thành người. Xưa nhất là người vượn Nguyên Mưu
(1977) niên đại 1,7 triệu năm.
Người vượn Bắc Kinh (Chu Khẩu Điếm 1921) niên đại 40 vạn năm và ở nhiều nơi có đặc điểm:
trán xoải, mắt và xương hàm nhô cao, óc bằng ¾ người, biết chế tạo và sử dụng đồ đá, gỗ, săn bắt, hái
lượm, sống thành bầy ở hang động mái đá, ven suối, sông…
rìu tay.



Thời kỳ cổ đại:

- Trước thế kỷ thứ XXI TCN, lòch sử Trung Quốc được huyền thoại hóa.
+ Thời kỳ công xã thò tộc phụ hệ.
Kinh tế: di chỉ Long Sơn ( Sơn Đông) công cụ đá mài, xương, vỏ trai, cán dao liềm, khai phá đất
đai ở lưu vực Trường Giang để canh tác nông nghiệp trồng lúa nước, chăn nuôi, dùng thuyền để bắt cá,
thủ công nghiệp đồ gốm bằng bàn xoay, đồ đồng nguyên chất, trao đổi bằng vật đổi vật lấy súc vật, đồ
đồng ngụ làm vật trao đổi trung gian dẫn đến chế độ tư hữu, công xã thò tộc tan rã, Trung Quốc trước
ngưỡng cửa văn minh.
+ Truyền thuyết:
Họ Hữu Sào làm tổ trên cây, ăn lông ở lỗ.
Họ Toại Nhân phát minh ra lửa nấu chín thức ăn.
Họ Phục Hy (Tù trưởng) biết đan lưới để săn thú, bắt cá, chăn nuôi xuất hiên.
Thần Nông ông tổ nghề nông, sáng chế lưỡi cày bằng gỗ, cách cày cấy, trồng ngũ cốc, lập chợ để
trao đổi, dùng cây thuốc để trò bệnh.
Hoàng Đế là Tù trưởng ở lưu vực sông Hoàng Hà, dạy dân xây nhà bằng gạch, cách trồng dâu
nuôi tằm, dệt vải, đóng xe… có chữ viết, liên minh được nhiều bộ lạc.
Liên minh bộ lạc Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ thay nhau làm thủ lónh quân sự, chăn nuôi
trồng trọt theo thời vụ, mọi việc do bàn bạc của Hội nghò phụ lão, kể cả việc bầu thủ lónh quân sự.
- Cổ đại (thế kỷ XXI đến năm 221 TCN) Hạ, Thương, Chu.
+ Hạ (thế kỷ XXI đến thế kỷ XVII TCN) ở vùng trung lưu sông Hoàng Hà. Vũ chưa xưng Vương,
Khải con của Vũ xưng vương, kinh đô tại Am p (Sơn Đông). Bộ máy quan lại, quân đội, nhà tù xuất
hiện nhưng còn đơn giản. Các quan lại được gọi là Lục Khanh, quản lý mọi việc trong nước: Mục Khanh
(chăn nuôi), Xa Chính (xe), Bào Chính (thức ăn cho Vua)… là một bước tiến lớn về tổ chức thiết chế xã
hội, là tiêu chí để xã hội Trung Quốc bước sang giai đoạn văn minh – Vua cuối của nhà Hạ là Kiệt. Công
cụ sản xuất bằng đồng đỏ.
+ Thương (thế kỷ XVII đến thế kỷ XII TCN còn gọi là n). Thủ lónh của bộ lạc Thương là Thành
Thang ở hạ lưu sông Hoàng Hà đã lật đổ nhà Hạ lập nên nhà Thương, kinh đô ở đất Bạc (Hà Nam). Đến

thông, đẩy mạnh sản xuất, mở rộng đất đai, đàn áp các cuộc chống đối…
+ Nhà Hán (202 TCN đến 220), sau chiến tranh Hán – Sở, Lưu Bang thống nhất Trung Quốc, chú
trọng xây dựng, chỉnh đốn chính quyền, xóa bỏ luật pháp hà khắc, đình chỉ xây dựng những công trình
lớn, giảm sưu dòch, ưu đãi đối với quan lại. Thònh đạt nhất là thời Hán Vũ Đế (140 đến 87 TCN). Cuối
thời Tây Hán, các vua thường nhỏ tuổi, quyền hành tập trung trong tay họ ngoại và hoạn quan. Năm thứ 8
A.D, Vương Mãng cướp ngôi lập ra nhà Tân. Khởi nghóa nông dân bùng nổ, Lưu Tú khôi phục lại nhà
Hán, lập kinh đô ở Trường An (Đông Hán). Cuối thời Đông Hán, Trung Quốc xảy ra cục diện Tam Quốc
(Ngụy, Thục, Ngô 220 – 280).
+ 3 thế kỷ loạn lạc (220 – 581): Tam Quốc, Tấn, Nam - Bắc triều, Trung Quốc bò chia cắt, bò
người phương Bắc xâm nhập và thống trò.
+ Nhà Tùy (581 – 618), Đường (618 – 907). Dương Kiên (Tuỳ Văn Đế) thống nhất Trung Quốc,
xây dựng chính quyền Trung ương tập quyền vững mạnh bằng chính sách quân điền, giảm tô thuế, lao
dòch, thống nhất các mặt, mở khoa thi. Dương Quảng giết cha cướp ngôi, bạo tàn, gây chiến xâm lược,
bóc lột nhân dân. Nhà Tuỳ suy yếu và nguy cơ diệt vong.
Năm 618, Lý Uyên lợi dụng phong trào nông dân, lật đổ nhà Tùy lập ra nhà Đường. Thời kỳ này
nền văn hoá Trung Quốc phát triển rực rỡ. Thònh trò nhất là thời kỳ Đường Thái Tông (627 – 650) thống
kê toàn bộ ruộng đất, chính sách quân điền, chia ruộng cho dân cày cấy, khai khẩn ruộng đất hoang,
giảm nhẹ lao dòch, hình phạt… Võ Tắc Thiên cướp ngôi nhà Đường năm 690. Đường Huyền Tông (712 –
756) khôi phục và phát triển đất nước thên một thời gian rồi suy tàn. Năm 907, nhà Đường diệt vong.
+ Từ năm 907 đến năm 960, Trung Quốc bước vào thời kỳ Ngũ đại thập quốc.
+ Tống (960 đến 1279), Triệu Khuông Dẫn cướp ngôi nhà Hậu Chu lập ra nhà Tống và thống nhất
Trung Quốc vào năm 979. Trình độ văn minh Trung Quốc phát triển cao, nhiều văn bản pháp luật được

Bùi Văn Hùng

Khoa Lòch Sử


Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại


thành kiểu chữ tiểu triện (khuôn vuông, chữ dài dòng, vuông vắn, hàng lối rõ rệt còn có những hình vẽ
miêu tả văn tự).
Nội dung: Chôn nô lệ theo người chết phổ biến thời Thương, Chu có mộ đến 300 người nô lệ, gia súc bò
đem làm vật hiến tế…, nô lệ ra đồng làm việc, làm tài sản để ban thưởng… nguồn chủ yếu là tù binh, tội
đồ, con nợ.
Trải qua một quá trình cải cách, chữ Hán ngày càng được hoàn thiện (điều chỉnh hình thể mà
không thay đổi kết cấu) và tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay. Chữ viết Trung Quốc đã ảnh hưởng tới Việt
Nam, Triều Tiên, Nhật Bản.

Bùi Văn Hùng

Khoa Lòch Sử


Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại

- 32 –

3. Những thành tựu về khoa học tự nhiên và kỹ thuật.
a. Khoa học tự nhiên.
- Thiên văn học: ra đời sớm, từ thời Thương (Nhật, Nguyệt thực, sao chổi được ghi chép) xác đònh
242 năm có 37 lần Nhật thực (nay là 33 lần) trong sách Xuân Thu
Can Đức (Sở), Thạch Thân (Ng) chép 800 vì tinh tú, vò trí 120 vì tinh tú được xác đònh. Sách Can
Thạch Tinh kinh là bảng ghi chép các hành tinh xưa nhất thế giới. Ngoài ra còn ghi chép điểm đen trong
Mặt Trời, chu kỳ sao chổi 7 năm.
Trương Hành (78 – 139) là một nhà thiên văn họa tài giỏi thời Đông Hán. ng đã biết ánh sáng
của Mặt Trăng là nhận của Mặt Trời, Nguyệt thực là do Mặt Trăng đứng sau bóng của Trái Đất. Tác
phẩm “Linh Hiếu” của ông nêu ra vũ trụ là vô hạn, sự vận hành của hành tinh nhanh hay chậm là do
khoảng cách với Trái Đất gần hay xa. ng còn cho rằng thiên thể hình cầu như vỏ quả trứng mà nhân là
màu đỏ ( Trái đất). Một vòng bầu trời là 365 1/4 ngày, một nửa trên Trái Đất, một nửa dưới Trái Đất, và

Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại

- 33 –

b. Kỹ thuật
- Luyện gang thép, kỹ thuật luyện gang thép xuất hiện từ rất sớm ở Trung Quốc. Ngay từ thời Xuân
Thu – Chiến Quốc, người Trung Quốc đã luyện được các loại vũ khí sắc bén “chém sắt như bùn”. Truyên
Kinh Kha vào Tần là một ví dụ. Kỹ thuật này ngày càng đạt đến độ tinh xảo. Năm 695, Hoàng đế Võ Tắc
Thiên cho làm một cây cột trụ bằng gang có 8 cạnh, nặng 1345 tấn, trên khắc 8 chữ là Đại Chu Vạn Quốc
Công Đức Thiên Trụ; Trụ được dựng trên một cái đế gang cao 6m, chu vi 51m. Đường kính cột 3.6m, cao
31m, trên đỉnh là một tán mây bằng đồng cao 3m, chu vi 9m, đỡ 4 con rồng bằng đồng cao 3.6m, mỗi con
ngậm một hạt trai vàng).
- Làm giấy: Thời Tây Hán, người Trung Quốc đã biết dùng sơ gai làm giấy gói. Năm 105, hoạn quan
Lý Thái Luân phát minh ra giấy làm bằng vỏ cây, lưới cũ, giẻ rách… thay cho thẻ tre, lụa … Càng ngày, kỹ
thuật làm giấy càng được cải tiến làm cho chất lượng giấy tốt hơn. Kỹ thuật làm giấy truyền sang Việt
Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Từ thế kỷ VIII truyền sang ARập rồi sang châu Âu (1000 năm sau phát
minh).
- In: nghề in bắt đầu từ việc dùng con dấu để ký tên (in ấn), đến thời Hán đã khắc chữ lên bàn đá in
thành sách (thạch bản). Đến đời Đường, người ta đã khắc chữ lên gỗ để in Kinh Thánh (Bộ Kinh Đà Lani
được tìm thấy năm 1966 ở Hàn Quốc có niên đại khoảng 704 – 751), Kinh “Kim cương” có niên đại 868
trưng bày ở Bảo tàng Luân Đôn. Đầu thế kỷ XI, Tất Thăng phát minh kỹ thuật in rời bằng đất sét nung,
sau cải tiến bằng gỗ (chữ đặt lên sáp trên một cái khay bằng sắt…). Thế kỷ XIV, kỹ thuật này truyền sang
Triều Tiên, người Triều Tiên thay bằng đồng rồi truyền trở lại Trung Quốc. Năm1448, Gutenberg (Đức)
phát minh chữ rời bằng hợp kim, dùng mực dầu in Kinh Thánh. Đó chính là kỹ thuật in ngày nay.
- Thuốc súng: do các nhà luyện đan Trung Quốc tình cờ phát minh. Từ thời Đường, người ta đã biết
chế tạo thuốc súng bằng diêm tiêu + lưu huỳnh + than gỗ để làm vũ khí đốt doanh trại đối phương. Thờ
Tống, người ta đã chế tạo được một loại vũ khí là “Chấn Thiên lôi” nổ to, có sức công phá lớn. Năm 1132
phát minh ra vũ khí hình ống gọi là “hoả thương”, người Mông cổ học tập rồi truyền sang A rập làm cầu
nối sang châu u.
- La bàn: Từ thế kỷ III TCN, người Trung Quốc phát hiện ra từ tính và tính chỉ hướng của đá nam

Văn học có các thể loại tiêu biểu như Phú (Hán), Thơ (Đường), Từ (Tống), Kòch (Nguyên), tiểu
thuyết (Minh, Thanh).

5. Tư tưởng và tôn giáo.
- Âm dương gia dựa trên cơ sở của những thành tựu về thiên văn học. Phái này qui thành bát quái,
ngũ hành để giải thích nguồn gốc vạn vật: âm dương tác động sinh ra vạn vật, không điều hoà sinh ra tai
họa.
Bát quái: Càn = Trời = Cha

Khảm = nước = con trai út

Khôn = Đất = Mẹ

Ly = lửa = con gái trưởng

Chấn = Sấm = con trai trưởng

Cấn = núi = con gái thứ

Tốn = Gió = con trai thứ

Đoài = hồ = con gái út

Ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ.
Phái này là nền tảng tư tưởng ảnh hưởng toàn diện đến hệ tư tưởng mang tính truyền thống của
Trung Quốc.
- Nho gia: Người sáng lập là Khổng Tử (551-479 TCN) tên thật là Khâu, tự là Trọng Ni (người
nước Lỗ). ng đã từng làm quan Tư Khấu (giữ kho sách ở nước Lỗ). Hạt nhân tư tưởng của ông là nhân
và lễ. Ông dạy học và dòch Thi, Thư, Lễ , Nhạc. Dòch, soạn Xuân Thu (Ngũ Kinh).
Nhân là nhân giả, nhân dã: kẻ có nhân ấy là con người vậy.

nhưng bò biến mất từ thời Tần, Hán.
- Đạo gia: Người sáng lập là Lão Tử, Trang Tử phát triển thành học thuyết Lão – Trang- tư tưởng
cao rộng, uyên thâm, nội hàm triết học phong phú, ảnh hưởng sâu rộng đến tư tưởng mỹ học, khoa học tự
nhiên, tư tưởng chính trò, quan niệm luân lí truyền thống Trung Quốc.
+ Lão Tử (Đam) sống giữa thời Xuân Thu - Chiến Quốc, hấp thụ quan điểm vò ngã (vì mình),
khinh vật trọng sinh (coi thường mọi vật, trọng cuộc sống) của Dương Chu cộng với tư tưởng âm dương,
phép biện chứng của Chu Dòch, tất cả được ghi lại trong sách “Đạo đức kinh”.
+ Trang Tử: Trang Chu phát triển học thuyết của Lão Tử thành hệ thống tư tưởng.
Đạo là bản quyền của thế giới có trước trời đất, sinh ra tất cả, Đạo rất huyền diệu. Từ đó nêu lên
hai khái niệm Vô (không) và Hữu (có). Tức là vạn vật sinh ra từ hữu, hữu sinh ra từ vô. Đạo chỉ quy luật
chung của sự biến hoá sự vật.
Đức vốn có trước sự vật và nằm trong sự vật. Đạo Đức là một phạm trù thuộc vũ trụ quan sớm
nhất thế giới, khác với Nho thuộc luân lý chính trò. Từ đó khái quát một cách biện chứng quy luật thành bại, hưng – suy, sinh – tử, hoạ – phúc của xã hội, đời người.
Hạn chế: gạt bỏ, cự tuyệt khái niệm nhập thế của Nho mà theo đuổi thế giới vô vi, thanh tònh, vô
sự, vô dục, tiêu dao, đạm bạc xa lánh cuộc sống thực tại.
Đạo gia thống trò tư tưởng trong thời Tây Hán, Ng, Tấn, Đường và tồn tại trong suốt lòch sư,û bổ
sung cho triết học Nho gia: coi trọng thiên nhiên, tư tưởng tự do, ảnh hưởng đến tâm lý tri thức, thẩm mỹ
Trung Quốc.
Pháp gia: xuất hiện trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, nhằm củng cố chế độ tập quyền trung
ương của nền quân chủ chuyên chế.
Tư tưởng Pháp gia thuộc phạm trù triết học chính trò (Quản Trọng, Tử Sản, Lý Khôi, Ngô Khởi,
Thương Ưởng, Thân Bất Hại, Lý Tư, Hàn Phi tiêu biểu là sách “Hàn Phi Tử”, tập hợp tất cả, là bộ sách
kinh điển về chính trò xã hội học sớm nhất lòch sử loài người và văn hóa Trung Quốc.
Không chủ trương làm theo đời vua trước, thiện (Nho) mà hệ thống chính trò pháp, thuật, thế.
+ Pháp: pháp lệnh thành văn của quốc gia, pháp trò thay lễ trò dùng hình phạt nặng với mọi đối
tượng kể cả người quyền quý.
+ Thuật: quyền mưu không lộ ra mặt, kẻ làm chúa phải biết người thạo việc, dùng người hết trí
tuệ, dùng người hết năng lực để tâm sức vào việc quản chế bề tôi. Đối với quan đại thần thì dùng 3 biện
pháp khống chế là: chất, trấn, cố, thậm chí có thể dùng phương pháp ngụy tạo tội danh để đầu độc, ám
hại loại đối thủ.


- 37 –

CHƯƠNG IV : VĂN MINH HY – LA
I. KHÁI QUÁT.
1. Hy Lạp .
Tên gọi: trước thế kỷ VIII TCN, gọi tên các bộ lạc khác nhau. Đến thế kỷ VII TCN, người Hy Lạp
gọi tên mình là Hellenes và gọi tên nước mình là Hellas ( Hy Lạp).
a. Đòa lý.
- Vùng lục đòa Hy Lạp ở miền Nam bán đảo Ban Căng gồm ba khu vực:
+ Bắc bộ: chủ yếu là vùng rừng núi.
+ Trung bộ: được nhăn cách bởi đèo Tecmopin (gần sát bờ biển phía đông) có nhiều rừng núi
nhưng cũng có đồng bằng quan trọng là Attích và Beoxi (có nhiều thành phố quan trọng nhất là Aten).
+ Nam bộ: được ngăn cách bằng eo đất Coranh là một bán đảo hình bàn tay 4 ngón (pêlôpônedơ)
là một vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu (có thành phố quan trọng là Xpac.
- Vùng bờ biển gồm Tây bán đảo Bancăng nhiều hải cảng, các đảo trên biển Êgiê lớn nhất là đảo
Crét nằm ở phía nam của bán đảo Bancăng, biển giê sóng yên biển lặng tạo thành cầu nối cho các cư
dân đi biển.
- Vùng Tiểu Á là cầu nối liền Hy Lạp đến phương Đông có nền văn minh phát triển sớm.
- Tài nguyên: Rừng núi, bờ biển, các đảo là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển công thương
nghiệp. Khoáng sản phong phú về chủng loại, khá giàu về trữ lượng…
- Khí hậu: Biển.
b. Cư dân.
+ Phần lớn là dân nhập cư.
+ Êôliêng cư trú chủ yếu ở Ban Căng và đồng bằng Bêôxi.
+ Iôliêng: cư trú chủ yếu ở Attích và ven Tiểu .
+ Akêăng: cư trú chủ yếu ở Bắc Pêlôpônedơ.
+ Đôriêng: cư trú chủ yếu ở đảo Cret và các đảo Êgiê.

2. La Mã (Roma) .


- Văn hoá Crét – Missen: ở vùng biển giê (Crét) và Misen (Pêlôpôledơ). Theo kết qủa khảo cổ
học, người ta đã phát hiện các cung điện, thành quách và nhiều hiện vật, chữ viết xuất hiện vào đầu thiên
nhiên kỷ III đến thế kỷ XII TCN. Chủ nhân là người Akêăng (Nhà nước ra đời và lớn mạnh nhất là thế
kỷ XVI – XII TCN). Sau đó bò người Đôriêng tiêu diệt.
- Thời kỳ Hôme (XII – IX TCN), phản ánh trong hai tập thơ của Hôme (Iliat và đixê) . Tập thơ
mô tả cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp và Tơroa, nhưng lại được viết vào thời kỳ này để suy ra sinh hoạt,
phong tục, tập quán, quan hệ xã hội, kinh tế của Hy Lạp thế kỷ XII – IX. Thời kỳ này, xả hội của người
Đôriêng ở giai đoạn cuối nguyên thuỷ, chưa có nhà nước mà là dân chủ quân sự, đứng đầu là Basileus
được Đại hội Nhân dân bầu ra, có Hội đồng Trưởng Lão ( tộc trưởng thò tộc).
- Thời kỳ thành bang là thời kỳ quan trọng nhất của lòch sử Hy Lạp. Sự phân hoá xã hội diễn ra
mạnh mẽ vào thế kỷ thứ VIII TCN hình thành 3 bộ phận chủ yếu là qúi tộc, bình dân, nôlệ dẫn đến nhà
nước ra đời có một thành phố trung tâm (Thành bang – polis). Quan trọng nhất là 2 thành bang:
+ Xpac ở Nam bán đảo pêlôpônedơ, phát triển nông nghiệp sử dụng đồ sắt làm công cụ sản xuất
và vũ khí. Nhà nước cộng hoà q tộc 2 vua, Hội đồng Trưởng Lão (28 người từ 61 tûi trở lên), Hội nghò
Nhân dân (mọi nam giới từ 30 tuổi trở lên). Quân đội gồm mọi nam công dân được huấn luyện kỹ càng.
+ Aten: Ở miền trung của Hy Lạp. Nơi đây có nhiều khoáng sản và hải cảng phát triển công
thương nghiệp. Thể chế nhà nước theo chế độ quân chủ chủ nô nhưng xã hội Aten có tới 4/5 là nô lệ và
ngoại kiều. Năm 478 TCN, Aten thành lập khối đồng minh quân sự Đê Lốt để đối phó với khối đồng
minh Pêlôpônedơ.
Thế kỷ V TCN, cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư diễn ra (490 – 480 TCN). Thắng lợi thuộc về
Hy Lạp. Một chiến binh Hy Lạp là Philipit đã chạy từ cánh đồng Maratông về Aten để thông báo tin
thắng trận. Kỷ niệm sự kiện này, tại Đại hội thể thao thế giới lempic lần thứ nhất năm 1896 đã đưa môn
chạy Maratông vào chương trình thi đấu chính thức của Đại hội.
Cuộc chiến tranh pêlôpônedơ (431 – 404 TCN), Aten thất bại, phải giải tán đồng minh Đê Lốt,
bãi bỏ chế độ dân chủ chủ nô.

Bùi Văn Hùng

Khoa Lòch Sử

Đông La Mã ( Bidantium) bò Thổ Nhó Kỳ tiêu diệt vào năm 1453.

2. Văn học .
Phong phú về thể loại nhất là thần thoại, thơ, kòch.
- Thần thoại: “Gia phả các thần” của Hêđiot, Caot( chaos) hỗn mang -> thần Đất Gaia, gắn liền
với các thành phần kinh tế. Thần Ái tình Erốt.
Về sau, người Hy Lạp sáng tạo ra môt hệ thống các thần, chúa tể là thần Dớt ( zeus), thần
Prômete là thần thợ rèn (sáng tạo văn minh), thần Đêmete (nữ thần nghề nông) thần Điônixot (trồng nho
và làm rượu), thần Apôlô (ánh sáng và nghệ thuật), thần Ơtecpô (âm nhạc), thần Tali (hài kòch), thần
Cliô( lòch sử)… Các thần đều gắn liền với cuộc sống của con người, ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn học
nghệ thuật.
Người La Mã tiếp thu toàn bộ thần thoại Hy Lạp và đặt tên khác cho các thần:
Dớt thì đổi thành Juppitte,
Hera -> Juy Nông
Nữ thần Đêmêtê -> Xêrét
Aphrôdit -> Vênuyt (sắc đẹp và tình yêu)
Pôđêiđông -> Neptuyn ( thần biển).
Héc Méc -> Mécquya ( buôn bán).

Bùi Văn Hùng

Khoa Lòch Sử


Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại

- 40 –

Hêraclet -> Hecquyn (sức mạnh).
- Thơ : Iliat và đixê của Hôme (nhà thơ mù ở tiểu Á sống vào giữa thế kỷû thứ IX TCN). Truyện

ký” (Annales). Từ cuối thế kỷ III TCN, ở La Mã xuất hiện các nhà sử học lớn như Nơviut, Phabiut,
Catông, Pôlibiut, Titut Liviut, Taxitut, Plutac …
Nơviut là nhà soạn kòch kiêm sử gia, tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là “Cuộc chiến tranh
Puních”.
Phabiut (sinh 254 TCN) viết lòch sử La Mã trong thế kỷ của ông bằng tiếng Hy Lạp.

Bùi Văn Hùng

Khoa Lòch Sử


Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại

- 41 –

Catông (234-149 TCN), tác phẩm “nguồn gốc” gồm 7 chương: 3 chương đầu về lòch sử Hy lạp,
còn lại là lòch sử La Mã, phương pháp theo vấn đề không theo niên đại.

4. Nghệ thuật.
Nền văn minh Hy – La cống hiến cho nhân loại những giá trò nghệ thuật vó đại, thể hiện ở các
mảng kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ.
- Kiến trúc: thể hiện ở đền miếu, sân vận động, rạp hát, chủ yếu thời kỳ thành bang tiêu biểu là:
+ Đền Pactênông ở Aten, được xây dựng vào thế kỷ VI TCN bằng đá trắng xung quanh có hành
lang, tường dài 276m , có những phù điêu miêu tả sinh hoạt, thần thoại Hy lạp, thờ thần Atêna.
+ Đền thần Dớt ở Ôlempơ, các đền thờ ở đảo Xixin cũng được thiết kế, xây dựng theo môtip của
đền Pactênông.
Người La Mã kế thừa và sáng tạo nền nghệ thuật kiến trúc của Hy Lạp, thể hiện trong các công
trình kiến trúc như tường thành, miếu đền, cung điện, rạp hát, khải hoàn môn, cầu đường, ống dẫn nước
bằng gạch, cột kỷ niệm, đá cẩm thạch, nổi tiếng nhất là đền Păngtêông hình tròn, mái tròn kỳ vó.
- Điêu khắc: nhiều tên tuổi lớn như Mirông, Phiđiat, Pôliclet.

Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại

- 42 –

- Ơclit (Euclid khoảng 330-275 TCN) lãnh đạo nhóm các nhà toán học ở Alếchxrơ tổng kết
thành tựu “ toán học sơ đẳng”. ng là tác giả đònh đề Ơclit là cơ sở môn hình học.
- Acsimét (Archimede 287-212 TCN) quê ở Xiraquydơ, ông tính được số π chính xác, thể tích,
diện tích toàn phần nhiều hình khối, phát minh lực học, nguyên lý đòn bẩy, đường xoắn, ròng rọc, bánh
răng cưa, thuỷ lực học.
- Aristac (Aristarque 310- 230 TCN) người đảo Xamốt. Ông nêu lên thuyết Nhật tâm, tính toán
khá chính xác thể tích Mặt Trời, Trái Đất, Mặt Trăng và khoảng cách của các thiên thể. Phát minh quan
trọng nhất của ông là nêu lên thuyết Nhật tâm: Trái Đất tự qua xung quanh nó và quay xung quanh Mặt
Trời.
- Eratôxten (Eratosthene 284-192 TCN) ở Xiren (Tây Ai Cập). ng là nhà khoa học giỏi nhiều
lónh vực, từng phụ trách Thư viện Alếchxanđre. ng tính được độ dài của vòng kinh tuyến trái đất là
39.700km và góc được tạo nên bởi hoàng đạo và xích đạo.
- Pliniut (Plinius 23-79) với tác phẩm “Lòch sử tự nhiên” dài 37 chương gồm mọi lónh vực khoa
học thời bấy giờ. Tác phẩm được xem là bộ bách khoa toàn thư của La Mã cổ đại.
- Clốt Ptôlêmê (Claude Ptolémee) sinh trưởng ở Ai Cập, tổng kết thiên văn học ở Ai Cập, Lưỡng
Hà, Hy Lạp thành sách “Sách tổng hợp”. ng cho rằng Trái Đất hình cầu và là trung tâm vũ trụ (thụt lùi
so với Pitago và Acsimet) chi phối suốt thời kỳ trung cổ. ng còn xuất bản tác phẩm “Đòa lý” gồm 8
chương, bản đồ thế giới: Bắc cực là Xcăngđinavi, Nam cực là sông Nil, Đông là Trung Quốc, Tây là Bồ
Đào Nha.
- Hipôcrat (Hippocrate 469-377 TCN) là thầy thuốc Hy Lạp, được xem là thuỷ tổ của Y học
phương Tây. Phương pháp chữ bệnh của ông là phải dùng các biện pháp uống thuốc hoặc mổ xẻ để chữa
trò.
- Hêcrôpin ( Hecropile) giải phẫu học: não, xem mạch.
- Hêraclit (Heraclide) dùng thuốc mê để giải phẫu, mãi đến năm 1860 mới tái áp dụng.
- Claudiut Galênut (Claudius Galeus II-III) nêu lên phương pháp chữa bệnh mới.


logic học.
- Platông (Platon 427-347 TCN), hạt nhân là ý niệm và linh hồn bất diệt: thế giới xung quanh ta
chỉ là sự phản ánh không đầy đủ của ý niệm, ý niệm mới là chân lý nhưng ý niệm đó phải có một lực tác
động từ một lực lượng siêu nhiên.
- Arixtốt (Aristote 384-322 TCN) là một triết gia uyên thâm về mọi mặt, người đã sáng lập ra môn
logic học. Quan điểm triết học của ông là vật chất tồn tại vónh viễn nhưng nguồn gốc của mọi vận động là
thượng đế, động lực bất động ban đầu. Ông để lại 150 tác phẩm, tư tưởng ảnh hưởng lâu dài, nhất là Triết
học Kinh viện của Tây u trung đại.

7. Luật pháp.
a. Hy Lạp.
- Bộ luật đầu tiên của Hy lạp là Luật Đracông. Nội dung cơ bản của Bộ Luật quy đònh các cơ quan
và quyền lực của nó trong bộ máy Nhà nước Aten.
+ Hội đồng quý tộc.
+ Quan chấp chính.
+ Đại hội công dân.
Tính chất của Nhà nước Aten là dân chủ nhưng quý tộc vẫn là tầng lớp có thế lực nhất. Năm 621
TCN, Quan chấp chính Đracông soạn thảo Bộ Luật này, khắc nghiệt nhất là tội ăn cắp bò xử tử, khắc trên
bia đá để mọi người biết.
- Pháp lệnh Xô Lông ( solon) ban bố năm 549 TCN.
+ Ruộng đất: trả lại ruộng đất cho nông dân đã thế chấp vì nợ, qui đònh mức chiến hữu tối đa.
+ Nô lệ: trả lại tự do cho nô lệ vì nợ, cấm lấy thân mình hoặc vợ con ra để đản bảo vay trả.
+ Phân chia đẳng cấp: 1) từ 500 Mêđim lúa mì/năm (52,5 lít/Mêđim) trở lên thì được giữ các
chức vụ như Quan chấp chính, Hội đồng Trưởng Lão, gia nhập kỵ binh, chuyển tiền để xây dựng hạm đội,
tế lễ. 2) từ 300 Mêđim được mua một con ngựa chiến, giữ chức vụ cao trong chính quyền và tham gia kỵ
binh. 3) 200Mêđim được giữ một số chức vụ và tham gia bộ binh nhẹ.
+ Thành lập hội đồng 400 người và toà án nhân dân từ 4 bộ lạc. Mỗi bộ lạc 100 người song song
với Hội đồng Trưởng Lão (dân nghèo được tham gia bồi thẩm, toà án nhân dân). Pháp lệnh về quyền
chuyển nhượng tài sản, cấm xuất khẩu nông phẩm, khuyến khích sản xuất rượu nho, ôliu, hạn chế quyền
lợi q tộc, quyền lợi nhân dân được tăng lên, chấm dứt việc bắt dân tự do thành nôlệ, phát triển công

- Chức năng của các cơ quan nhà nước và quyền công dân ( 4 cơ quan Nhà nước).
- Chính sách lương bổng và phúc lợi.
b. La Mã .
- Luật 12 bảng:
Năm 454 TCN, Viện Nguyên Lão La Mã cử 3 người sang Hy Lạp nghiên cứu luật pháp. Năm 452
TCN, Viện Nguyên Lão La Mã thành lập Ủy ban 10 người soạn thảo bộ luật khắc trên 10 bảng đồng.
Năm 450 TCN, Viện Nguyên Lão La Mã cử thêm 3 uỷ viên bình dân soạn thêm hai bảng.
Nội dung của Luật 12 bảng về cơ bản là bảo vệ tính mạng, tài sản mọi công dân, trong đó bảng
3 bênh vực chủ nợ… ra lệnh xử tử kẻ nào xúi dục kẻ thù tấn công La Mã hoặc nộp người La Mã cho kẻ thù.
Quy đònh xử tội trộm cắp, quan hệ gia đình.
Năm 445 TCN, cho phép bình dân được kết hôn với q tộc. Thời cộng hoà, cơ quan lập pháp là
Đại hội Nhân dân, cơp quan hành pháp là Viện Nguyên Lão như mệnh lệnh của nguyên thủ quốc gia.
Trong thời Quân chủ, luật pháp La Mã tiếp tục được cải tiến cho phù hợp với các quan hệ về tài
sản, nhân thân, hôn nhân và gia đình … ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền luật pháp châu u cận hiện đại.

8. Đạo Kitô.
Thời kỳ đầu, người La Mã theo tín ngưỡng đa thần giáo. Năm 63 TCN, La Mã chinh phục
Palextin, quê hương của Đạo Do Thái (cựu ước). Trong thời kỳ này, ở Palextin xuất hiện một tôn giáo mới
là Đạo Kitô. Người sáng lập ra Đạo Kitô là Giêxu (Jesus Christ) sinh ra ở Betleem (Palextin) vào khoảng
năm 5 hoặc 4 TCN .
Năm 30 tuổi, ông vừa truyền đạo vừa chữa bệnh, khuyên mọi người phải nhẫn nhục nơi trần gian
để hưởng hạnh phúc vónh viễn nơi Thiên Đàng. Đồng thời lên án sự giàu có, người giàu có muốn lên thiên
đàng như con lạc đà đi qua lỗ kim.
Juda là môt tín đồ, đã bán ông lấy 12 đồng bạc trắng. ng bò toà án Do Thái xử đóng đinh lên cây
thập ác ở núi Canve gần Giêrudalem. Sau 3 ngày chết ông sống lại tiếp tục thuyết giáo trong 40 ngày sau

Bùi Văn Hùng

Khoa Lòch Sử


phát triển qua 3 giai đoạn là lao dòch, sản phẩm và tô tiền.
- Từ thế kỷ XI, tiền tệ ra đời dẫn đến sự phát triển kinh tế hàng hoá dần dần phá vỡ kết cấu kinh
tế tự nhiên phong kiến. Thành thò ra đời với bộ phận cư dân mới làm cơ sở xã hội và kinh tế là tầng lớp
thò dân. Các thành thò đầu tiên ở châu u ra đời ở Italia như Vênêxia, Phirenxê, Giênôva, Milanô,
Pida…và ở các nước Tây u. Các thành thò độc lập trở thành cộng hoà tự trò.
- Mầm mống tư bản chủ nghóa xuất hiện ở thành thò và ngày càng phổ biến làm cho quan hệ
phong kiến tan rã.
- Đạo kitô đóng vai trò quan trọng trong lónh vực chính trò, văm hoá giáo dục của các quốc gia
phong kiến châu u. Uy quyền của Giáo hội La Mã ngày càng lớn.

II. VĂN HOÁ TÂY ÂU TỪ THẾ KỶ VI – XIV.
1. Ảnh hưởng của Giáo hội La Mã đối với văn hoá Tây Âu.
- Khi các tộc người phương Bắc xâm nhập Tây La Mã, trình độ văn hoá của họ rất thấp, họ không
chú ý gì đến việc bảo tồn các giá trò văn minh truyền thống Hy – La.
- Mọi mặt của nền văn minh bò phá huỷ trừ tu viện, nhà thờ của Đạo Kitô là còn giữ lại được một
số thành tựu của nền văn hoá cổ đại.
- Giáo hội duy trì trường học đào tạo con người phục vụ cho mình và xã hội. Trong khi người
German hầu hết là mù chữ, không chú ý đến văn hoá giáo dục. Nội dung chương trình đào tạo trong nhà
trường chủ yếu hướng về mục tiêu đó. Thần học được suy tôn là bà chúa của khoa học. Các môn học khác
gồm ngữ pháp, tu từ học, logic học, số học, hình học, thiên văn học và âm nhạc được gọi là “ Bảy môn
nghệ thuật tự do” bổ trợ cho thần học.

2. Sự thành lập các trường Đại học.
- Đầu tiên là trường học của các thành thò nhằm đào tạo nhân tài phục vụ yêu cầu phát triển kinh
tế của thò dân. Từ các trường này phát triển thành trường đại học. Trường đại học đầu tiên là Bôlôna (Ý)
ra đời vào thế kỷ thứ XI mà tiền thân của nó là Trường Luật Bôlôna.
- Sang thế kỷ thứ XII, XIII, nhiều trường đại học khác đã lần lượt xuất hiện như Trường Đại học
Pari, Ooclêăng ở nước Pháp, Trường Đại học cxphớt (Oxford), Kembrít (Cambridge) ở nước Anh,
Trường Đại học Xalamanca ở Tây Ban Nha, Trường Đại học Palécmô ở Italia… Đến cuối thế kỷ XIV ở
chấu u đã có tất cả trên 40 trường đại học.

Phái Duy danh (Nominalisme) cho rằng khái niệm chung cho tư duy con người sáng tạo ra, là tên
gọi của các vật thể riêng lẻ và các vật thể riêng lẻ có trước khái niệm chung (có yếu tố duy vật).
Phái Duy thực (Réalisme) cho rằng trước khi có vật thể nào đó thì khái niệm về vật thể ấy đã tồn
tại, đã có thực rồi (duy tâm hoàn toàn).
Giáo hội La Mã thường đề cao Duy thực, ngược đãi Duy danh. Thế kỷ XIV, các nhà Duy thực
thường chỉ biện hộ cho giáo lý của Đạo Thiên chúa mà không nghiên cứu về khoa học tự nhiên và đấu
tranh mạnh mẽ với chủ nghóa nhân văn.

4.Văn học.
Văn học Tây u thời kỳ trung đại bao gồm văn học dân gian, văn học nhà thờ. Các thể loại tiêu
biểu là thơ, kòch, truyện.
- Văn học kỵ só là dòng văn học truyền miệng của giới q tộc châu u. Trong thời kỳ trung đại, ở
châu u có một đội ngũ những người chuyên kể chuyện thuê trong các lâu đài của Lãnh chúa. Nội dung
là ca ngợi lòng ngoan đạo, trung thành… của giới kỵ só. Tiêu biểu là truyện Trixtăng và Idơ, Bài ca
Rôlăng, bài ca Xít, bài ca Nibêlunghen…
- Văn học thành thò ra đời vào thế kỷ thứ XII, khi tầng lớp thò dân đang ngày một lớn mạnh. Dòng
văn học này bao gồm dân ca, truyện dân gian, nội dung mang tính chất chống phong kiến, giáo hội Thiên
chúa. Tiêu biểu là các tác phẩm: Di chúc của con lừa, Thầy lang vườn, Truyện con cáo…
- Kòch cũng là một thể loại văn học mang tính hài hước, châm biếm. Tiêu biểu là vở Rôbanh và
Mariông, Chàng trai và cô gái chăn cừu…

Bùi Văn Hùng

Khoa Lòch Sử


Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại

- 48 –


Tiểu thuyết:
Đại biểu là Bôcaxiô (1313-1375) nhà văn Italia với tác phẩm nổi tiếng
vạch thời đại trong lòch sử văn học châu u.

“ Mười ngày” có tính chất

Rabơle (1494-1553), tác phẩm nổi tiếng là Gácgăngchuya và Păngtaguyen.
Xecvăngtét (1547-1616) là nhà văn lớn người Tây Ban Nha. Tác phẩm nổi tiếng của ông là Đông
Kysốt.
Kòch:
Đại biểu ưu tú nhất là W. Sêchxpia (1564-1616). Kòch tác gia người Anh, đại diện cuối cùng của
trào lưu văn hoá Phục hưng. ng là tác giả củ a nhiều vở kòch nổi tiếng như Rômêô và Giuliet, Hămlet,
tenlô, Vua Lia…
* Nghệ thuật:

Bùi Văn Hùng

Khoa Lòch Sử


Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại

- 49 –

Phirenxê là nơi xuất phát đầu tiên của nền nghệ thuật thời Phục hưng. Các đại biểu ưu tú là
Giôttô (1266-1337), Maxasio (1401-1428), Đônatenlô (1386-1466), Vêrôsiô (1435-1488), Bốttixenli
(1444-1510)…
Đặc điểm chung của nền nghệ thuật thời kỳ này là tuy đề tài vẫn khai thác trong kinh thánh và
thần thoại nhưng nội dung thì hoàn toàn mang tính hiện thực.
Đại biểu ưu tú nhất là Lêônácđô đờ Vanhxi (1452 – 1519), ông là một nhà bách khoa của Italia.


Chống lại quan niệm của Giáo hội Thiên chúa về con người và cuộc sống trần gian.

-

Chống những quan điểm phản khoa học và chủ nghóa duy tâm.

-

Đề cao tinh thần dân tộc, tình yêu đối với tổ quốc và tiếng nói của dân tộc mình.

Ngoài ra, các nhà nhân văn chủ nghóa thế kỷ XVI cũng đã bắt đầu nhận thấy và phê phán những
mặt trái của xã hột tư sản đang xuất hiện.

Bùi Văn Hùng

Khoa Lòch Sử


Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại



- 50 –

Phong trào cải cách tôn giáo:

Trước sự thối nát của Giáo hội La Mã và sự tha hoá của giới tăng lữ Thiên chúa giáo, một số nhà
tư tưởng ở Tây u đã đề xướng phong trào cải cách tôn giáo. Đại biểu ưu tú cho phong trào này là:
Uyclip (1320 – 1384), giáo só, giáo sư của Trường Đại học xphớt (Anh) là người đề xướng cải

năm 1493,1498,1502, ông tiếp tục khảo sát lục đòa mới nhưng vẫn khẳng đònh đó là n Độ. Vespuri
Amerigô, mộy nhà hàng hải khác cũng đã 4 lần khảo sát lục đòa này vào các năm 1497,1499,1501,1503
và khẳng đònh đây là lục đòa mới – American.
- Vaxcô Đơ Gama dẫn đầu đoàn thám hiểm gồm 3 thuyền và 160 thuỷ thủ, men theo bờ biển châu
Phi đến được n Độ vào ngày 20/5/1498. Bồ Đào Nha đã độc chiếm con đường này trong vòng 18 năm
sau đó.

Bùi Văn Hùng

Khoa Lòch Sử


Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại

- 51 –

- Magienlăng dẫn đầu đoàn thám hiểm gồm 5 thuyền và 265 thuỷ thủ khởi hành từ Tây Ban Nha
vào ngày 20/9/1519. đoàn thám hiểm đã vượt Đại Tây Dương, khám ohá và đặt tên cho Thái Bình
Dương.
Ngoài ra còn rất nhiều những phát kiến đòa lý khác trong suốt thời kỳ tồn tại của chủ nghóa thực
dân phương Tây.
* Kết qủa:những phát kiến đòa ký đã tìm ra lục đòa mới, đại dương mới, những con đường biển
mới, mở ra nhữnh thành tựu mới cho văn minh nhân loại như tiếp xúc giao lưu văm hoá giữa các nền văn
minh, phát triển kinh tế …tuy nhiên nó cũng làm xuất hiện chế độ thực dân và nạn buôn bán nô lệ da đen
tàn bạo.

Bùi Văn Hùng

Khoa Lòch Sử


chúng ta. Hội nhập cũng là phát huy thế mạnh, ưu điểm của ta ra bên ngoài để góp phần vào sự phát
triển chung của nhân loại

Bùi Văn Hùng

Khoa Lòch Sử



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status