Lịch sử văn minh thế giới thời cổ trung đại bùi văn hùng, đại học đà lạt, 2004 - Pdf 13


TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
F 7 G
GIÁO TRÌNH
LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
THỜI CỔ TRUNG ĐẠI BÙI VĂN HÙNG
KHOA LỊCH SỬ
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 2 –
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
4I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA MÔN HỌC
4II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MÔN HỌC.

1. Các giai đoạn lòch sử Cổ Trung đại Trung Quốc và sự phát triển của các thiết chế chính trò – xã
hội.
29
2. Chữ viết 31
3. Những thành tựu về khoa học tự nhiên và kỹ thuật 32
4. Văn học nghệ thuật. 33
5. Tư tưởng và tôn giáo. 34
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 3 –
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử
CHƯƠNG IV : VĂN MINH HY – LA 37
37I. KHÁI QUÁT.
1. Hy Lạp 37
2. La Mã (Roma) 37
38II. NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH VỀ VĂN MINH.
1. Sơ lược lòch sử Hy Lạp, La Mã 38
2. Văn học . 39
3. Sử học 40
4. Nghệ thuật 41
5. Khoa học tự nhiên . 41
6. Triết học 42
7. Luật pháp. 43
8. Đạo Kitô 44
CHƯƠNG V : VĂN MINH PHƯƠNG TÂY THỜI TRUNG ĐẠI 46
46I. KHÁI QUÁT.
46II. VĂN HOÁ TÂY ÂU TỪ THẾ KỶ VI – XIV.
1. Ảnh hưởng của Giáo hội La Mã đối với văn hoá Tây Âu. 46
2. Sự thành lập các trường Đại học 46

* Từ những thành tựu mà nhân loại đã đạt được, sinh viên có ý thức tôn trọng và kế thừa thành tựu
mà loài người đã để lại dẫn đến sự hoàn thiện phong cách ứng xử của sinh viên là ứng xử của người có
trình độ văn hóa cao, nên cần có ý thức xây dựng quan điểm về chân, thiện, mỹ để từ đó tỏa ra các thế hệ
sau.
* Nghiên cứu về Lòch sử văn minh nhân loại cũng là điều kiện để liên hệ quá trình phát triển của
văn minh dân tộc ta nhằm so sánh và tìm ra những vấn đề cần kế thừa, tiếp nhận những điều hay của văn
minh nhân loại và thấy được dân tộc ta cũng góp phần một cách xứng đáng vào sự phát triển chung ấy
làm niềm tự hào dân tộc, xem xét quá trình hội nhập vào văn minh thế giới (nhận, cho).
Tóm lại: Việc triển khai môn học Lòch sử văn minh thế giới trong chương trình đào tạo của các
trường đại học trong cả nước đã góp phần Đào tạo ra những sinh viên (đội ngũ trí thức của đất nước) có
tầm hiểu biết về văn minh nhân loại để xây dựng một nền văn minh nước ta theo kòp tiến độ phát triển
chung của nhân loại.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MÔN HỌC.
1. Khái niệm văn minh – văn hoá:
- Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là
trạng thái phát triển cao của nền văn hoá. Trái với văn minh là dã man. (theo PGS. Nguyễn Gia Phu).
- Văn hoá là tổng thể những giá trò vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình
lòch sử.
Tiếng Anh: văn hoá là culture = way of life (cách sống) ~ Civilization (văn minh).
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 5 –
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử
Nhận xét: đây không phải là hai khái niệm đối lập nhau nhưng cũng không là khái niệm trùng
khớp với nhau.
Có thể biểu diễn hai khái niệm trên bằng một sơ đồ:

văn
minh văn hoá

- Cổ trung đại: là lòch sử văn minh mỗi khu vực, mỗi quốc gia riêng biệt, tuy nhiên có những mối liên
hệ song chưa sâu sắc. Một số nền văn minh tiêu biểu như: Ai Cập, Lưỡng Hà, n Độ, Trung Quốc, A
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 6 –
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử
Rập, Hy Lạp, La Mã. Nền văn minh phương Đông thời kỳ cổ trung đại là nền văn minh nông nghiệp, nền
văn minh của các con sông (các nền văn minh đều xuất hiện ở lưu vực các con sông lấy nông nghiệp làm
nền tảng…).
- Cận hiện đại: bắt đầu từ các Phát kiến đòa lý, tạo ra mối liên hệ giữa các châu lục, trên cơ sở duy trì
tính riêng rẽ nhưng bắt buộc phải tác động qua lại lẫn nhau (xu hướng chung) dẫn đến văn minh công
nghiệp và hậu công nghiệp (yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội).
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 7 –
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử

CHƯƠNG I. VĂN MINH BẮC PHI VÀ TÂY Á
I. VĂN MINH AI CẬP CỔ ĐẠI.
1. Tổng quan về Ai Cập cổ đại
- Đòa lý:
+ Ai Cập cổ đại nằm ở khu vực Đông Bắc châu Phi, Bắc là Đòa Trung Hải, Đông là Biển Đỏ,
Tây là Sa mạc Sahara, Nam là Nubi hiểm trở, Đông Bắc là Kênh đào Xuyê (nối Đòa Trung Hải với Biển
Đỏ thông ra Ấn Độ Dương để qua lại Tây Á)
+ Đòa hình Ai Cập được chi phối bởi sông Nil. Ai Cập nằm dọc theo khu vực hạ lưu sông Nil.
Sông Nil chia làm hai phần là Thượng và Hạ Ai Cập. Ai Cập ngày nay chủ yếu nằm ở vùng Hạ Ai Cập.
Sông Nil khởi nguồn từ xích đạo và chảy theo hướng Nam – Bắc trên chiều dài khoảng 6700km. Sông Nil
chia làm nhiều nhánh khi đổ ra biển đã tạo ra một đồng bằng rộng lớn hình tam giác châu có chiều ngang

cày và súc vật để kéo cày.
• Cổ vương quốc: (3000 – 2200 TCN)
Lòch sử Ai Cập thơì kỳ này gồm 8 Vương triều ( III –X). Chính quyền trung ương tập quyền
ngày càng được củng cố, các Pharaông đã xây dựng nhiều kim tự tháp đồ sộ, Từ vương triều V, thế lực
của chính quyền trung ương bò suy giảm nghiêm trọng và đến vương triều VIII Ai cập bắt đầu bò phân rã.
Kinh tế tiếp tục phát triển tạo ra nguồn của cải vật chất dồi dào…
• Trung vương quốc: (2200 – 1570 TCN )
Lòch sử Ai Cập thời kỳ này gồm 7 Vương triều (XI – XVII). Thời kỳ đầu từ vương triều XI –
XII khá ổn đònh. Năm 1750 TCN, khởi nghóa nô lệ và dân nghèo bùng nổ làm sụp đổ vương triều của
Pharaông. Đến năm 1710 TCN, miền Hạ Ai Cập bò người Hích Xốt ở vùng Palextin chinh phục và thống
trò 140 năm gồm cả miền Nam Ai Cập.
Kinh tế vẫn tiếp tục phát triển với công cụ bằng đồng thau xuất hiện.
• Tân vương quốc: (1570 – 1100 TCN )
Lòch sử Ai Cập thời kỳ này gồm 3 Vương triều (XVIII – XX). Sau 140 năm bò nô dòch và thống trò,
năm 1570 TCN, người Ai Cập đã nổi dậy khởi nghóa đánh đuổi người Hích Xốt, khôi phục quyền lực của
các Pharaông. Ngay từ đầu, vương triều XVIII đã mở các cuộc chiến tranh chinh phục được Xiri, Fênixi,
Palextin, Libi, Nubi …. Do thế lực tôn giáo A Môn ( thờ thần mặt trời quá mạnh) nên Pharaon Ichnatôn đã
tiến hành cải cách tôn giáo, đổi thờ thần mặt trời A Tôn. Nhà nước trung ương tập quyền củng cố và phát
triển mạnh mẽ.
Kinh tế tiếp tục phát triển với công cụ sản xuất bằng đồng thau được sử dụng rộng rãi, đồ sắt xuất
hiện.
• Thời kỳ Ai Cập bò ngoại tộc thống trò (X – I TCN )
Từ thế kỷ X, Ai Cập bò chia cắt và bò ngoại tộc thống trò. Năm 525 TCN, Ai Cập bò Batư (Tây )
xâm lược và thống trò. Năm 332 TCN, Ai Cập bò thuộc đế quốc Makêđônia thôn tính, sau đó thuộc sự cai
quản của vương triều Ptôlêmê. Từ năm 30 TCN Ai Cập là một tỉnh của đế quốc La Mã.
b. Chữ viết
- Xuất hiện rất sớm cùng với sự ra đời của nhà nước.
Chữ viết Ai Cập là chữ tượng hình, tức là dùng hình vẽ sự vật để biểu thò chữ viết. Ví dụ: muốn
viết chữ bò thì người Ai Cập vẽ hình con bò. Trên những bản văn tự được tìm thấy, người ta đã rất ngạc
nhiên về các hình vẽ của người Ai Cập cổ đại.

phẩm tiêu biểu như Truyện hai anh em Nói Thật và Nói Láo, Nói chuyện với linh hồn của mình, Lời kể của
Ipuxe, Lời răn dạy của Đuaup, Sống sót sau vụ đắm thuyền …
- Truyện hai anh em Nói Thật và Nói Láo mang nội dung có tính giáo dục cao về tính trung thực,
nhân quả. Câu chuyện kể về một gia đình có hai anh em. Người anh có tên là Nói Láo đã kể cho người
em là Nói Thật nghe một câu chuyện hoang đường về một vật có thể chứa được cả trời đất, cây cỏ và
muôn loài. Người em không tin nên hai anh em thách thức nhau. Người em vốn bản chất thật thà, trung
thực nên không thể nào chứng minh được điều mình phản bác. Người anh thắng cuộc đã móc mắt và bắt
người em làm đầy tớ cho mình. Không cam chòu, con trai của Nói Thật quyết chí báo thù cho cha. Vốn
tính thông minh, cậu ta đã dắt một con bò đến nhà Nói Láo và nêu những chuyện hoang đường về về con
bò khiêu khích lòng tham của Nói Láo. Nói Láo kiện lên các thần, các thần không tin và nhớ lại chuyện
bòa đặt của Nói Láo và trừng phạt Nói Láo, trả lại sự công bằng cho Nói Thật.
- Lời kể của Ipuxe nói về những biến động lớn lao trong xã hội Ai Cập vào năm 1750 TCN. Câu
chuyện mô tả về cuộc khởi nghóa của nô lệ và dân nghèo lật đổ vương triều của Pharaông.
- Lời răn dạy của Đuaup mang tính giáo dục cao, thể hiện vai trò của giáo dục trong xã hội Ai
Cập, đồng thời phản ánh khoảng cách giữa các giai tầng trong xã hội Ai Cập cổ đại. Câu chuyện kể về
những lời răn dạy của Đuaup khuyên con đến kinh đô nên chăm chỉ học tập để sau này làm quan.
Ngoài ra, nhiều tác phẩm văn học khác của Ai Cập cổ đại cũng được lưu truyền hay phát hiện.
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 10 –
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử
d. Tín ngưỡng
Cũng như cư dân phần lớn các quốc gia cổ đại khác, hệ tín ngưỡng của cư dân Ai Cập cũng hết sức
phong phú. Đó là hệ tín ngưỡng đa nguyên thần giáo, vạn vật hữu linh.
Về thế giới tự nhiên: khởi thuỷ gồm 3 loại Thiên, Đòa, Thuỷ thần:
Thiên thần (Nut) là nữ thần, thường được thể hiện là đàn bà hay con bò cái, phủ lên mình thần là
các vì tinh tú.
Đòa thần (Ghep) là nam thần, thường được thể hiện là đàn ông, phủ lên mình thần là cây cối.
Thuỷ thần (Odirix) là thần sông Nil, m phủ hoặc Diêm vương. Thần bảo trợ cho nông nghiệp,


Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử
(Chéphren, cao 137m), Mikêrin (Mikerins, cao 66m) … Điều kỳ diệu là tất cả thi hài Pharaông đều quay
về hướng chính Bắc.
Tiêu biểu và đồ sộ nhất trong số các Kim tự tháp ở Ai cập cổ đại là Kim tự tháp Kêốp. Trải qua sự
bào mòn của thời gian hơn 4500 năm, Kim tự tháp này còn cao 137,8m, chiều dài đáy còn 227,5m. 6 Bốn mặt của Kim tự tháp này theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc chính xác gần như tuyệt đối.
Nguyên liệu để xây dựng Kim tự tháp là những tảng đá vôi mài nhẵn, mỗi tảng nặng từ 2,5 tấn đến 30
tấn. Khoảng 2,3 triệu tảng, khối tích hơn 2,5 triệu m
3
, ngày nay còn khoảng 2,4 triệu m
3
. Mạch ghép giữa
các khối đá khít với nhau tới mức 5mm, không hồ.
Ở mặt Bắc, cách mặt đất 13 mét có một cửa dẫn đến hầm mộ. Kim tự tháp này có hai hầm mộ: 1/3
từ mặt đất lên có một hầm mộ, hầm mộ thứ hai sâu khoảng 30 mét.
Theo Hêrôđốt, Kêốp đã huy động toàn thể nhân dân Ai Cập chia thành từng đội. Mỗi đội 100
ngàn người thay phiên nhau lao động liên tục cứ 3 tháng một lần. Quá trình khai thác đá từ hữu ngạn sông
Nil đến tả ngạn nên phải dùng thuyền, từ bến đá đến lòng mộ người ta phải xây một con đường bằng
những tảng đá mài nhẵn dài 900 mét rộng 18 mét có chỗ cao nhất đến 15 mét. Riêng việc làm đường đã
mất 10 năm. Đá được bỏ lên xe trượt, dùng bò hoặc người kéo chuyển về xây dựng. Không kể thời gian
làm đường và hầm mộ dưới đất, thời gian xây dựng kim tự tháp là 20 năm.

- Toán học: xuất phát từ yêu cầu đo đạc lại ruộng đồng do nước sông Nil làm ngập, tính toán vật
liệu xây dựng các công trình kiến trúc … nên từ rất sớm, người Ai Cập cổ đại đã biết các phép tính toán
học.
Phép đếm đến 10 không có số không vì chữ Ai Cập cổ đại là chữ tượng hình.
Hình đơn vò là nhiều cái que, chục là hình đoạn dây thừng, trăm là hình vòng dây thừng, ngàn là
hình cây sậy, mười ngàn là hình ngón tay, một trăm ngàn là hình con nòng nọc, triệu là hình người giơ hai
tay biểu thò sự kinh ngạc.
Mặc dù chưa phát hiện được các phép tính số học, đại số học, hình học hay lượng giác… nhưng
thông qua các công trình nghệ thuật kiến trúc kỳ vó, người ta có thể giả đònh rằng, cư dân Ai cập cổ đại đã
phát minh ra những thành tựu lớn lao về toán học.
Các phép tính đại số học xuất hiện vào thời Trung vương quốc. Trong thời kỳ này, để giải quyết
các vấn đề nhất là phân chia lương thực, người Ai cập cổ đại đã sáng tạo ra ẩn số x= aha (1 đống ngũ
cốc) và biết đến cấp số cộng, cấp số nhân, có khi cả phép khai căn ….
Về hình học, người Ai Cập cổ đại đã biết tính diện tích các hình tam giác, hình cầu, hình tròn ….
Họ biết được số µ chính xác =3.1614, biết tính thể tích hình tháp, hình học không gian, lượng giác …. Tất
cả được ghi trên giấy Papyrus cổ nhất vào khoảng năm 1850TCN. Tài liệu này có chiều rộng 8cm, dài
644cm.
- Y học: do tục ướp xác mà cư dân Ai Cập cổ đại đã sớm có hiểu biết về cấu tạo cơ thể con người.
Từ đó, họ đã biết phân tích nguyên nhân của bệnh tật do sự không lưu thông của mạch máu (bắt mạch),
mô tả về óc, quan hệ tim với mạch máu, các loại bệnh, cách khám bệnh, khả năng chữa trò để nêu lên 3
khái niệm:
+ Cần chữa trò nghóa là có thể chữa khỏi hoàn toàn.
+ Đấu tranh với nó nghóa là có thể chữa khỏi.
+ Không chữa nghóa là không thể chữa khỏi.
Sách thuốc Papyrus Medical xuất hiện khoảng 1500 đến 1450TCN.
Phương pháp chữa: rửa đường ruột hoặc cho nôn mửa, phẫu thuật. Theo Hêrôđốt thì y học Ai Cập
cổ đại đã được chia ra thành nhiều chuyên môn khác nhau.
Các ngành khoa học khác cũng rất phát triển như: để khai khoáng và luyện kim, người Ai Cập cổ
đại cần có những kiến thức về hoá học, vật lý, đòa chất …


a. Sơ lược về lòch sử LưỡngHà và Luật Hammourabi
Lòch sử Lưỡng Hà là quá trình đấu tranh thống nhất Lưỡng Hà.
- Đầu thiên niên kỷ III TCN, người Xu Me sau một quá trình đònh cư đã xây dựng nên các thành
bang ở miền Nam Lưỡng Hà như Ua, Êriđu, Lagat, Urúc, Umma … Đứng đầu các thành bang là Patêsi,
tập trung mọi quyền lực trong tay. Dưới Patêsi là một hệ thống cận thần trông coi mọi lónh vực kinh tế –
xã hội. Tế bào xã hội là công xã nông thôn và là chỗ dựa cho sự tồn tại của Nhà nước.
- Giữa thiên niên kỷ III TCN, Lagat thống nhất các thành bang. Đến năm 2300 TCN người Áccát
thống nhất Lưỡng Hà. Đến đầu thiên niên kỷ II TCN, quốc gia Cổ Babilon của người Amôrit ở miền
Trung Lưỡng Hà đã tái thống nhất Lưỡng Hà. Chính quyền từ trung ương đến đòa phương không ngừng
được củng cố, nhất là thời vua Hammourabi (1792 – 1750 TCN).
- Sau khi Hammourabi chết, người Hitir từ phương Bắc tràn xuống xâm lược Lưỡng Hà và đến
năm 739 TCN trở thành một bộ phận của Atxiri. Năm 626 TCN, Lưỡng Hà được khôi phục với tên gọi
mới là Tân Babilon. Đây là thời ký phát triển rực rỡ của văn minh Lưỡng Hà nhưng khá ngắn ngủi. Năm
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 14 –
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử
538 TCN, Lưỡng Hà bò Ba Tư xâm lược và là một bộ phận của đế quốc Ba Tư. Năm 328 TCN, Lưỡng Hà
phụ thuộc đế quốc Makêđônia và sau này là La Mã. Lưỡng Hà diệt vong.
- Nhà nước ở Lưỡng Hà được tổ chức theo chế độ quân chủ chuyên chế và ngày càng hoàn thiện.
- Thời Hammourabi, Bộ luật Hammourabi được biên soạn và là bộ luật cổ còn tương đối nguyên
vẹn so với các bộ luật cổ trên thế giới. Bộ luật được khắc trên một tấm đá bazan cao 2,25 mét, đường
kính đáy khoảng 2 mét. Mặt trước phía trên phiến đá khắc hình thần Mặt trời ngồi trên ngai vàng đang
trao cho Hammourabi đứng đón Bộ luật trong tư thế nghiêm trang. Tấm đá này được lính Pháp phát hiện
vào năm 1902 ở Elam và hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Louvre (Pháp).
Bộ Luật có 282 điều được chia làm 3 phần: mở đầu, nội dung và kết luận gồm những điểm chính
sau đây:
+ Quy đònh hình phạt về các tội vu cáo, trộm cướp, gây thương tích hay làm chết người và những
hành vi gây rối loạn trật tự xã hội.


Enlin Ea Mác Đúc (Mardouk)
Mỗi vò thần có một chức năng cụ thể gắn bó gần gũi với cuộc sống của con người. Thần biển (Ea)
dạy cho con người các nghề thủ công, nghệ thuật, khoa học, thần Samat trông coi về luật pháp và bảo hộ
các nhà vua.
Nhiều đền thờ được xây dựng với nhiều nghi lễ phức tạp theo chu kỳ của nông nghiệp.
Về con người: người Lưỡng Hà cổ đại quan niệm rằng co người có hai phần thể xác và linh hồn.
Nhưng quan niệm của họ khác với cư dân Ai Cập cổ đại ở chỗ, họ cho rằng linh hồn bất tử trong một thế
giới riêng biệt. Từ đó, người Lưỡng Hà thường mai táng bằng phương pháp tuỳ táng (chôn theo người
chết đồ dùng cá nhân).
d. Chữ viết
Chữ viết Lưỡng Hà cổ đại do người Xume sáng tạo ra ngay từ cuối thiên niên kỷ thứ IV (thời kỳ
thành bang). Cũng như người Ai cập cổ đại, chữ viết của cư dân Lưỡng Hà cổ đại là chữ tượng hình. Tuy
nhiên, người Lưỡng Hà cổ đại lại không ngừng cải tiến chữ viết từ toàn bộ đến bộ phận tiêu biểu cho đơn
giản. Ví dụ muốn viết chữ trời thì chỉ cần vẽ một ngôi sao, muốn viết chữ bò chỉ cần vẽ hình tam giác
chúc xuống với hai cái que cắm chéo bên trên như hình cái đầu bò. Nếu chữ viết biển ý (khái niệm +
động tác) thì cũng chỉ cần vẽ các hành động tiêu biểu như: chữ khó vẽ con mắt + nước, đẻ (chim + trứng),
bò rừng ( bò + núi), hình người cày = cày + người, cày + gỗ = cái cày.
Âm tiết: muốn viết âm xum thì vẽ bó hành, bàn chân + NA = đi, bàn chân + BA = đứng.
Chữ hài thanh biểu đạt nhiều từ: giới từ + phó từ. Qua một quá trình đơn giản hoá, chữ tượng
hình giảm xuống từ 2000 chữ đến 600 chữ.
Chất liệu dùng để viết là đất sét ướt, bút viết là que vót nhọn. Sau khi viết xong thì phơi khô.
Chính vì chất liệu đặc biệt này, ở Lưỡng Hà xuất hiện một loại chữ mà các nhà nghiên cứu gọi là chữ
hình nêm. Đơn giản là khi viết trên đất sét ướt bằng que vót nhọn thì khi ấn vào có nét to, khi viết xong
một chữ rút ra thì nét nhỏ = hình nêm = tiết hình.
Tổng số chữ tiết hình (nêm) có khoảng 600 chữ nhưng thường dùng 300 chữ (mỗi chữ nhiều
nghóa). Về sau người Phênixi cải tiến thành chữ cái gồm 29 chữ, ở miền Nam thì dựa vào chữ Ai Cập =
chữ cái gồm 22 chữ phổ biến hơn, là cơ sở cho chữ Hy Lạp, Latinh. Hai chữ cái đầu tiên là Aleph ( con
bò) và Beth ( cái nhà ) vần chữ cái Hy Lạp gọi là Alphabet.
Lòch sử phát hiẹân và giải mã: Ninivơ kinh đô Atxiri đã phát hiện được 20.000 tấm đất sét. Từ

dày 8,5m, cao 30m, 7 cổng bằng đồng vững chắc có trang trí bằng phù điêu, tượng rất tỉ mỉ.
Trong số rất nhiều đền thờ ở Babilon, lớn nhất là đền thờ Thần Mác Đúc. Đền được xây dựng trên
một khuôn viên có kích thước 550 x 450m, bên cạnh là tháp Babel. Tháp có chu vi đáy là 91m, cao 90m
gồm 7 tầng chồng lên nhau. Tầng trên cùng là một chiếc giường lộng lẫy và một cái bàn bằng vàng.
Trong tháp là một bức tượng thần Mác Đúc nặng tới 24tấn (theo Hêrôđốt).
Ngoài ra, ở Lưỡng Hà cổ đại, nhiều công trình kiến trúc và điêu khắc rất phong phú mà hiện nay
còn lưu giữ trong viện Bảo tàng I Rắc và các viện bảo tàng trên thế giới.
g. Thành tựu khoa học tự nhiên
- Toán học : do nhu cầu đo d9ạc diện tích đất đai… dẫn đến việc phát minh ra phép tính diện tích
các hình. Người Lưỡng Hà cổ đại lấy số 5 làm số trung gian để đếm. Nếu cần đếm cao hơn thì người ta
thêm vào sau số 5. Họ dùng cơ số 60 ( nay được dùng làm đơn vò thời gian), phép khai căn, lấy vòng tròn
để chỉ độ. Dùng số JI = 3 để tính diện tích, chu vi hình tròn, cạnh huyền của tam giác vuông. Nhìn chung,
cư dân Lưỡng Hà cổ đại đã biết tính toán các phép tính thông thường về số học, đại số học, hình học và
lượng giác.
- Thiên văn học: khám phá 5 hành tinh : Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Hải vương tinh. Biết gần đúng
qũy đạo của các hành tinh, hình tượng sao chổi, sao băng, nhật thực, nguyệt thực, động đất… Lập hệ thống
lòch theo 12 tháng. Cứ một tháng đủ một tháng thiếu. Mỗi tháng chia làm 4 tuần, mỗi tuần có 7 ngày và
mỗi ngày có một vì tinh tú làm chủ: Chủ Nhật là Mặt Trời, thứ Hai là Mặt Trăng, thứ Ba là Sao Hoả, thứ
Tư là Sao Thuỷ, thứ Năm là Sao mộc, thứ Sáu là Sao Kim, thứ Bảy là Sao Thổ. Cách gọi tên các ngày
trong tuần như vậy của cư dân Lưỡng Hà cổ đại được người châu u tiếp thu và sử dụng cho tới ngày nay.
Một năm có 354 ngày, và đặt thêm tháng nhuận (thời Tân Babilon cứ 8 năm nhuận 3 lần, sau đổi thành
27 năm nhuận 10 lần). Đây là phép làm lòch theo mặt trăng phổ biến ở phương Đông. Họ cũng biết dùng
ánh nắng mặt trời để tính thời gian tương tự như người Ai Cập cổ đại.
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 17 –
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử
- Yhọc: chữa nhiều bệnh về tiêu hoá, hô hấp, thần kinh, đau mắt và chia thành nhiều ngành như
nội khoa, ngoại khoa, giải phẫu. Đặc biệt la khai thác những loại dược liệu qúi lấy từ thiên nhiên, động

sáng lập ra Đạo Hồi là Môhamét (570 – 632). Ông xuất thân từ một gia đình ở Mắc Ca. Thû nhỏ ông đi
chăn cừu và là người dẫn đường cho các đội thương nhân qua sa mạc Nêphut. Do làm công việc đó nên
lúc đầu ông chòu ảnh hưởng của Đạo Kitô và Đạo Do Thái (nhờ vậy Đạo Hồi tiếp nhận giáo lý cả hai tôn
giáo lớn này). Đạo Hồi thờ Chúa Trời (Ala) và những nét riêng. Năm 610, ông bắt đầu truyền bá đạo Hồi
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 18 –
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử
(… một đêm ông mơ có một vò thần đến bảo đọc những hàng ký hiệu chi chít trên một tấm vải (đó chính là
tư tưởng của Thánh Ala nhập vào Môhamét và ông trở thành nhà tiên tri).
Trong quá trình truyền bá tư tưởng, ông gặp phải sự thù đòch của các quý tộc bộ lạc ở Mécca mà
trung tâm là bộ lạc Côrêsit (Coreischite) vốn thờ đa thần nên ông chạy lên Yatơrip. Từ đó thành phố này
được đổi tên là Medina (thành phố của nhà tiên tri). Ngày 20/9/622 (ngày Môhamét tới Yatơrip) được coi
là ngày đầu tiên của kỷ nguyên Hồi giáo (lòch Hồi giáo bắt đầu từ ngày này).
Năm 624, trên cơ sở một lực lượng chính trò kết hợp với tôn giáo đã tập trung tại đây, Môhamét đã
đánh bại các cuộc tấn công của các bộ lạc khác và bắt đầu tiến đánh Mécca.
Chiến tranh giữa 12 bộ lạc xung quanh và Mêdira đã liên tục diễn ra, đến năm 627 thì hai bên ký
hiệp đònh đình chiến 10 năm. Năm 629, Môhamet dẫn 2000 tín đồ đi thăm Mécca. Đoàn người đi vòng
quanh ngôi đền Caaba. Năm 630, Môhamet dẫn 10.000 tín đồ chiếm Mécca thống nhất bán đảo trong sự
phùc tùng của các bộ lạc A Rập trên bán đảo. Môhamet trở thành người đứng đầu Nhà nước A Rập và tôn
giáo.
Năm 632 Môhamet chết, những người kế tục ông được gọi là Calipha (người kế thừa của nhà tiên
tri). A Rập lần lượt chinh phục Xiri năm 636, Palextin năm 638, Ai Cập năm 642, Ba Tư năm 651. Từ
năm 632 đến năm 661, các Calipha do bầu cử mà lên nối ngôi. Từ năm 661 đến sau này thì là cha truyền
con nối. Các Calipha tiếp tục chinh phục các vùng khác của châu Phi, châu u đến châu Á tạo thành một
đế quốc A Rập rộng lớn nằm vắt ngang 3 châu lục. Phía Đông đến n Độ, Tây đến Đại Tây Dương. Đến
thế kỷ X, A Rập bắt đầu bò suy yếu . Năm 1258, A Rập bò đế quốc Mông Cổ tiêu diệt.
b.Đạo Hồi (Ixlam).
Giáo lý: chỉ có một vò thần duy nhất là Ala và một sứ giả của người là Môhamét. Trời đất mọi vật

một tác phẩm văn học rất có giá trò. Bộ Kinh gồm 30 quyển, 114 chương, 6236 tiết chia làm hai phần
+ Môhamet từ Mécca đến Mêđina gồm 81 chương, 4780 tiết tức là xấp xỉ 2/3 bộ kinh.
+ Môhamet từ Mêdina đến 632 gồm 23 chương, 1456 tiết.
Bộ kinh viện dẫn nhiều truện thần thoại, truền thuyết, chuyện lòch sử, cách ngôn, ngạn ngữ của
Đạo Do Thái, Kitô và người A Rập cổ đại. Do đó, Kinh Côran đã ảnh hưởng sâu sắc đến ngôn ngữ, văn
học và toàn bộ nền văn hoá Hồi giáo. Bộ kinh trở thành một đề tài vô hạn và là nguồn cảm hứng sáng tác
của các thi só A Rập.
- Thơ và truyện
+ Từ thế kỷ VII về trước, thơ ca A Rập chủ yếu là truyền miệng vì chưa có chữ viết.
+ Từ thế kỷ VII về sau thì bằng chữ viết thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, ca ngợi chiến công,
tình yêu…
Nhà thơ Abutammam sáng tác hai tập của tác phẩm Anh dũng ca; Nhà thơ Abulơ Pharagiơ sáng
tác 20 cuốn thi ca tập; và nhiều nhà thơ khác như nhà thơ Abunavat, Abulơ Alamaari (Mù…)
+ Truyện: Nghìn lẻ một đêm ( X – XII ) là một tác phẩm văn học xuất sắc của cư dân A Rập. Tác
phẩm này có xuất xứ từ tác phẩm Một nghìn câu chuyện của Ba Tư, bổ sung bằng các truyện thần thoại
của n Độ, Ai Cập, Hy Lạp…. Năm 1700 ngtoan Galăng ( Antoine Galland – Pháp) tiếp nhận từ một
người Xiri. Năm 1704, tác phẩm được dòch ra tiếng Pháp và sau đó được dòch ra các thứ tiếng trên thế
giới.
Tác phẩm Nghìn lẻ một đêm thể hiện trí tưởng tượng phong phú của cư dân A Rập, đồng thời làm
nổi lên cuộc sống xã hội của cư dân trong đế quốc A Rập.
* Nghệ thuật:
Lúc đầu bò cấm đoán (do sự khắc nghiệt của giáo lý Đạo Hồi), nhưng càng về sau nghệ thuật A
Rập càng phát triển do người A Rập học tập nghệ thuật Aicập, Lưỡng Hà, Ba tư, n Độ, Hy Lạp, La Mã…
Nền nghệ thuật A Rập là sự thể hiện phong cách nghệ thuật của các nền văn minh cổ đại:
+ Ba Tư với cây cột mảnh khảmh, vòng cung nhọn, hình móng ngựa.
+ Bizantium với xây vòm tròn
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 20 –

“Sách của Rôgiê” của của Iđrixi đã mô tả Trái Đất có 7 miền khí hậu, mỗi miền bằng 10 phần, mỗi phần
được mô tả bằng bản đồ tương đối chính xác.
- Vật lý học: “Sách quang học” của Al Haitơham (965 -?) nói về thủy tinh thể và khúc xạ ánh sáng
làm cho Mặt Trời, Mặt Trăng khi ở gần chân trời lớn hơn, nhìn thấy tia sáng Mặt Trời khi Mặt Trời xuống
dưới 19
0
.

ng còn tính được độ dày khí quyền là 15km và tác động của ánh sáng trên các gương lồi, lõm
và thấu kính hội tụ để các nhà vật lý học châu u chế tạo ra kính hiển vi và kính viễn vọng.
- Hóa học: người A rập đã chế tạo ra nồi cất (Al – Ambik) tiếng Pháp là Alambic. Nhiều chất hóa
học được phân tích, phân biệt được Bazơ, Axít, nhiều loại thuốc. Họ cũng tưởng tượng rằng kim loại này
có thể thành kim loại khác nhờ chất xúc tác.
- Sinh vật học: người đầu tiên nêu lên thuyết tiến hóa là Otman Am an Giahip. ng sống vào
khoảng thế kỷ IX. Nội dung thuyết tiến hoá của ông còn khá sơ sài khi cho rằng: quá trình tiến hoá theo
thứ tự từ khoáng vật, thực vật, động vật, người. Trong lónh vực thực vật học, người A Rập đã phát minh ra
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 21 –
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử
các phương pháp ghép cây, tạo giống mới… Tiêu biểu cho các nhà thực vật học là là Baita với “Sách thực
vật học”, Avan với “Sách của nông dân” hướng dẫn cách trồng 585 loại cây với 50 giống ăn quả…
- Y học: các thầy thuốc A Rập biết rất nhiều phương pháp chữa bệnh nội, ngoại khoa. Sở dó có
được thành tựu này là vì A Rập rất chú ý đến vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ con người. Mặt khác,
A rập học tập được rất nhiều thành tựu về khoa học trên thế giới. Nhiều tác phẩm y học ra đời: “10 khái
luận về mắt” của Isac, “Bệnh đậu mùa và bệnh sói” của Radi, “Tiêu chuẩn y học” của Xina … Các
Calipha A Rập cũng đã lập nhiều bệnh viện. Nền y học A Rập đứng đầu thế giới đương thời.
- Giáo dục: nền giáo dục A Rập vào loại hoàn chỉng và hiện đại nhất thế giới thời bấy giờ. Hệ
thống giáo dục của đế quốc gồm ba cấp học là tiểu học, trung học và đại học. Khi 6 tuổi thì đến trường

+ Miền Nam: Là vùng cao nguyên ĐêCan, cao nguyên này có hình lòng chảo với hai dãy núi lớn
là Gát Tây và Gát Đông. Ngày nay vùng này tập trung nhiều thành phố công nghiệp quan trọng của n
Độ như Mrát, Bom Bay…
Tài nguyên khoáng sản: phong phú về chủng loại và giàu có về trữ lượng, rừng có gỗ quý.
2. Khí hậu.
Do đất nước rộng lớn nên khí hậu Ấn Độ chia làm nhiều vùng: miền Bắc thường lạnh, miền Nam
thường nóng, mùa mưa và mùa khô khá rõ. Phía Đông Nam chòu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió
mùa.
3. Dân cư.
Dân cư được xem là ngøi bản đòa là người Tiền Đravida và Đravida hiện còn sống chủ yếu ở
miền Nam n Độ.
Dân di cư là người Arya có nguồn gốc từ bờ biển Trung Caxpiên đến n Độ từ nửa sau thiên
niên kỷ thứ II TCN. Quá trình nhập cư diễn ra liên tục trong lòch sử n Độ nên thành phần dân cư và
chủng tộc hết sức phức tạp.
Phạm vi của nền văn minh Ấn Độ cổ trung đại n Độ còn bao gồm lãnh thổ các nước Pakixtan,
Bănglet, Nêpan.

II. NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH CỦA VĂN MINH ẤN ĐỘ
1. Sơ lược lòch sử cổ trung đại Ấn Độ và những thành tựu về chính trò xã hội
Lòch sử cổ trung đại n Độ có thể chia làm 4 thời kỳ:
+ Thời kỳ Văn minh lưu vực sông Ấn (Từ đầu thiên niên kỷ III đến giữa thiên niên kỷ II) là thời kỳ
văn hóa Harappa. Năm 1920, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra hai thành phố cổ là Harappa và
Môhenjô Đarô. Thời kỳ này, xã hội của người Đraviđa đã có sự phân hoá giai cấp và hình thành Nhà
nước, trên cơ sở một nền văn minh nông nghiệp khá phát triển.
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 23 –
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử
+ Thời kỳ Vêđa (Từ giữa thiên niên kỷ II đến giữa thiên niên kỷ I). Thời kỳ này được phản ánh

cổ học, cư dân n Độ thời kỳ này đã biết đào mương, đắp đập, trồng bông, lúa mì, lúa mạch, dùng trâu,
bò để kéo cày. Chăn nuôi phát triển với qúa trình thuần dưỡng các loại gia súc, gia cầm. Các mặt này
trong kinh tế nông nghiệp dần dần phát triển trên cơ sở tồn tại của công xã nông thôn. Đến thời Gúùpta,
quan hệ sản xuất phong kiến dần dần hình thành.
- Thủ công nghiệp, hình thành ngay từ thời kỳ Văn minh sông n với các nghề gia công kim loại (
chủ yếu là đồng), làm đồ gốm bằng bàn xoay, điêu khắc trên đá và trên ngà voi. Các nghề dệt, mộc, đan
lát đều đạt trình độ khá cao, đồ gốm với nhiều loại màu sắc, hoa văn trang trí, đồ trang sức khá tinh xảo.
Đến thời Vêđa, các ngành kinh tế thủ công nghiệp tiếp tục phát triển và xuất hiện xu hướng độc lập tách
Lòch sử văn minh thế giới – Thời Cổ Trung đại - 24 –
Bùi Văn Hùng Khoa Lòch Sử
ra khỏi nông nghiệp. Đến thời kỳ tiếp giáp Công nguyên, nghề dệt vải bông vươn lên chiếm vò trí hàng
đầu trong thủ công nghiệp. Đến thời kỳ Môgôn, kinh tế thủ công nghiệp trở thành một trong những ngành
kinh tế quan trọng của của cư dân Ấn Độ với những sản phẩm nổi tiếng khắp thế giới.
- Thương nghiệp, do yêu cầu phát triển của kinh tế hàng hoá, tiền tệ xuất hiện từ thời kỳ văn minh
sông n nên Thương mại trở thành một ngành độc lập. Trong thời kỳ Vêđa xuất hiện những lái buôn và
người cho vay lãi. Hệ thống đo lường được chuẩn hóa, quan hệ buôn bán rộng mở cả với bên ngoài và
ngày càng phát triển ở thời kỳ sau.
3. Chữ viết.
Chữ viết n Độ ra đời rất sớm. Ở Harappa và Môhenjô Đarô, các nhà khảo cổ học đã phát hiện
được hơn 3000 con dấu, trong đó có 22 dấu cơ bản (1921). Gần đây, người ta đã đọc được loại chữ này
(S.R.Rao). Đó là một loại chữ tượng hình: dùng hình vẽ để ghi âm và ghi vần.
Đến khoảng thế kỷ V TCN đã xuất hiện chữ Kharosthi phỏng theo chữ viết của Lưỡng Hà. Loại
chữ này đã phát triển thành chữ Brami và Đêvanagari đơn giản, thuận tiện hơn, là tiền thân của chữ Phạn
Xanxcrit mà ngày nay cư dân một số vùng ở Nepan và n Độ vẫn dùng.
Chữ Phạn Xanxcrit là một loại chữ viết dài dùng để viết các loại thư tòch cổ như Kinh Vêđa, Luật
MaNu, hệ thống bi ký (nhất là những cột đá thành Asoka).
4. Văn học nghệ thuật.

* Nghệ thuật gồm kiến trúc, điêu khắc, thấm đượm tinh thần tôn giáo, vừa tiếp thu vừa phát huy
những ảnh hưởng nghệ thuật ra xung quanh
- Thời kỳ Harappa, các công trình nghệ thuật được xây dựng chủ yếu bằng gạch. Đến thời kỳ
Môrya thì lại chủ yếu bằng đá.
+ Tháp (Stupa) hình bán cầu có chứa tro xương của Đức Phật và các vò Bồ Tát. Điển hình nhất là
tháp Xansi (Sanchi) xây từ thế kỷ III TCN ở Trung n.
+ Trụ đá tượng trưng cho các trụ trời dùng để thờ Phật, được xây dựng nhiều nhất là thời Axôca,
độ cao trung bình là 15m, nặng 50 tấn, chạm sư tử và các hình trang trí khác. Tiêu biểu là trụ đá Xacna
(Sarnath).
+ Chùa Hang được xây dựng phổ biến từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ X, tiêu biểu là các chùa
Ajanta, Enlora ở Trung n.
+ Thời Sun Tan ĐêLi và Môgôn, nhiều nhà thơ Hồi giáo, cung điện, lăng mộ mà đặc điểm là mái
tròn, cửa vòm, tháp nhọn, có khi có bao lơn lộ thiên và cột chống thanh thoát.
+ Lăng Taj Mahan (1632) do 24.000 thợ xây dựng từ nhiều quốc gia bằng đá cẩm thạch, vàng bạc,
châu báu gồm 12 mặt (58 x 304m) mỗi góc có Tháp vút cao, cửa chính bằng bạc.
+ Nghệ thuật tạc tượng (từ thế kỷ I trở về sau) tiêu biểu là tượng Phật, Siva, Visnu, bằng đá ở
Ganđara.
5. Khoa học tự nhiên.
- Thiên văn học: 1 năm = 12 tháng, 1 tháng = 30 ngày, 1 ngày 30 giờ, 5 năm có 1 tháng nhuận.
Trái Đất, Mặt Trăng đều hình cầu, quỹ đạo Mặt Trăng và những kỳ Trăng tròn, khuyết. Phân biệt hành
tinh Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Người n Độ cũng biết được một số chòm sao và sự vận hành của các
ngôi sao chính. Tác phẩm cổ nhất là Xitđanta (Sidddhantas) thế kỷ V TCN.
- Toán học: người n Độ đã sáng tạo ra 10 chữ số nguyên và chữ số thập phân một cách hoàn
chỉnh, thể hiện trên các bia đá thời Asôca thế kỷ III TCN. Nhưng số 0 lại được tìm thấy trước ở Arập năm
873. Sau đó 3 năm mới tìm thấy ở n Độ, nhưng các nhà khoa học đã khẳng đònh số 0 là do người n Độ
sáng tạo ra, người A Rập học tập rồi truyền sang phương Tây.
Thế kỷ VI tính được Л = 3,1416, phép khai căn bậc 2,3, số âm, dương, các qui tắc hoán vò và giải
phương trình bậc hai.
Về hình học, tính diện tích hình vuông, chữ nhật, tam giác, đa giác, quan hệ giữa các cạnh của tam
giác vuông.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status