LỊCH SỬ NGOẠI KHOA THẾ GIỚI - Pdf 19

LỊCH SỬ NGOẠI KHOA THẾ GIỚI Lịch sử ngoại khoa có truyền thống lâu đời và đáng trân trọng. Cũng như các lĩnh
vực khác, nó cũng có những người có công lớn như những vị anh hùng, có thể kể
đến như: Paré, Vesalius, Hunter, Lister, Halsted. Tuy nhiên cũng có nhiều tên tuổi
bị lãng quên, nhất là trong 100 năm qua.
Lịch sử của bệnh tật cũng lâu đời như lịch sử loài người và vì ngoại khoa phải đáp
ứng với bệnh tật cho nên lịch sử của nó cũng xưa như vậy.
Những hình thái cơ bản của bệnh tật như u bướu, nhiễm trùng, chấn thương và dị
tật bẩm sinh vẫn không thay đổi. Ngày nay, các nhà phẫu thuật điều trị bệnh khác
với các đồng nghiệp trong thời tiền sử, và một số khía cạnh trong công việc của họ
khó mà diễn tả hết được.
Ackernecht - người viết rất rõ về y học sơ khai, đã nhấn mạnh rằng, ngoại khoa
không được minh định thành một lãnh vực mà hầu hết điều trị nội khoa cũng được
gọi là ngoại khoa (surgical). Họ điều trị các vết thương và cố gắng cầm máu, họ
khoan, họ làm tổn thương xương sọ như là một nghi lễ tôn giáo, chẳng hạn như để
thả ma quỷ ra.
Trong truyền thống xưa của người La-Hy, các nhà ngoại khoa tồn tại như là một
chuyên viên, chỉ khi nào nuôi dưỡng và thuốc men không làm lành bệnh thì các
bác sĩ mới chuyển qua phẫu thuật. Trong trường hợp bị thương thì dĩ nhiên nhà
ngoại khoa được mời đến tức khắc.
Trong những công trình Y học Hy Lạp lớn viết về gãy xương, trật khớp và những
bệnh ngoại khoa khác của Hyppocrates hay nhất là cuốn “Về Phẫu thuật” (On the
Surgery). Trong cuốn này, tác giả mô tả nhà phẫu thuật phải biết những gì, làm sao
để tiến hành điều trị và nhà phẫu thuật cần có những đức tính gì. Phần lớn sách
dành cho băng bó các vết thương khác nhau. Một sách khác, cuốn “Những yếu tố
liên hệ đến Phẫu thuật”, là cuốn mà Hyppocrates viết vào những năm 400 trước
CN, nói về “người bệnh, nhà phẫu thuật, người phụ tá, dụng cụ phẫu thuật, ánh
sáng, đặt ở đâu và như thế nào; cần bao nhiêu dụng cụ và làm sao; vị trí của người
bệnh và dụng cụ; thời gian, cách sử dụng và nơi chỗ”.

thờ không cho phép tách ngành ngoại khoa ra khỏi nội khoa.

Vào thế kỷ XIII và XIV, ngoại khoa bị các nhà nội khoa chê bai và xa lánh do
rằng nội khoa là những bácc sĩ tốt nghiệp từ các đại học, mở ra khắp châu Âu.
Theo luật lệ thời đó, chỉ có nội khoa mới là y khoa cơ bản. Các nhà ngoại khoa thì
ít học nên ở vị trí xã hội thấp hơn so với các nhà nội khoa. Các nhà ngoại khoa chỉ
học được nghề thủ công. Tuy nhiên, Clifford Albutt đã viết:” Nhờ vậy, ngoại khoa
mới thoát ra khỏi ngành y học nghệ thuật tự do và tự nó bung ra.”
Ngành ngoại khoa thời đó yếu kém là tất nhiên, và theo các nhà ngoại khoaảơ thế
kỷ XX thì do 2 nguyên nhân: nó bị tách ra từ nội khoa và nó không chú ý đến giải
phẫu học.
Yếu tố quan trọng duy nhất làm hạn chế công việc của các nhà ngoại khoa là sự
thiếu hiểu biết về giải phẫu.
Nhiều bằng chứng khảo cổ tìm thấy trên hài cốt một số bộ lạc cho thấy hiện tượng
liền xương tốt tùy theo theo hoàn cảnh và tự nhiên, vì vậy, Adolph Schultz, một
nhà nhân chủng học đã xác định rằng tính hiệu quả điều trị của các thầy thuốc là
giả tạo, mà thực tế, tự nhiên, tự bản thân con bệnh đã là một động lực chữa trị giúp
liền xương. Năm 1939, schultz tìm thấy những con khỉ hoang trưởng thành có
những xương gãy tự lành từ 36- 47% trong nhóm 118 con. Rõ ràng ở những lòai
động vật này xương gãy tự lành và không có sự can thiệp của phẫu thuật.
Thời Ai Cập cổ đại còn lưu lại những hiểu biết cổ xưa nhất về y học là các hình vẽ
trên các sách papyrus về y học, về ngoại khoa, và sản phụ khoa. Như cuốn của
Edwin Smith Papyrus chẳng hạn, một trong những cuốn cổ nhất, viết từ 1600 năm
trước CN (cũng có thể là được sao chép từ một cuốnkhác cổ hơn) rất được các nhà
ngoại khoa quan tâm.
Ngành ngoại khoa cổ bị luật pháp hạn chế. Luật Babylon thời kỳ Hammurabi chặt
tay các nhà phẫu thuật mổ thất bại. Các nhà ngoại khoa phải làm việc trong những
điều kiện hết sức khắc nghiệt. Người ta hạn chế số lượng và loại bệnh được giải
quyết bằng phẫu thuật. Ở Ba Tư cổ, các nhà ngoại khoa không được phép hành
nghề cho đến khi học đã mổ thành công 3 ca. Nếu thất bại, anh ta bị tuyên bố trọn

Cũng có sử sách ghi lại rằng, từ năm 1200, các nhà ngoại khoa là những nhà thực
hành riêng rẽ, họ hay đến hành nghề ở những thành phố mới hình thành và có
quan hệ với các băng nhóm tội phạm. Thỉnh thoảng họ được nhận vào các viện đại
học, ở đó, họ có thể được giảng bài. Về sau, họ tự tách ra và tổ chức nên những
trường đại học riêng của họ, như Collège de St. Côme ở Paris. Ra trường cũng có
tấm áo choàng dài như là mục sư, thợ cạo và những nhà phẫu thuật ít học. Các
thầy thuốc ở thời kỳ này thích các bác thợ cạo vì họ là những người đơn giản, dễ
sai bảo và gọi họ là những bác sĩ có học.
Các thợ cạo và các nhà ngoại khoa ở Anh đã tách ra khỏi các nhóm tội phạm và
lập thành hiệp hội từ thế kỷ XIV. Đến năm 1542, Hiệp hội các nhà Phẫu thuật và
Thợ cạo được thành lập và có những quyền lợi, trách nhiệm riêng. Các nhà ngoại
khoa thì không làm công việc của thợ cạo và thợ cạo thu hẹp công việc của họ
trong ngành nha. Hiệp hội kéo dài trong 200 năm, đến năm 1745các nhà ngoại
khoa tự tách ra và thành lập hội riêng, hoạt động độc lập vì ganh tị về đặc quyền
và để bảo vệ những lợi ích riêng. Năm 1800, vua George III cho phép thành lập
Đại học Ngoại khoa Hoàng gia Luân Đôn, mà sau này là Đại học Hoàng gia Anh
được Nữ hoàng Victoria cấp phép năm 1843.
Các nhà ngoại khoa trong 4 thế kỷ qua có nhiều mục đích chung cũng giống các
đồng nghiệp của họ ngày nay. Sự trung thực chẳng hạn, điều mà Peter Lwe, nhà
ngoại khoa người Anh (1550- 1613) đã nói trong “A Discourse of the Whole Art
of Chirurgerie” (1597), cuốn sách về ngoại khoa đầub tiên bằng tiếng Anh. Ông đã
hỏi:“ What’s chirurgerie?” và tự trả lời:” Đó là một khoa học hay nghệ thuật thực
hiện trên cơ thể con người, dùng tay để hành động trong mục đích làm lành vết
thương nagy có thể phải sử dụng cả những phương thuốc theo kinh nghiệm”. Sách
của ông gồm 5 đề mục mà Paré cũng đã ứng dụng, đó là cắt bỏ, nâng đỡ và thêm
vào, đặt lại vào chỗ cũ khi bị thoát ra ngoài, tách ra, nối lại những gì bị tách rời.
Như vậy, những nhà ngoại khoa tiên phong này đã có quan điểm về rõ ràng về
nhiệm vụ của mình.
Thomas Vicary, nhà ngoại khoa giữa thế kỷ 16 là tác giả nói về một nhà ngoại
khoa khoa giỏi phải như thế nào? "Những đức tính mà người ấy trở thành một nhà

khác để điều trị vết thương do đại bác.
Chúng ta thấy cách xử trí ngoại khoa của Paré rất giống như chúng ta, vì vậy mà
tên ông vẫn còn lẫy lừng cho đến ngày nay. Paré đã nhấn mạnh tầm quan trọng
của giải phẫu học mà ở thời kỳ của ông, các nhà ngoại khoa chưa ai thấy điều đó.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status