Đề Cương
LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Câu 1 : Sự phát triển của văn minh Ai Cập cổ đại? Tại sao tín ngưỡng của người Ai Cập
cổ không phát triển thành tôn giáo lớn ?
Trả lời:
Cơ sở hình thành: (trang 12, 13, 14)
• Địa lý và dân cư.
• Các thời kì lịch sử chính của Ai Cập cổ đại : Lịch sử Ai Cập cổ đại có thể chia ra làm 5 thời kì
chính sau:
- Thời kì TảoVương quốc (khoảng 3200 - 3000 năm TCN).
- Thời kì Cổ Vương quốc ( khoảng 3000 - 2200 năm TCN).
- Thời kì Trung Vương quốc ( khoảng 2200 - 1570 năm TCN).
- Thời kì Tân Vương quốc ( khoảng 1570 - 1100 năm TCN).
- Ai Cập từ thế kỉ X – I TCN.
Thành tựu cơ bản:
• Chữ viết:
- Khoảng hơn 3000 năm TCN, người Ai Cập cổ đại đã sáng tạo ra chữ tượng hình.
- Từ chữ tượng hình, sau này người Ai Cập cổ đại đã hình thành ra hệ thống 24 chữ cái.
Những chữ tượng hình của người Ai Cập được khắc trên đá, viết trên da, nhưng nhiều nhất là
được viết trên vỏ cây sậy papyrus.
• Về văn học:
- Những tác phẩm tiêu biểu còn lại như Truyện hai anh em, Nói Thật và Nói Láo, Đối
thoại của một người thất vọng với linh hồn của mình, Người nông phu biết nói những điều
hay
• Tôn giáo :
- Người Ai Cập cổ đại theo đa thần giáo, họ thờ rất nhiều thần.
- Người Ai Cập cổ tin rằng con người có hai phần: hồn và xác. Vì vậy những người giàu
có tìm mọi cách để giữ gìn thể xác. Kĩ thuật ướp xác vì vậy cũng rất phát triển.
• Kiến trúc điêu khắc :
- Người Ai Cập cổ đại đã xây dựng rất nhiều đền đài, cung điện, nhưng nổi bật nhất
phải kể đến là các kim tự tháp hùng vĩ, vĩnh cửu. Người thiết kế ra Kim tự tháp đầu tiên để
nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo, và không có 1 hệ
thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ, rời rạc. Tín
ngưỡng nếu phát triển đến mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo. Và các hình thức tín
ngưỡng hay tôn giáo dù rộng hẹp khác nhau, dù phổ quát toàn thế giới hay là đặc thù cho mỗi
dân tộc… thì đều là 1 thực thể biểu hiện niềm tin vào cái thiêng chung của con người mà thôi.
Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng thể hiện ở 1 số điểm như : tôn giáo có hệ thống
giáo lý, kinh điển… được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh đường, học
viện,… có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng
như nhà thờ, chùa, thánh đường…, nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới
thần linh và con người. Còn tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền
thoại, thần tích, truyền thuyêt. Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa
dân gian, cuộc sống và sinh hoạt của con người và lý giải các hiện tượng siêu nhiên lúc bầy
giờ. trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn
phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ… Như vậy có thể thấy tín ngưỡng ở AC cổ đại chỉ
dừng lại ở việc tin vào các vị thần của họ như: các thần tự nhiên, động vật, linh hồn người
chết, thần đá, thần lửa, thần cây,…Về sau, cùng với sự hình thành nhà nước tập quyền trung
ương, thần Mặt trời trở thành vị thần quan trọng nhất, nơi thờ thần MT đầu tiên là thành
Iunu…
Câu 2: “ Tất cả đều sợ thời gian nhưng thời gian sợ kim tự tháp”. Vì sao?
Trả lời:
Thành tựu của các nền văn minh cổ đại trên thế giới là minh chứng cho sự phát triển
và trình độ của con người xưa khi mà cả khoa học và kỹ thuật đều chưa ra đời và phát triển.
Các giá trị văn hóa vật thể còn tồn tại cho đến ngày nay được coi như vô giá, nó là kho tàng
quan trọng giúp con người có thể nghiên cứu và khám phá về sự phát triển của một thời kỳ
lịch sử từ rất lâu đời. Trong số các sản phẩm tiêu biểu của nền văn minh cổ đại phải kể đến
kim tự tháp của Ai Cập cổ đại. Đây được coi là một trong những công trình vĩ đại nhất của
con người trong thời cổ đại, nó vượt qua sự khắc nghiệt của thời gian và tự nhiên để tồn tại
cho đến ngày nay. Đã từng có câu nói: “Tất cả đều sợ thời gian nhưng thời gian sợ Kim tự
tháp”. Câu trả lời cho quan điểm trên được lý giải như sau:
Kim tự tháp là ngôi mộ của các vị vua AC thuộc vương triều III, vương triều IV thời
thành.
Việc xây KTT, như Hê rô đôt đã nói rằng : “ đã đem lại cho Ai Cập cổ đại không biết
bao nhiêu tai họa:. Nhưng nhân dân Ai Cập cổ đại, bằng bàn tay và khối óc của mình đã để lại
cho nền văn minh nhân loại những công trình kiến trúc vô giá. Trải qua gần 5000 năm, cac
KTT hùng vĩ vẫn đứng sừng sững ở vùng sa mạc Ai Cập bất chấp thời gian và mưa nắng. Vì
vậy, từ lâu người A rập đã có câu : “ Tất cả đều sợ thời gian, nhưng thời gian phải sợ KTT:.
Và cũng chính vì vậy, từ thời cổ đại, người ta đã xếp KTT Kê ốp là kỳ quan số 1 trong 7 kỳ
quan thế giới. Đến nay trong 7 kỳ quan ấy, cũng chỉ còn lại mỗi KTT mà thôi.
Cho đến ngày nay, chính các nhà khoa học cũng chưa thể lý giải nổi tạo sao các phiến
đá lớn đến vậy lại được đưa lên cao để xây dựng KTT, hơn nữa các phiến đá lại có sự ăn khớp
đến mức khó tin… Trong khi mà khoa học vẫn chưa chứng minh được các ẩn số đó thì KTT ở
AC vẫn còn hiên ngang trước không gian, thời gian, thời tiết khắc nghiệt của nắng và cát bụi
trên sa mạc để tồn tại cho đến ngày nay, mặc dù mọi vạn vật trong vũ trụ này đều sẽ biến mất
trước thời gian nhưng KTT thì vẫn còn tồn tại và nó được coi là biểu tượng của sự vĩnh hằng
giống như các vị vua Pharaon của người dân Ai Cập cổ đại vậy.
Câu 3: Tìm ra những yếu tố chứng tỏ Ấn Độ có nền văn hóa phát triển?
Trả lời:
Ấn Độ có một di sản văn hóa phong phú và đặc trưng duy nhất, và họ luôn tìm cách
giữ gìn những truyền thống của mình trong suốt thời kỳ lịch sử trong khi vẫn hấp thu các
phong tục, truyền thống và tư tưởng từ phía cả những kẻ xâm lược và những người dân nhập
cư. Nhiều hoạt động văn hoá, ngôn ngữ, phong tục và các công trình là những ví dụ cho sự
đan xen văn hóa qua hàng thế kỷ đó. Những công trình nổi tiếng như Taj Mahal và các công
trình kiến trúc có ảnh hưởng Hồi giáo là di sản từ triều đại Mughal. Chúng là kết quả của một
truyền thống hợp nhất mọi yếu tố từ mọi phần của quốc gia
+ Ẩm thực Ấn Độ rất đa dạng, về thành phần, hương vị và cách chế biến khác biệt
theo từng vùng. Gạo và bột mì là hai thực phẩm chính của nước này. Ấn Độ nổi tiếng về số
lượng các món chay và không chay. cuisine.
+ Âm nhạc Ấn Độ được thể hiện ở rất nhiều hình thức. Hai hình thức chính của âm
nhạc cổ điển là Carnatic từ Nam Ấn, và Hindustani từ Bắc Ấn. Các hình thức phổ thông của
âm nhạc cũng rất phổ biến, nổi tiếng nhất là âm nhạc Filmi. Ngoài ra còn có nhiều truyền
bang Punjap và ngôi đền thiêng liêng của họ là ngôi đền Vàng ở Punjap.
Câu 4: Tạo sao nói Ấn Độ là 1 trong những văn minh lớn của nhân loại?
Trả lời:
Văn minh là sự kết hợp đầy đủ các yếu tố tiên tiến tạo thời điểm xét đến để tạo nên,
duy trì, vận hành và tiến hóa xã hội loài người. Các yếu tố của văn minh có thể hiểu gon lại là
di sản tích lũy tri thức, tinh thần và vật chất của con người kể từ khi loài người hình thành cho
đến thời điểm xét đến. Đối nghịch với văn minh là hoang dã, man rợ, lạc hậu. Khái niệm văn
minh chỉ mang tính tương đối, có tính so sánh tại thời điểm xét đến mà không có giá trị tuyệt
đối.
Ấn Độ là 1 trong những nền văn minh lớn của nhân loại. Để trở thành 1 nền văn minh
lớn của nhân loại Ấn Độ đã có những sự thay đổi và phát triển từ rất sớm trong lịch sử loài
người và có những thành tựu rực rỡ trên các lĩnh vực của xã hội. Những thành tựu đó không
những là những giá trọ tinh thần vô giá mà còn có những tác động lớn đến xã hội loài người
ngày nay. Những sự tác động ấy biến Ấn Độ trở thành 1 trong những trung tâm văn minh lớn
của nhân loại.
Điều kiện và lịch sử tự nhiên cho thấy Ấn Độ là 1 cơ sở hình thành 1 nền văn minh
lớn. Điều kiện tự nhiên : bán đảo Ấn Độ thuộc Nam Á gần như hình tam giác. Ở phía bắc, bán
đảo bị chắn bởi dãy núi Hymalaya. Từ bên ngoài vào Ấn Độ rất khó khăn, chỉ có thể qua các
con đèo nhỏ ở tây-bắc Ấn Độ. Đông nam và tây nam Ấn Độ giáp Ấn Độ Dương.
Hằng năm tới mùa tuyết tan, nước từ dãy Hymalaya theo 2 con sông Ấn và sông Hằng
lại đem phù sa tới bồi đắp cho những cách đồng ở Bắc Ấn. Nền văn minh ở lưu vực sông Ấn
đã thầm đượm những tư tưởng và hình thức nghệ thuật mà về sau người ta xem như bản sắc
tiêu biểu cho Ấn Độ.
Năm 326 TCN Alexandros người Macedonia vượt sông Indus và đánh thắng 1 trận
quyết định và rút về. Cuộc xâm lăng của ông đã để lại dấu ấn của thế giới Hy Lạp, nâng văn
hóa Ấn Độ lên 1 tầm cao mới.
Năm 320 TCN, Hoàng đế Maurya thống nhất trở lại toàn bộ các bộ lạc rời rạc và
thành laaoj chế độ tập quyền, kinh đô được đặt lại tại Pataliputa.
Đế chế Gupta thời kỳ hoàng kim của nền văn minh Ấn Độ thuộc vào thời kỳ triều đại
Gupta. Thời kỳ này có nhiều thành tựu nổi bật về văn hóa trồng trọt. Thời kỳ này nền văn
Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina, được xây dựng
vào khoảng tki 13 và lăng Taj Mahan được xây dựng vào khoảng tki 17.
Khoa học tự nhiên: Về Thiên văn, người Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia 1 năm ra
làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày. Cứ sau 5 năm thì họ lại thêm vào 1 tháng nhuận.
Về Toán học : Người Ấn Độ thời cổ đại chính là chủ nhân của hệ thống chữ số mà
ngày nay ta quen gọi là số Arập. Đóng góp lớn nhất của họ là đặt ra số 0, nhờ vậy mọi biến
đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn lên. Họ tính được căn bậc 2,bậc 3; đã có hiểu
biết về cấp số, biết quan hệ giữa 3 cạnh trong 1 tam giác; Pi = 3,1416.
Về Vật lí: người Ấn Độ cổ đại đã mô tả các dây gân, cách chắp ghép xương sọ, cắt
màng mắt, theo dõi quá trình phát triển của thai nhi. Họ để lại 2 quyển sách là “ Y học toát
yếu” và “ Luật khảo về trị liệu”.
Tư tưởng: Tôn giáo Ấn Độ là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo như : Ấn Độ giáo ( Đạo
Bàlamôn) , Phật giáo, đạo Jaina và đạo Sikh.
Như vậy, với những điều kiện và sự hình thành cùng với những thành tựu rực rỡ của
Ấn Độ cho thấy Ấn Độ là 1 trong những nền văn minh lớn của nhân loại cùng với các nền văn
minh Ai Cập, Lưỡng Hà, … Những thành tựu của nền văn minh Ấn Độ có ảnh hưởng 1 cách
sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, không chỉ vậy nó còn có sức lan
tỏa rất rộng ra các quốc gia và các vùng lãnh thổ khác trên TG. Tiêu biểu có sự lan tỏa của
tôn giáo và đặt biệt là phật giáo. Văn minh Ấn Độ đã có sự đóng góp quan trọng trong tiến
trình phát triển của lịch sử nhân loại.
Câu 5: Vì sao nói: “ Cái gì không thấy được trong Mahabharata thì cũng không thể nào
thấy được ở Ấn Độ” ( Ngạn ngữ cổ Ấn Độ).
Trả lời:
Ấn Độ là 1 trong những cái nôi lơn của văn minh nhân loại, nơi đây là nơi mà đã có sự
bắt đầu sớm nhất của các giá trị tinh thần vượt thời gian, các công trình kiến trúc vĩ đại chưa
từng xh trong lịch sử loài người. Những thành tựu lớn của văn minh Ấn Độ càng có tầm quan
trọng với chúng ta ngày nay. Văn học Ấn Độ là 1 trong những chứng cứ quan trọng là cơ sở
và là sách toàn thư mở để chúng ta tìm hiểu đầy đủ nhất về xã hội và con người ở Ấn Độ thời
cổ đại, Và “ cái gì không thấy được trong Mahabharata thì không thể nào thấy được ở Ấn
Độ”. Trong văn học Ấn Độ, các hình thức truyền khẩu và viết đều quan trọng. Truyền thống
và lý tưởng sống của con người. Đồng thời xay dựng 1 xã hội bình yên, xóa đi mọi thù hận,
lòng tham và ích kỷ của mình.
Giá trị nghệ thuật : Nghệ thuật xây dựng nhân vật : Yudhi đức độ, sáng suốt, bình
tĩnh Acgiuna dũng cảm, kiên hùng. Bhima xông xáo, sôi nổi, quyết giữ lời thề cho đến chết.
Kacna hùng dũng và kiêu căng. Karisna tài chí siêu việt…Drita tuy mù nhưng vẫn oai nghiêm
trong cốt cách của ông vua hùng và xảo quyệt. Về Nghệ thuật xây dựng tình huống: Càng đọc
sử thi Mahabharata người đọc càng bị lôi cuốn vào quang cảnh chiến tranh tràn đầy hòa khí
sôi động, cảm xúc khi các tướng lĩnh tài giỏi gục ngã. Ấn Độ là nước luôn tôn vinh tình yêu
và niềm hoan lạc vô biên. Trong tác phẩm, tình yêu đc thể hiện trong mqh của nàng Draupadi
với 5 anh em nhà Panda với những gắn bó khác nhau.
Ảnh hưởng của sử thi tới xã hội: Bộ sử thi này đã tác động rất lớn đến đs tinh thần và
tập tục của người dân Ấn Độ. Mahabharata có sự ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới đặt biệt ở
ĐNA. Rất nhiều cốt truyện được phóng túng từ sử thi này ở các nước ĐNA. Ở campuchia,
Mahabharat đã xh khá sớm bằng hình ảnh của các phù điêu trên Ăngco và các đền khác.
Như vậy, Mahabharata là sử thi lớn nhất của Ấn Độ và thế giới, nó được ví như bộ
bách khoa toàn thư ghi lại toàn bộ đời sống văn hóa xã hội. thông qua đó chúng ta cũng thấy
được người dân Ấn Độ đề cao tính nhân sinh sự chính nghĩa và các giá trị của cuộc sống. Nó
trở thành 1 vật báu quý giá trong kho tàng văn học của Ấn Độ, là cảm hứng cáng tạo cho hội
họa, điêu khắc, thơ ca, điện ảnh,… Không chỉ vậy mà nó còn ảnh hưởng ra cả thế giới.
Câu 6: Bức tranh tôn giáo ở Ấn Độ.
Trả lời:
Bức tranh tôn giáo ở ÂĐ là 1 bức tranh đầy màu sắc về sự hình thành, phát triển và
suy yếu của các tôn giáo như Ấn Độ giáo, Phật giáo, đạo Jaina và đạo Sikh.
Đạo Bàlamôn mà sau này là Ấn Độ giáo ra đời vào khoảng TK 15 TCN trong hoàn
cảnh đang có sự bất bình đẳng rất sâu sắc về đẳng cấp và đạo này chứng minh cho sự hợp lý
của tình trạng bất bình đẳng đó.
Đạo phật ra đời vào khoảng giữa thiên niên kỷ 1 TCN do thái tử Xitđacta và Gôtama,
hiệu là Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) khởi xướng. Các tín đồ Phật giáo lấy năm 544 TCN là
năm thứ nhất theo Phật lịch, họ cho đây là năm Đức phật nhập niết bàn. (Vì vậy, những người
châu Á theo đạo phật trước kia vẫn để ý đến ngày qua đời hơn ngày ra đời khác hẳn người
kỳ bí của tự nhiên, họ tự xd cho mình niềm tin vào các đấng siêu nhiên, kiếp luân hồi. Họ
thực sự tin vào những điều đó làm cho sự lớn mạnh của các tôn giáo này càng lớn dần và ăn
sâu vsof suy nghĩ của con người trong xh. Tôn giáo còn phản ánh 1 phần quan trọng về cs của
con người Ấn Độ khi mà sự phát triển của các tôn giáo kéo theo hình thành các giáo lý và các
phương thức thi hành các tín ngưỡng tôn giáo của họ. Nó phản ảnh trình độ nhận thức của 1
xh bấy giờ. Tuy nhiên mỗi tôn giáo lại có sự thể hiện về xh theo cách khác nhau do sự ảnh
hưởng trực tiếp của nó vào trong đời sống.
Câu 7: Phật thích ca từng nói: “… Cũng như nước đại dương chỉ có 1 vị mặn, học thuyết
của ta chỉ có 1 vị là cứu vớt…” Hãy chứng minh luận điểm trên.
Trả lời:
Nội dung tư tưởng của đạo Phật thể hiện trong lời nói của đức Phật: “ Trước kia và
ngày nay ta chỉ nêu ra và lý giải các chân lý về các nỗi đau khổ và giải thoát các nỗi đau khổ.
Cũng như nước chỉ có 1 vị mặn. Học thuyết của ta chỉ có 1 vị đó là sự cứu vớt”. Như vậy, hạt
nhân triết lí cơ bản của đạo Phật là đề cao tình yêu thương của con người đối với chúng sinh
tập trung ở trong “ tam tạng kinh điển”. Bên cạnh đó, tư tưởng triết học đạo Phật còn ảnh
hưởng sâu sắc tín ngưỡng đa thần của người Arya, đặc biệt là ảnh hưởng triết lý từ đạo
Baflamon như thuyết nhân-quả, thuyết luân hồi nghiệp báo. Chính vì những yếu tố này mà về
sau đạo Phật bị lên án, phê phán là tiêu cực, thủ tiêu đấu tranh giai cấp. Nội dung tư tưởng
triết lí cơ bản của đạo Phật thể hiện ở 2 vấn đề chính là quan niệm về thế giới quan và nhân
sinh quan. Nội dung tư tưởng, triết lí cơ bản của Phật giáo thể hiện rõ nhất ở “ tứ diệu đế” –
tức là 4 chân lý huyền diệu cao siêu để giải thoát nỗi khổ của chúng sinh gồm: Khổ Đế – Tập
Đế – Diệt Đế - Đạo Đế. Đức Phật khẳng định: “trước kia và ngày nay ta chỉ nêu ra và lý giải
các chân lý về các nỗi đau khổ và giải thoát các nỗi đau khổ. Cũng như nước của đại dương
chỉ có một vị mặn. Học thuyết của ta chỉ có một vị, đó là sự cứu vớt”.
+ Khổ đế:
Là chân lý bàn về các nỗi khổ của con người. Đạo phật cho rằng cuộc sống con người
là khổ ải. Khổ đau là tuyệt đối, là bản chất của sự tồn tại của cuộc sống. Cuộc sống của chúng
sinh là bể khổ. Trong các nỗi khổ mà từng chúng sinh phải chịu đựng có bốn nỗi khổ lớn gọi
là “tứ khổ”: sinh – lão – bệnh – tử khổ.
Ngoài ra, Phật giáo còn khẳng định nỗi khổ của chúng sinh tồn tại ở những dạng khác
Phật cho thấy tất cả những quan niệm này nhằm chống lại đạo Bàlamôn, chốnglại sự bất bình
đẳng trong xã hội. Chính vì lẽ đó mà những tư tưởng cơ bản của triết lý Phật giáo mang nhiều
yếu tố duy vật sơ khai tiến bộ gắn bó với cuộc sống của con người. Từ quan niệm trên, đạo
Phật không thừa nhận xã hội có đẳng cấp. Đức phật nói rằng “không thể có đẳng cấp trong
những dòng máu cùng đỏ như nhau. Không thể có đẳng cấp trong những giọt nước mắt cùng
mặn như nhau”.
Về tích cực:
+ Chủ trương giải thoát con người khỏi những nỗi khổ đau; thực hiện bình đẳng giữa
các chúng sinh chống lại quan điểm phân biệt đẳng cấp, khuyên con người phải thương yêu
lẫn nhau. Đây chính là tư tưởng nhân văn cao cả phù hợp với đại bộ phận nhân dân bị áp bức,
đáp ứng nhu cầu của xã hội đương thời và chống lại chế độ đẳng cấp Vacna hà khắc. Và trên
thực tế, đạo Phật góp phần làm loãng rất nhiều quan niệm khắt khe của đạo Bàlamôn và
Vacna.
+ Trong hoàn cảnh xã hội ấn Độ thời cổ đại, đạo Phật đã đề ra được lý thuyết về con
đường giải thoát về mặt ý thức. Điều này làm cho quần chúng nhân dân tin tưởng vì tìm thấy
ở đạo này một sự an ủi, một niềm tin vào tương lai.
+ Nghi lễ đạo phật rất đơn giản, điều này phù hợp với hoàn cảnh của người dân lao
động nghèo khổ thuộc các đẳng cấp dưới cho nên nó được hưởng ứng nhiệt tình. Đạo phật
phản ánh tình yêu thương đồng loại.
Về tiêu cực:
Giáo lý của đạo phật về nguồn gốc các nỗi khổ đau không phù hợp với thực tế. Học
thuyết tự tu dưỡng của đạo Phật không góp phần làm giảm mâu thuẫn xã hội mà đẩy mâu
thuẫn đó lên đỉnh cao của nó. Và đương nhiên những tư tưởng của đạo Phật không hợp với
một xã hội còn đầy dẫy những bất công trong xã hội ấn Độ cổ đại bấy giờ.
Nhưng xét cho cùng, sự ra đời của đạo Phật với những tư tưởng triết lý cơ bản trên
cũng đã có thể coi là một cuộc cách mạng vĩ đại trong xã hội ấn Độ cổ đại chống lại những
luật lệ hà khắc do chế độ đẳng cấp Varna, luật Manu và đạo Bàlamôn tạo nên. Chính vì lẽ đó,
đạo Phật ra đời nhanh chóng phát triển mạnh mẽ về số lượng tín đồ và trở thành tôn giáo thế
giới. Và đương nhiên, những nhà sư chân đất với màu vàng thánh thiện của Phật đã tiếp tục sự
nghiệp giải thoát nỗi khổ đau của con người.
đế. (Nghiêu và Thuấn là 2 ông vua tốt nhất trong lịch sử TQ).
- Sơ đồ nhường ngôi: Nghiêu (72 tuổi) -> Thuấn (già) -> Vũ (chết đi) -> Khải (con Vũ) được
tôn lên làm vua.
TQ bắt đầu bước vào XH có nhà nước.
Thời cổ đại: có 3 vương triều nối tiếp nhau là: Hạ, Thương, Chu (còn gọi là Tam đại -
là các triều đại phong kiến thế tập cổ xưa nhất được ghi chép trong lịch sử Trung Quốc).
- Nhà Hạ (khoảng TK XXI đến XVI TCN)
- Thương (còn gòi là Ân _ Thương, TK XVI – XII TCN)
- Chu (TK XI – III TCN)
• Trung Quốc thời trung đại
- Trải qua hơn 2000 năm, Dưới sự thống trị của 14 triều đại phong kiến.
- Nổi bật:
+ Hán, Đường, Tống, Minh: những vương triều lớn là thời TQ rất cường thịnh, phát triện
về mọi mặt.
+ Minh, Thanh: lần lượt do người Mông Cổ, Mãn Châu lập nên mâu thuẫn dân tộc và giai
cấp gay gắt hạn chế sự phát triển văn hóa.
… (trang 103)
Câu 10: Nêu các thành tựu nổi bật của văn minh Trung Hoa và ý nghĩa của nó tới sự
phát triển của nhân loại ? ( giấy, thuốc súng, là bàn…)
Trả lời:
Thời trung đại Trung Quốc có 4 phát minh lớn rất quan trọng đó là: Giấy, kĩ thuật in,
thuốc súng và kim chỉ nam.
Kĩ thuật làm giấy:
• Thời Tây Hán, người Trung Quốc vẫn dung thẻ tre, lụa để ghi chép. Đến khoảng thế kỷ II,
mặc dù đã biết dung phương pháp xơ gai để làm giấy, tuy nhiên giấy thời kỳ này còn xấu, mặt
không phẳng , khó viết nên chỉ dung để gói.
• Đến thời Đông Hán, năm 105 một người tên Thái Luân đã dung vỏ cây, lưới cũ, rẻ rách…làm
nguyên liệu, đồng thời đã cải tiến kỹ thuật, nên đã làm được loại giấy có chất lượng tốt. Từ đó
giấy được dung để viết 1 cách phổ biến thay thế cho các vật liệu trước đó.
• Từ thế kỷ III nghề làm giấy được truyền sang Việt Nam và sau đó được tryền đi hầu khắp các
Điều kiện hình thành nền văn minh khu vực ĐNA:
• Điều kiện tự nhiên của ĐNA thuận lợi cho những bước đi đầu tiên của con người. Vì
thế có thể hiểu được tại sao con người đã có mặt ở vùng đất ày từ rất xa xưa. Cùng sinh tụ
trên một khu vực địa lý, cư dân ĐNA đã sang tạo ra một nền văn hóa bản địa có cội nguồn
chung từ thời tiền sử và sơ sử trước khi tiếp súc với văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ. Theo
những vật chứng để lại nhờ sự phát hiện của các nhà khảo cổ có thể thấy Văn hóa ĐNA cũng
đã trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển khác nhau và rồi dần hình thành lên một nền văn
minh mới của nhân loại.
• Sự hình thành các quốc gia ĐNA còn gắn liền với việc tiếp thu ảnh hưởng văn hóa
Trung Hoa và văn hóa Ấn Độ. Những ảnh hưởng này là khá tòa diện và sâu sắc, cả về chữ
viết, văn chương, tôn giáo, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc. Sự tiếp thu đó qua các con
đường khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là thông qua hoạt động thông thương và việc xâm
chiếm. Tuy phải chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của hai nền văn hóa lớn song ĐNA vẫn là ĐNA
một khu vực được coi là “Châu Âu giáo mùa” cũng có những bản sắc và những thành tựu
riêng biệt mang đậm chất ĐNA.
Những thành tựu cơ bản của nền văn minh ĐNA
Cư dân ĐNA lấy sản suất nông nghiệp lúa nước làm phương thức hoạt động kinh tế chủ
yếu. Do đó không chỉ có những nét tương đồng về canh tác và hệ thồng thủy lợi, mà đến các
phong tục tập quán ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng của của nền nông nghiệp lúa nước.
• Trước khi các tôn giáo được truyền bá vào ĐNA, cư dân nơi đây đã dùng thuyết “vạn
vật hữu linh” để chỉ tất cả những hình thức tín ngưởng. Trong đó sớm nhất là bái vật giáo với
những ý niệm về sức mạnh siêu nhiên của tự nhiên.
Quan niệm “vạn vật hữu linh” đã tồn tại trong các tín ngưỡng dân gian và có tác động
không nhỏ đến các tôn giáo được truyền bá vào và một phần làm biến dạng nó, biến nó thành
cái của mình: như Ăng co vát ở Campuchia, Bánh xe luân hồi bằng đá ở Thái Lan.
• Khác với văn hóa chữ viết của người Hán và Ấn Độ, văn hóa cư dân nông nghiệp
ĐNA tắm mình trong nền văn hóa dân gian. Tín ngưỡng, lễ hội gắn liền với chu ký nông
nghiệp, thờ cúng tổ tiên. Cơ cấu của lễ hội bao gồm hai phần đó là Lễ và Hội đan xen hòa
quyện vào nhau rất khăng khít, Ngoài ra lễ hội khu vực ĐNA còn mang tính chất thống nhất
cao như Tết cổ truyền ở các nước đều có với hình thức gần giống nhau và thời điểm cũng
triển của quan hệ sản xuất Tư bản chủ nghĩa.Và sự phát triển của g/c TS đang lên cần phải có
hệ tư tưởng và nền VH riêng để phục vụ cho đời sống tinh thần của mình, để đấu tranh với hệ
tư tưởng lỗi thời của giáo hội và g/c quý tộc phong kiến đang cản trở sự phát triển XH.
Hoàn cảnh lịch sử:
Diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử Tây Âu diễn ra nhiều sự kiện quan trọng:
+ Sự xuất hiện nhiều phát minh khao học quan trọng: Các máy móc như: vành sắt, máy ngựa,
vai cày, xe cút kít, cối xay gió, đồng hồ cơ học, giải toán học,
+ Thời kì diễn ra nhiều cuộc phát kiến lớn về địa lý mang lại những hiệu quả to lớn và sâu
sắc đã thúc đẩy sự phát triển KT và thương mại mang tính chất thế giới rõ rệt, làm cho Tây
Âu giàu lên nhanh chóng thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo những tiền đề quan trọng cho sự ra
đời của g/c tư sản Châu Âu.
+ Đây là thời kỳ bùng nổ các cuộc cải cách tôn giáo và cuộc đấu tranh của g/c nông dân
chống lại các lãnh chúa phong kiến. Tiêu biểu là cải cách tôn giáo và chiến tranh nông dân
Đức thế kỷ XVI.
+ Đây là thời kỳ Chủ nghĩa chuyên chế thắng lợi ở một số nước lớn & chủ nghĩa dân tộc
đang hình thành.
+ Riêng Italia sở dĩ trở thành quê hương đầu tiên của Vh Phục Hưng vì phong trào ở đây ra
đời sớm.
Đây vốn là quê hương của nền Văn hoá La Mã cổ đại. La Mã lại tiếp thu nền văn minh Hy
Lạp.
Sự xuất hiện tầng lớp giàu có đã kích thích sự sáng tạo nghệ thuật của các nghệ sĩ. Từ
Italia đã truyền sang các nước Anh, Pháp, Đức. Thủy Sĩ,….
Tính chất:
• Khẳng định Phong trào VH Phục Hưng mang tính chất Tư sản. Là phong trào VH
hoàn toàn mới dựa trên nền tảng KT-XH mới và được chỉ đạo bởi một hệ tư tưởng mới, thực
chất đây là cuộc cm văn hóa tư tưởng mang tính chất TS mới ra đời, nhằm chống lại quan
điểm lỗi thời, ràng buộc tư tưởng tình cảm của con người, kìm hãm sự phát triển của XH, của
chế độ phong kiến, giáo hội thiên chúa.
• Điểm tiến bộ của phong trào VH Phục Hưng:
- Phong trào thể hiện nội dung chống giáo hội thiên chúa và chống phong kiến, mang tính chất
về địa lí của các nhà thám hiểm Châu Âu ở thế kỉ 15 - 16. Ở giai đoạn này, nhu cầu tiêu thụ
đặc sản phương Đông như hương liệu, tơ lụa, vàng bạc, đá quý, vv… ngày càng tăng đã khiến
những kẻ phiêu lưu, khát khao quyền lực và của cải ở Tây Âu muốn tìm những con đường
mới sang phương Đông mà không phải đi qua vịnh Ba Tư đã bị người Thổ Nhĩ Kì ngăn chặn.
Bên cạnh đó, những tiến bộ về khoa học kĩ thuật như kĩ thuật đóng tàu gỗ có buồm và bánh
lái Caraven, phát minh la bàn, những hiểu biết về hàng hải và về Trái Đất, đầu óc thực tiễn và
duy lí là những điều kiện thuận lợi giúp các nhà thám hiểm đi được xa.
Phát kiến địa lý có ý nghĩa trọng đại và đã mở ra một trang sử mới trong tiến trình lịch
sử loài người, vì:
• Những chuyến đi thám hiểm, tìm những vùng đất mới trong các thế kỷ XV, XVI của
những nhà hàng hải nổi tiếng đã mở ra một chương mới trong lịch sử thế giới. Đó là tìm ra 1
lục địa mới là Châu Mỹ, 1 đại dương mà người châu Âu chưa biết, được đặt tên là Thái bình
dương, mở ra những con đường biển đến các châu lục.
Từ chính những chuyến đi thám hiểm, khám phá những vùng đất mới này đã phát
hiện ra những thị trường mới, đem lại những khả năng mới cho sự giao lưu Kinh tế & văn
hoá, thúc đẩy mối giao lưu thương mại trên toàn thế giới về cả nội dung và hình thức.
• Trước những phát triển về kỹ thuật và nhu cầu tìm kiếm những nguyên liệu mới, thị
trường mới đã đặt ra nhu cầu bức thiết là phải tìm ra con đường buôn bán nối liền phương Tây
và phương Đông (nơi có giàu nguyên liệu) nhu cầu hợp tác.
• Sau những cuộc phát kiến này, đó là một sự tiếp xúc giữa các nền văn hoá trên thế
giới diễn ra do các cá nhân có nguồn gốc văn hoá khác nhau như các giáo sĩ, nhà buôn, những
người khai phá vùng đất mới, những quân nhân
+ Những cuộc di chuyển dân cư trên quy mô lớn.
+ Hoạt đông thương mại trở nên nhộn nhịp, các thành thị trở nên sầm uất. Việc buôn bán
được mở rộng trên phạm vi toàn thế giới hình thành các tuyến đương thương mại nối liền
châu Âu – Phi – Á, và tạo nên tam giác mậu dịch. Nhiều thành phố và trung tâm thương mại
xuất hiện.
+ Công cuộc thám hiểm các vùng đất mới cũng làm nảy sinh nạn buôn bán nô lệ da đen và
chế độ thực dân tàn bạo. Nhiều nô lệ da đen cũng bị cưỡng bức rời khỏi quê hương xứ sở
sang Châu Mĩ, … Những cuộc phát kiến địa lí này cũng gây ra không ít hậu quả tiêu cực như
động thủ công. Với việc sử dụng máy hơi nước, các nhà máy ở Anh bắt đầu hình thành.
Với máy hơi nước, hoạt động giao thông cũng trở lên phát triển với sự ra đời của tàu
hỏa chạy bằng động cơ hơi nước rồi tàu thủy cũng được trang bị động cơ này. Năm 1804,
chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước đã ra đời. Đến năm 1829, vận tốc xe lửa đã
lên tới 14 dặm/giờ. Thành công này đã làm bùng nổ hệ thống đường sắt ở Châu Âu và Mĩ.
Năm 1807, Phơntơn (Robert Fulton) đã chế ra tàu thuỷ chạy bằng hơi nước thay thế cho
những mái chèo hay những cánh buồm. Thực sự động cơ hơi nước đã làm được những
điều thật tuyệt vời cho quá trình công nghiệp hóa ở các nước Phương Tây, đặc biệt là
nước Anh – nơi được coi là “công xưởng của thế giới”.
Cách mạng công nghiệp không chỉ đơn thuần là cuộc cách mạng công cụ, nó đã gây ra
những biến đổi lớn trong quan hệ xã hội và cấu tạo giai cấp. Ăngghen từng nhận xét: “Hơi
nước và máy công cụ mới đã biến công trường thủ công thành đại công nghiệp hiện đại và do
đó đã cách mạng hóa toàn bộ nền móng của xã hội tư bản”.
Như vậy có thể nói rằng sự ra đời của máy hơi nước thực sự đã làm lên một cuộc
cách mạng của con người trong việc khám phá và chinh phục thế giới xung quanh. Động cơ
hơi nước là cơ sở đánh cho toàn bộ nền công nghiệp sau này, nó quyết định tới sự phát triển
của mọi loại hình hoạt động trong xã hội có nhu cầu sử dụng đến sức thay thế loa động thủ
công tay chân. Động cơ hơi nước có ý nghĩa quan trọng trong thành tựu văn minh của con
người.
Câu 21: Trình bày những hiểu biết của anh chị về “Kinh tế tri thức”. Cho Ví dụ minh
hoạ?
Trả lời:
Khái niệm kinh tế tri thức manh nha xuất hiện từ đầu những năm 1960 của thế kỷ
trước, tiên phong bởi Fritz Machlup và Peter Drucker. Trong hơn bốn thập kỷ qua, đã có
nhiều nghiên cứu nhằm xác định và giải thích cơ chế của nền kinh tế này. Trong những năm
qua kinh tế tri thức được chọn làm chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, cả những nước
phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên, kinh tế tri thức là khái niệm không dễ hiểu vì dựa
trên hai khái niệm trừu tượng là kinh tế và tri thức, và do vậy đã được hiểu nhiều ít khác
nhau.
Nền kinh tế tri thức, còn gọi là kinh tế dựa vào tri thức (Knowledge - BasedEconomy)
Sự phát triển:
• Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, các quốc gia có nền kinh tế và khoa học công
nghệ phát triển đã đề ra những chương trình, chiến lược nhằm hướng nền kinh tế phát triển
theo những đặc trưng của kinh tế tri thức.
+ Có thể kể đến những ví dụ điển hình như: từ 1984 đến nay, mỗi năm chính phủ Mỹ chi
hàng trăm tỷ USD cho hoạt động khoa học, công nghệ.
• Từ những năm 80 của thế kỷ XX, chính phủ Nhật đã dành cho chương trình vi điện tử
hơn 100 tỷ USD.
• Những năm 90 đến nay, nước Nhật đã dành khoảng 3% tổng sản phẩm quốc dân cho
hoạt động nghiên cứu và triển khai. Các nước Tây Âu cũng đẩy mạnh hoạt động vào lĩnh vực
công nghệ cao, như: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, điển
hình là các nước Đức, Pháp, Italia, Anh, Ba Lan để đo lường sự phát triển của kinh tế tri
thức tại các quốc gia, hiện nay có chỉ số KEI của Ngân hàng thế giới.
• Năm 2012, Thụy Điển, Phần Lan và Đan Mạch là 3 quốc gia đạt hạng cao nhất thế
giới về phát triển kinh tế tri thức với số điểm lần lượt là 9,43; 9,33 và 9,16. Trong bảng đánh
giá này, Việt Nam xếp hạng 104 với số điểm 3,4, tăng 9 bậc so với năm 2000.
Kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất tiêu biểu cho nền văn minh trí tuệ - văn minh xã
hội XHCN.
Một số vấn đề cơ bản trong thực tiễn phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện
nay:
• Thứ nhất, định hướng xã hội chủ nghĩa và kinh tế tri thức:
- Xét về bản chất, kinh tế tri thức không phải là cơ sở của nền thống trị của số ít đối với
nhân dân, của chủ nghĩa bá quyền nước này đối với nước khác.
- Từ những quan sát ấy có thể nhận rõ rằng, sự phát triển kinh tế tri thức là cơ hội chưa
từng có của sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa (với nội hàm là phát triển bền
vững).
- Liên hệ với thực tế thì thấy rằng, trong thời đại kinh tế tri thức kiên trì định hướng xã
hội chủ nghĩa là có cơ sở khoa học thực tiễn. Nhưng sự kiên trì này ở Việt Nam lại chưa được
thể hiện trong mô hình phát triển kinh tế - xã hội. Với nhứng vấn nạn về xã hội và môi trường
ngày càng tăng, với những hậu quả của tệ quan liêu, tham nhũng trong quản lý đã cho thấy
Câu 22: Hãy phân tích ảnh hưởng của thành tựu khoa học công nghệ thế giới nửa sau
thế kỉ XX đến quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay?
Trả lời:
Những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ nửa sau thế kỉ XX:
• Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã đạt được những thành tựu kì diệu trong mọi
ngành khoa học cơ bản và trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, rõ nét nhất là trong các ngành
điện tử - tin học, năng lượng mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học, kĩ thuật lade, khoa học vũ
trụ.
• Máy tính và rôbôt là những sản phẩm tiêu biểu của công nghệ điện tử-tin học:
+ Từ những chiếc máy vi tính đầu tiên ra đời vào năm 1946 đến nay, máy tính đã trải qua bốn
thế hệ. Từ những chiếc máy tính điện tử đầu tiên sử dụng bóng đèn điện tử chân không, rồi
chất bán dẫn, vi mạch (mạch tích hợp IC - Integrated Circuit), vi mạch với độ tích hợp cao.
Từ máy tính điện tử dẫn tới sự kết nối Internet, tạo ra mạng thông tin toàn cầu với khả năng
trao đổi thông tin cực nhanh, giá rẻ.
+ Đội ngũ rôbôt công nghiệp ngày càng đông đảo, thông minh hơn và lĩnh vực tham gia hoạt
động đang ngày càng mở rộng.
• Nhiều loại vật liệu mới ra đời trong hoàn cảnh vật liệu thiên nhiên ngày càng vơi cạn
dần. Những loại vật liệu mới này còn có những tính năng hơn hẳn vật liệu tự nhiên như siêu
bền, siêu cứng, siêu nhẹ Tên các loại vật liệu mới như composit, polyme, silic, sợi cáp
quang ngày càng trở nên phổ biến. Nhiều loại năng lượng mới đã được con người sử dụng
để biến thành điện năng như năng lượng nguyên tử, năng lượng Mặt Trời, năng lượng gió
• Tia lade (laser) mới được phát minh ra từ những năm 60 của thế kỉ XX nhưng đến nay
đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, từ quân sự, thiên văn, y học, công nghệ in, thông tin
liên lạc
• Công nghệ sinh học đã đạt được nhiều thành tựu đáng kinh ngạc, thậm chí đáng sợ.
Công nghệ sinh học tập trung vào bốn lĩnh vực: công nghệ gien, công nghệ tế bào, công nghệ
vi sinh, công nghệ enzim. Nhờ công nghệ sinh học, người ta đã tạo ra nhiều giống cây, con
mới với những đặc tính ưu điểm khác hẳn các giống trong tự nhiên; nhiều loại dược phẩm
mới ra đời, nhiều loại chất xúc tác mới xuất hiện
• Trong nghiên cứu vũ trụ, con người đã tiến những bước dài mà đi đầu là hai nước Liên
xuất dựa trên việc điện tử hóa và ứng dụng các thành tựu mới nhất của công nghệ vào sản
xuất. Ngoài ra, tất cả những thay đổi to lớn trong công nghệ và sản xuất đã tạo ra những thiết
bị sinh hoạt, hàng tiêu dùng mới làm thay đổi hoàn toàn lối sống của con người trong xã hội.
• Làm sự biến đổi triệt để về chất của lực lượng sản xuất, biến khoa học thành nhân tố
chủ đạo của sự phát triển nền sản xuất xã hội, thành lực lượng sản xuất trực tiếp, dẫn đến sự
biến đổi cách mạng trong cơ sở vật chất kĩ thuật của xã hội, trong tính chất và phân công lao
động xã hội. CMKH - CN tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, đòi hỏi ngày càng nâng
cao trình độ học thức chuyên môn, trình độ văn hoá, tổ chức, làm thay đổi thói quen, tập tục
lỗi thời; thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội.
• Việc áp dụng những công nghệ mới đã tạo điều kiện cho sản xuất phát triển theo chiều
sâu, giảm hẳn tiêu hao năng lượng và nguyên liệu, giảm tác hại cho môi trường, nâng cao chất
lượng sản phẩm và dịch vụ, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của sản xuất.
Nói tóm lại:
• Thành tựu khoa học công nghệ thế giới nửa sau thế kỉ XX đã có sức ảnh hưởng lớn tới quá
trình CNH – HĐH ở Việt Nam. Nó là tiền đề cho sự phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng
cơ sở vật chất kĩ thuật cho CNXH trên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất XH và áp dụng
những thành tựu KH-CN hiện đại.
• Góp phần xây dựng cơ cấu Kinh tế hiện đại và hợp lí. Đảng ta xác định cơ cấu kinh tế: Công
nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ gắn với phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng.
• Thiết lập quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN ở nước ta nhằm xây dựng XHCN. Bất cứ
sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất nhất là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đều là kết quả
tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất.