VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
o0o
Trung Thị Thu Thủy
TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI BA NA
(HUYỆN KÔNG CHRO, TỈNH GIA LAI)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội – 2014
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
o0o
Trung Thị Thu Thủy
TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI BA NA
(HUYỆN KÔNG CHRO, TỈNH GIA LAI)
Chuyên ngành: Văn hóa dân gian
Mã số: 62317005
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS. TS Nguyễn Xuân Kính
PGS. TS Bùi Văn Đạo
Hà Nội - 2014
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, bản luận án tiến sĩ:
TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI BA NA
(HUYỆN KÔNG CHRO, TỈNH GIA LAI)
Là do tôi viết, mọi trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Hà Nội, ngày tháng 02 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trung Thị Thu Thủy
KẾT LUẬN 163
KHUYẾN NGHỊ 166
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 168
TÀI LIỆU THAM KHẢO 169
PHỤ LỤC 176
4
177
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Người Ba Na là một trong những dân tộc tại chỗ sinh sống lâu đời trên cao
nguyên trung phần miền Tây của Tổ quốc. Đây là dân tộc thiểu số có dân số lớn thứ ba ở
Tây Nguyên sau hai dân tộc thiểu số Gia Rai và Ê Đê, còn nếu tính trong số các dân tộc
nói ngôn ngữ Môn – Khơ me ở Tây Nguyên thì người Ba Na là dân tộc có dân số lớn
nhất. Hiện nay người Ba Na có khoảng trên 200.000 dân (năm 2009), sống tập trung ở 2
tỉnh Gia Lai, Kon Tum và một bộ phận ở các huyện miền núi các tỉnh Bình Định và Phú
Yên. Do những lý do và đặc điểm riêng, dân tộc Ba Na không chỉ nổi tiếng về truyền
thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, theo Đảng theo cách mạng mà còn được biết đến
như là một trong số ít các dân tộc Tây Nguyên cho đến nay còn bảo lưu đậm nét nhiều
yếu tố văn hóa Môn – Khơ me truyền thống.
Nửa cuối thế kỷ XIX, xã hội của cư dân bản địa Tây Nguyên nói chung, người Ba
Na nói riêng đang ở giai đoạn cuối của thời kỳ công xã nguyên thủy. Trong giai đoạn phát
triển đó, văn hóa tinh thần của người Ba Na chịu ảnh hưởng, bị chi phối và tác động rất
lớn của tín ngưỡng nguyên thủy vạn vật hữu linh. Tín ngưỡng là sản phẩm của xã hội cổ
truyền, gắn với hình thái kinh tế - xã hội tiền công nghiệp, gắn với cơ cấu xã hội mà làng
giữ vai trò then chốt và cơ bản. Tín ngưỡng hàm chứa trong đó các giá trị, là sợi dây cố
kết các thành viên và cộng đồng, điều hòa các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Hơn một thế kỷ qua, đời sống văn hóa tinh thần của người Ba Na huyện Kông
Chro, tỉnh Gia Lai, trong đó có đời sống tín ngưỡng, đã có nhiều biến đổi lớn trước tác
động của các điều kiện mới. Hệ quả của sự biến đổi đó đã ảnh hưởng lớn đến văn hóa,
an ninh chính trị của địa phương. Nếu không giải quyết tốt bài toán tín ngưỡng thì Kông
số vấn đề đặt ra trong bối cảnh từ sau 1975 đến nay.
2.2. Mục tiêu cụ thể
2.2.1. Làm sáng tỏ một cách hệ thống và toàn diện bức tranh tín ngưỡng truyền
thống như là một khía cạnh quan trọng của văn hóa tộc người Ba Na được coi là đặc trưng
tiêu biểu cho văn hóa truyền thống các dân tộc nói ngôn ngữ Môn – Khme ở Tây Nguyên.
2.2.2. Xác định và phân tích, đánh giá một số giá trị của tín ngưỡng trong đời
sống của người Ba Na.
6
2.2.3. Phân tích, lý giải qúa trình biến đổi và các nguyên nhân gây biến đổi tín
ngưỡng của người Ba Na từ sau 1975 đến nay và những vấn đề đặt ra cho phát triển kinh
tế - xã hội dân tộc Ba Na trong bối cảnh phát triển bền vững.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dân tộc Ba Na và các khía cạnh đời sống tín
ngưỡng truyền thống của người Ba Na tại huyện Kông Chro tỉnh Gia Lai
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tín ngưỡng là một vấn đề rất rộng và khó, đòi hỏi phải có thời gian nghiên cứu và
tâm huyết mới có thể khái quát lên diện mạo của nó trong đời sống tinh thần của một tộc
người. Vì vậy, khi chọn đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu sâu ở các khía cạnh:
quan niệm về sự phân tầng vũ trụ hay ý niệm về thế giới của người Ba Na; thần và ma;
linh hồn; điềm báo (giấc mơ; điềm báo từ những con vật, cây cối ); những điều kiêng
kị; hiện tượng ma thuật và bói toán; vai trò của thầy cúng (pơ jâu, gru) trong đời sống
tinh thần của người Ba Na; những lễ thức để thấy được vai trò của tín ngưỡng trong đời
sống của người Ba Na, giá trị của tín ngưỡng như một mạch ngầm cố kết các thành viên
của cộng đồng.
3.3. Địa bàn nghiên cứu
Địa bàn khảo sát chính của chúng tôi là những làng của người Ba Na tại huyện
Kông Chro tỉnh Gia Lai như làng Tơ Nung, làng Măng (xã Ya Ma); làng Nhang lớn, làng
Nhang nhỏ, làng Htiêng (xã Đăk Kơ Ning); làng Tpông1, làng Rơng, làng Kun1, (xã Yang
Nam); làng Nghe Lớn, làng Bjang (thị trấn Kông Chro); làng Meo lớn, làng Meo nhỏ (xã
Chương 1: Tình hình nghiên cứu, lý thuyết, phương pháp và tổng quan về người
Ba Na ở huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai
Chương 2: Hệ thống tín ngưỡng của người Ba Na ở huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai
Chương 3: Gía trị, sự biến đổi và những vấn đề đặt ra với tín ngưỡng của người
Ba Na ở huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai trong bối cảnh xã hội đương đại.
8
Chương 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP VÀ
TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI BA NA Ở HUYỆN KÔNG CHRO, TỈNH GIA LAI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu tín ngưỡng của người Ba Na
Văn hóa của dân tộc Ba Na là một trong những di sản văn hóa phong phú trong
kho tàng văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam, là một mảng màu làm nên sự đa dạng, sinh
động trên bức tranh toàn cảnh của bản sắc văn hóa Việt Nam. Với nhiều lớp văn hóa tích
tụ, bồi đắp trong quá trình lịch sử dài lâu, tín ngưỡng Ba Na cho đến nay vẫn luôn là đối
tượng hấp dẫn của các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước.
1.1.1.1. Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài
Tây Nguyên là vùng đất thu hút sự quan tâm của các học giả người Pháp khi lần
đầu tiên họ đặt chân đến đây. Những công trình nghiên cứu về Tây Nguyên nói chung và
về tín ngưỡng của người Tây Nguyên nói riêng đã được họ nghiên cứu ngay từ nửa sau
thế kỷ XIX. Văn hóa Ba Na thực sự là niềm hứng thú nghiên cứu dân tộc học được
nghiên cứu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với chủ yếu là những người Pháp thuộc
Hội Truyền giáo, các sĩ quan quân đội, quan chức hành chính của chính quyền thuộc địa,
những nhà thám hiểm, những chủ đồn điền, và một số học giả chuyên làm công tác
nghiên cứu. Dẫu cho mục đích nghiên cứu có khác nhau nhưng những công trình mà họ
để lại là cả một kho tư liệu quý giá để chúng ta có thể có cái nhìn đầy đủ hơn về vùng
đất, văn hoá, con người nơi đây.
J. Pierre Combes là linh mục đầu tiên lên truyền giáo tại Tây Nguyên. Khoảng năm
1833, ông khởi viết công trình nghiên cứu dân tộc học tổng quát đầu tiên về người Ba Na.
Công trình tiếp theo là Dân Làng Hồ ( Les sauvages Bahnars) [32] của linh mục
P.Durisboure (người có 35 năm sống ở vùng dân tộc Ba Na) được công bố năm 1873.
người Ba Na tin vào giấc mơ như sau:
“Iôn kô” hay “iôn tau” là “từ bên nầy” cũng như “từ bên kia” mà chính hồn
thấy, và hành động trực tiếp hoặc gián tiếp qua thân xác. Như vậy có những
lý do để tin vào hiện thực của giấc chiêm bao của chúng ta, cũng như có
những lý do để tin vào tính khách quan của điều ta thấy, nghe và hành động
trong trạng thái thức vậy Tuy nhiên, chúng ta cũng lưu ý là nền tảng của
lòng tin này còn sâu xa hơn, và được đặt trên quan niệm ‘lấy cái tôi làm
chuẩn’, mà người thượng gán cho vũ trụ. Khi thấy vô số sự bất bình đẳng và
những chuyện kỳ quặc của thiên nhiên làm cho họ không giải thích nổi, tự
10
nhiên họ đâm ra tưởng tượng nguyên nhân của chúng nằm trong biện chứng
nội tại nơi từng sự vật, một sự xung đột biến đổi từng ngày và từng hoàn
cảnh, như tính khí của người vậy. Nói tắt, họ đã thấy trong mọi vật thể một
chủ thể được sinh động như họ và có cùng đam mê như họ [59, tr. 17].
Và những giấc mơ luôn khiến các nhóm người Ba Na thật sự quan tâm khi nó
liên quan đến lúa, buôn bán, câu cá và săn bắn, một ngôi làng hay một ngôi nhà, đánh
trận, bệnh tật và tử vong, đám cưới.
Đến công trình “Tục kết thân của người Rơngao” (Alliances chez les Reungao)
[60] viết năm 1917, ông lại nhấn mạnh thêm cơ sở cho tín ngưỡng của người Ba Na:
Nói cách khác, tất cả mọi vật đều có nguyên lý sống động và tác động đối
với thế giới con người. Cái nguyên lý đó là “hồn” được người Bahnar gọi
là “pơhngol” hay “pơngol”. Sức lực của nguyên lý sống động đó được gọi
là “ai”. “Ai” của con người có tác động ảnh hưởng trên con vật và đồ vật,
và ngược lại. “Ai ” của con vật hoặc đồ vật hợp với “ai” của người nào đó,
mọi sự đều tốt đẹp; mà ngược lại sẽ đổ vỡ, bất thành, là không ích lợi. Với
quan niệm đó, việc đặt tên buôn làng rất quan trọng để cho có sự hòa hợp
giữa các “ai” với nhau, nghĩa là giữa các hồn với nhau.
Mặt khác, cũng theo quan niệm của người dân tộc, một người giàu có, một
người tài giỏi, một người đứng đầu, một thủ lãnh, ông vua chẳng những có
một “mơhol” chính, mà còn nhiều “mơhol” phụ, tự như đoàn quân gìn giữ
đến ngày nay. Trong số đó có những công trình được coi gần như là “kinh điển” trong khoa
nghiên cứu về Tây Nguyên, như các cuốn Pơ tao, một lý thuyết về quyền lực ở người Giarai
Đông Dương [27], Rừng, Đàn bà, Điên loạn - hành trình qua miền mơ tưởng Giarai (1950)
[25], Miền đất huyền ảo – các dân tộc miền núi Nam Đông Dương (1950) [26]
Tác phẩm của Dam Bo không chỉ cung cấp những tư liệu quý giá mà hơn thế rất
nhiều, một số vấn đề cơ bản tác giả đặt ra về sự phát triển của xã hội và về số phận con
người ở đây vẫn còn nóng hổi tính cập nhật. Về một phương diện nào đó, công trình
nghiên cứu công phu và đầy nhiệt tâm này đã vượt qua được sự thử thách của thời gian,
và không hề lạc hậu. Chẳng hạn như công trình Miền đất huyền ảo, ông đã phản ánh
cuộc sống hiện thực lẫn huyền thoại hoang dã của những người miền núi, trong đó có
người Ba Na, bằng một quan niệm mang tính vũ trụ quan đầy siêu hình. Miền đất huyền
ảo tái hiện diện mạo của người Tây Nguyên với những nét phác về “Người Xơ đăng ra
12
trận”, “Đời sống của người Ba Na”; “Kết ước liên minh của người Rơ ngao”; “Người
Stiêng đi săn”… đầy tính khoa học và bay bổng văn chương của ông.
Đặc biệt về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, Jacques Dournes có một cái nhìn bao
dung đối với tín ngưỡng của những người mà người Kitô giáo cho là “ngoại đạo” (les
paiens). Một câu nói của ông đối với cư dân Tây Nguyên “Chúa yêu những người ngoại
đạo” (Dieu aime les paiens), sau này trở thành nhan đề của một cuốn sách ông viết về
thần học và dân tộc học.
Đến những năm 40, 50 của thế kỷ XX, tín ngưỡng của người Tây Nguyên nói
chung và người Ba Na nói riêng được các học giả Pháp chú tâm nghiên cứu sâu hơn, nhất
là Paul Guilleminet với nhiều công trình có giá trị. P. Guilleminet đã viết bài đầu tiên về
người Ba Na năm 1938, sau cuốn Mọi Kontum của hai tác giả người Việt Nguyễn Kinh
Chi, Nguyễn Đổng Chi một năm. Năm 1942, ông cho ra đời cuốn sách: Nghiên cứu về
những tín ngưỡng của các bộ lạc vùng cao An nam, người Bâhnar Kon Tum và những
người láng giềng của họ, những thuật bí. Đến năm 1948, công trình: Bộ lạc Bâhnar ở
Kon Tum (Le tribu Bahnar du Kontum) [46] được công bố và có thể xem đây như công
trình đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu tộc người, có một giá trị khoa học nhất định khi tìm
hiểu tất cả những vấn đề về văn hoá, kinh tế, xã hội của tộc người Ba Na trong đó có đề
minh, cần khai hóa. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc một số nhà nghiên cứu
coi những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng của các dân tộc ở Tây Nguyên,
trong đó có người Ba Na là “mê tín dị đoan”, là “rất khó hiểu”. Không thể không nói tới
mục đích chính trị của một số công trình do các học giả Pháp viết về Tây Nguyên.
Truyền giáo, nghiên cứu phong tục tập quán để tìm ra phương cách bình định và cai trị
phù hợp, sau đó là quân sự và bình định của quân đội vốn là lộ trình quen thuộc với các
nước chậm phát triển trong thế kỷ XIX.
Bên cạnh các công trình của các học giả người Pháp còn có một số công trình
nghiên cứu về Tây Nguyên của các học giả Mỹ. Những tác giả người Mỹ bắt đầu quan
tâm đến các dân tộc ở vùng Trường Sơn- Tây Nguyên từ cuối thập niên 1950.
Gerald. C. Hickey đến Tây Nguyên lần đầu tiên vào năm 1956. G.C. Hickey và
những nhà nghiên cứu làm việc cho Viện Ngôn ngữ học Mùa hè (Summer Institute of
Linguistics) là những học giả người Mỹ có nhiều công trình nghiên cứu nhất về dân tộc
vùng Trường Sơn- Tây Nguyên, trong đó có người Ba Na. Năm 1964 công trình The
major ethnic groups of the south vietnamese highland (Các nhóm thiểu số ở Nam Việt
Nam) [44] của G. C. Hickey được công bố gồm hai phần. Phần một: “Nền tảng chung của
14
đồng bào vùng cao và mô hình của cuộc sống của họ” với “Nguồn gốc và đặc điểm của
văn hóa”, “Hoạt động kinh tế”, “Tổ chức chính trị - xã hội”, “Tôn giáo”, “Sự giao tiếp với
bên ngoài”. Phần hai: “Lịch sử vùng đất và những tính năng đặc trưng của các nhóm tộc
người chính” với “Những phác thảo ngắn gọn về lịch sử”, “Những liên minh” và sáu
nhóm chính mà công trình đề cập gồm: Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Mnông, Stiêng, Xê Đăng.
Trong nghiên cứu về tín ngưỡng của người Ba Na, công trình có đề cập đến những kiêng
kị của người Ba Na trong cuộc sống, quan niệm của họ về linh hồn, về thế giới thần linh
và siêu nhiên, về vai trò của các thầy cúng…
Năm 1966, công trình Các nhóm thiểu số ở Việt Nam Cộng hòa (Minority groups
in the Republic of Vietnam) [71] của Joann L. Schrock và các tác giả khác, do Bộ Quốc
phòng Hoa Kỳ xuất bản dày trên 1.000 trang là một tập nghiên cứu tổng hợp
Ethnographic Study Serries về các tộc người ở Tây Nguyên mà tư liệu dựa trên những
công trình của các học giả người Pháp. Công trình gồm 2 phần. Phần 1 tìm hiểu về “Các
1937, là một công trình nghiên cứu dân tộc học về cư dân người Ba Na ở Kon Tum. Với
hơn 150 trang, Mọi Kontum gồm hai phần chính: Tỉnh Kontum: (Địa dư; Nhân dân; Thành
phố; Chánh trị; Kinh tế) và Phong tục Mọi Bahnar: (Thân thể, tâm tình; Triết lý tín ngưỡng;
Thiên văn địa lý; Hương thôn giao tế; Gia tộc; Sinh tử, giá thú; Sĩ, nông, công, thương; Du
hí, mỹ thuật; Tục ngữ Bahnar; Câu đố Bahnar; Chuyện đời xưa Bahnar). Công trình có
phần bàn về “triết lí tín ngưỡng” của người Ba Na với cách lí giải về thượng đẳng thần, hạ
đẳng thần; điềm báo; chiêm bao; vai trò của thầy cúng… trong xã hội Ba Na truyền thống.
Ngay trong cuốn sách này, dễ nhận thấy một quan điểm rất tiến bộ trong cách nhìn về
“người khác” - phủ định quan điểm kỳ thị khá phổ biến thời bấy giờ coi người Ba Na nói
riêng, các dân tộc thiểu số nói chung là mọi rợ. Hai tác giả cuốn sách có một thái độ đầy
tôn trọng với đối tượng nghiên cứu: “Tục lệ của họ chẳng những không mọi rợ chút nào
mà trái lại có nhiều điều thuần túy hơn ta kia!”. Bên cạnh đó, hai tác giả cũng đã có sự đi
sâu lý giải quan niệm sống chết, thế giới tâm linh vừa mang nét nguyên thủy vừa khởi
phát từ những triết lý sâu xa của người Ba Na. Ví dụ: Người Ba Na coi sống là sự kết
hợp của xác (akâu) và hồn (pơhngol), họ tin vào số mệnh như người Việt - sinh ký tử
quy - chết là “đội lốt đi sinh hoạt ở một thế giới khác” [13, tr. 168]. Hay nhận định rằng
hệ thống thần linh (yang) của người Ba Na cũng phong phú, là hiện thân của những biểu
tượng tự nhiên (mặt trời, mặt trăng, sao, sấm sét, voi, cây, núi, lúa, nước, cọp, ghè ), cho
thấy một đời sống văn hóa, con người gắn với thiên nhiên - sống trong thiên nhiên một cách
hòa bình.
16
Những ghi chép cẩn trọng, có kiểm chứng, sự cần mẫn, tỉ mỉ và rất khoa học của
hai tác giả đã làm nên một công trình nghiên cứu hết sức giá trị, được coi là kho tri thức
về lịch sử Kon Tum và văn hóa của người Ba Na.
Từ năm 1955 đến 1975, có một số tác giả người Việt nghiên cứu về người Ba Na
như Lưu Danh Du với bài “Tết của đồng bào Thượng nam cao nguyên” [29] đăng trên
báo Chấn hưng kinh tế số 51 – 52 năm 1957.
Nghiêm Thẩm ở trong tác phẩm “Tìm hiểu đồng bào Thượng” (1961) [78], đã đề
cập đến đời sống của đồng bào Gia Rai, Ba Na và Xơ Đăng nói chung và đã dành một
phần điểm qua phong tục của người Ba Na, cụ thể là việc dựng nhà, ăn, mặc, ở….
dân tộc Tây Nguyên nói chung, văn hóa Ba Na nói riêng được các nhà khoa học Việt
Nam chú ý đến nhiều hơn.
Theo trình tự thời gian có thể kể tên các công trình của các nhà nghiên cứu như
Trần Mạnh Cát viết “Những nghi lễ có liên quan tới cây lúa của đồng bào các dân tộc
tỉnh Gia Lai - Kon Tum” [10] đăng trên tạp chí Dân tộc học số 3 năm 1979.
Công trình Các dân tộc tỉnh Gia Lai - Công Tum [95] của Đặng Nghiêm Vạn công
bố năm 1981. Công trình mô tả lần lượt về sáu tộc người bản địa: Gia Rai, Xơ Đăng, Giẻ-
Triêng, Ba Na, Brâu và Rơ Măm. Mỗi tộc người được giới thiệu riêng thành một chuyên
khảo, về nhiều khía cạnh khác nhau: từ tộc danh và các nhóm địa phương đến sự phân bố
địa bàn cư trú; từ các hoạt động mưu sinh, đời sống vật chất, đến quan hệ xã hội, dòng họ
và gia đình; từ tập tục trong chu kỳ đời người đến sinh hoạt tín ngưỡng – tôn giáo. Tư liệu
về cuộc sống và văn hoá của mỗi tộc người được các tác giả sưu tầm chủ yếu qua những
chuyến đi nghiên cứu điền dã tại nhiều làng. Mặc dầu có đề cập đến tín ngưỡng của người
Ba Na nhưng nhóm tác giả cũng chỉ mới khái quát mà chưa đi vào tìm hiểu cụ thể, cặn kẽ
hệ thống tín ngưỡng truyền thống như một thành tố của văn hoá tộc người.
Năm 1984, cuốn sách “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” (các tỉnh phía Nam) [39]
của Bế Viết Đẳng được xuất bản, giới thiệu tổng quan về các dân tộc phía Nam Tổ quốc,
trong đó có dân tộc Ba Na với vài nét chấm phá về tôn giáo, tín ngưỡng.
Năm 1986, Trần Từ viết công trình Hoa văn các dân tộc Giarai, Bana [93] đã đề
cập khái quát một vài nét về nếp sống tôn giáo của người Ba Na khi đề cập đến quan
niệm về thần linh, sự phân tầng thế giới trong đó khẳng định:
Độc đáo nhất là thế giới dành cho người chết”, “đấy là thế giới không khác
mấy so với thế giới của người sống, tuy đối lập với nó chủ yếu về phương
hướng: nơi chôn người chết của làng thường là một cánh rừng thưa về phía
18
Tây của khu người sống cư trú; dưới đất người chết được đặt nằm dài trên
một trục Đông - Tây, chân hướng về phía mặt trời lặn [ 93, tr. 35].
Năm 1991, Ngô Vĩnh Bình có công trình “Mẹ lúa - đấng tối cao trên cao nguyên
miền thượng” [7] đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 21 – 22 cho biết đồng bào
miền Tây Nguyên coi hạt lúa là một vị thần linh thiêng, mẹ lúa gắn liền với những nghi
phác về nghi lễ như: “Nghi lễ nông nghiệp truyền thống của người Ba Na (qua nghiên cứu
trường hợp làng Kon Jơdri, xã Đăk Rơ Wa, thị xã Kon Tum)”; “Quan niệm về thần linh
của người Ba Na”; “Vài nét về tín ngưỡng của người Ba Na”; “Tâm thức rừng của người
Tây Nguyên”; “Giấc mơ và việc giải mã những giấc mơ của người Ba Na”; “Pơ jâu trong
xã hội người Ba Na”…
1.1.2. Tình hình nghiên cứu tín ngưỡng của người Ba Na huyện Kông Chro,
tỉnh Gia Lai
Nhìn tổng quát, có thể nói cho đến nay tín ngưỡng của người Ba Na huyện Kông
Chro tỉnh Gia Lai chưa được nghiên cứu một cách hệ thống. Có chăng là “sự đặt nền
móng”, khởi phát của các công trình như:
Cuốn sách Fônclo Bâhnar [76] xuất bản năm 1988 do Tô Ngọc Thanh chủ biên
đã chọn một địa điểm nghiên cứu cụ thể - vùng An Khê cũ (tỉnh Gia Lai) và tộc người
Ba Na. Thông qua việc tìm hiểu sâu về folklore tại hai địa phương (xã Nam và xã Yama,
nay thuộc huyện Kông Chro), công trình đã chia thành 5 chương. Tuy nhiên nghiên cứu
sâu về tín ngưỡng của người Ba Na lại chưa được nhóm tác giả thật sự quan tâm mà chỉ
đưa ra những nét khái quát, phác họa về vũ trụ quan, nhân sinh quan, thế giới quan như
là đặc điểm tư duy nhận thức để làm nên lễ hội truyền thống của tộc người nơi đây.
Cuốn sách “Nhà mồ và tượng nhà mồ Giarai, Bơhnar” công bố năm 1993 và “Lễ
hội bỏ mả các dân tộc Bắc Tây Nguyên – (dân tộc Gia Rai – Ba Na)” [23] công bố năm
1995 của tác giả Ngô Văn Doanh đã giới thiệu tổng quát về người Ba Na, địa vực cư trú
và khảo tả rất chi tiết về lễ bỏ mả của nhóm người Ba Na Tơ Lô, Ba Na Kon Kơ Deh, Ba
Na Roh là ba nhóm Ba Na chính thuộc huyện Kông Chro (tỉnh Gia Lai).
Công trình “Bơ thi: Cái chết được hồi sinh” [24] công bố năm 2007 là tập hợp
tất cả các nghiên cứu của Ngô Văn Doanh trong nhiều năm qua về lễ bỏ mả, nhà mồ và
tượng nhà mồ của hai dân tộc Gia rai và Ba Na. Tác giả đánh giá lễ hội bỏ mả của người
Giarai và Ba Na cũng như của một số tộc người khác ở Tây Nguyên là “một trong những
sắc thái văn hóa độc đáo nhất của cả vùng cao nguyên hùng vĩ của đất nước”.
20
Nguyễn Thị Thu Loan năm 2002 cho công bố công trình “Những lễ hội liên quan
đến sản xuất nông nghiệp của tộc người Bahnar ở tỉnh Gia Lai” [63] có cái nhìn khái
là củng cố thắt chặt khối cộng đồng dân tộc trong xu thế giao lưu, hội nhập. Trong quá trình
nghiên cứu, chúng tôi có chọn lọc, kế thừa thành tựu nghiên cứu của những người đi trước,
đồng thời tăng cường sưu tầm tư liệu điền dã và đưa ra những tư liệu mới, những phát hiện
mới về tín ngưỡng của người Ba Na huyện Kông Chro tỉnh Gia Lai.
1.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Những khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1.1. Tín ngưỡng
Tín ngưỡng là vấn đề đã và đang được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và lý giải.
Cho đến nay trong giới quản lý và nghiên cứu vẫn cho rằng tín ngưỡng là cấp độ thấp hơn
tôn giáo về mặt tổ chức, thiết chế, giáo chủ… Đây là cách hiểu về tôn giáo ở châu Âu kể
từ thời đại Khai sáng và có ảnh hưởng lớn đến nhiều công trình nghiên cứu tôn giáo, tín
ngưỡng trong nước [51, tr. 3]. Tuy nhiên, tín ngưỡng lại là một hiện tượng của văn hóa,
một thành tố cấu thành của văn hóa. Chúng ta vẫn thống nhất với nhau ở luận điểm văn
hóa chỉ có sự khác biệt, không có cái cao cái thấp, cái tiến bộ cái lạc hậu, cái hơn cái
kém. Vì vậy việc nhìn nhận tín ngưỡng như là cấp độ thấp hơn tôn giáo e chăng là sự cổ
súy cho việc phân biệt này?!
Để có thể đưa ra khái niệm nhất quán làm cơ sở cho việc lý giải tín ngưỡng của
người Ba Na, chúng tôi thấy cần phải điểm qua một số định nghĩa về tín ngưỡng như sau:
Theo Đào Duy Anh thì tín ngưỡng là “lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn
giáo hoặc một chủ nghĩa” [1, tr. 283].
Hoàng Phê thì cho rằng “tín ngưỡng là tin theo một tôn giáo nào đó” [70, tr. 994].
Còn Nguyễn Như Ý lại hiểu tín ngưỡng là “lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo”
tức là tín ngưỡng chỉ tồn tại trong một tôn giáo [100, tr. 1646].
Tác giả Đặng Nghiêm Vạn cho rằng, “trong tín ngưỡng phải có yếu tố thiêng liêng
liên quan đến một thế giới vô hình, đến những siêu linh, mà chính con người tưởng tượng
và sáng tạo ra nó” [96, tr. 67].
Ở phương Tây, phổ biến thuật ngữ tôn giáo bình dân (popular religion). Thuật ngữ
đó có thể hiểu tôn giáo theo lối bình dân, nghĩa là theo tập quán, theo dư luận hoặc bị
cuốn hút vào các nghi lễ, chứ không theo lối chính thống chủ yếu xuất phát từ việc
nghiên cứu giáo lý, suy tư rồi giác ngộ mà theo. Hoặc cũng có thể hiểu là các hình thức
bảo an toàn và kết quả cao [54, tr. 159].
S.A. Tokarev cho biết:
23
Mặc dù bác bỏ luận thuyết về sự phát triển nội tại của tôn giáo, chúng tôi
vẫn không bao giờ phủ định sự tồn tại của những mối liên hệ nguồn gốc
giữa các tín ngưỡng. Chúng ta đã thấy rõ những tín ngưỡng đó có tính bảo
thủ đến mức nào. Bất kỳ một tín ngưỡng nào đã bắt rễ vững chắc cũng đều
tồn tại trong nhân dân rất lâu bền, thậm chí tồn tại ngay cả lúc những điều
kiện sản sinh ra nó đã thay đổi [87, tr. 55].
Theo ông, các hình thức tôn giáo sơ khai là: tô tem giáo, bùa mã và lễ ám hại, chữa
bệnh bằng phù phép, lễ dục tình, ma chay, lễ thành niên, sự thờ cúng của nghề săn bắt, sự
thờ cúng của thị tộc mẫu hệ, sự thờ cúng tổ tiên, shaman giáo, naguan giáo, sùng bái hội
kín, thờ cúng thủ lĩnh, thờ thần bộ lạc, thờ thần nông.
Tác giả M. Scott viết:
Chúng ta dường như có xu hướng định nghĩa hai chữ tín ngưỡng một cách
quá hạn hẹp. Ta thường chỉ coi rằng tín ngưỡng phải gắn liền với một niềm
tin nào đó vào Thượng đế, hoặc phải gắn liền với một số thực hành nghi lễ,
hoặc phải là thành viên trong một cộng đồng phụng sự [72, tr. 5].
Theo ông, tín ngưỡng còn chính là sự cảm nhận của con người về thế giới mà họ
đang sống, về cuộc sống xung quanh họ và về vị trí của bản thân họ trong thế giới đó.
Từ việc nêu ra một số định nghĩa về tín ngưỡng, tôn giáo ở trên, theo quan điểm của
chúng tôi, không có sự khác nhau của hai khái niệm này. Và ở đây chúng tôi chia sẻ quan
điểm “tín ngưỡng thực ra là tôn giáo” mà Nguyễn Quốc Tuấn đã đưa ra trong bài viết “Bàn
thêm về tín ngưỡng tôn giáo bản địa Việt Nam qua sự kiện ngày quốc lễ giỗ Tổ Hùng
Vương” [89, tr 3 - 15]. Bởi khi tìm hiểu những định nghĩa về tín ngưỡng, tôn giáo mà các
nhà nghiên cứu đưa ra, chúng tôi nhận thấy xuyên suốt trong đó là những yếu tố căn bản
cấu thành: yếu tố thiêng (thần thánh và lực lượng siêu nhiên) + đức tin + biểu tượng + thực
hành (thờ cúng, cầu khấn, lễ vật dâng cúng) + cộng đồng. Tất nhiên tùy lịch sử văn hóa, tùy
vào đời sống tâm linh, thờ phụng của mỗi cộng đồng dân tộc, quốc gia mà những yếu tố
cấu thành có thể có sự biểu hiện khác biệt đôi chút. Và chúng ta cần có sự tôn trọng với
sản văn hóa phi vật thể đó. Trong lịch sử, việc quyết định bỏ một biểu hiện văn hóa bị coi
như là hủ tục đôi khi còn là quyết định mang tính chính trị, mang tính quyền lực xã hội.
Hiểu được đặc trưng riêng về tín ngưỡng của tộc người là cách để chúng ta phát
huy những giá trị nhân văn trong tín ngưỡng nhằm mục đích như Tổ chức Văn hóa, Khoa
học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đã từng nói: “Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia cần
25