Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
NGUYỄN THỊ LAN
TÍN NGƢỠNG DÂN GIAN Ở LỄ HỘI
CHỬ ĐỒNG TỬ - TIÊN DUNG VÀ
ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG
CỦA NGƢỜI DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU,
TỈNH HƢNG YÊN HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. HOÀNG THANH SƠN
HÀ NỘI – 2014
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K36 GDCD - GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
nhiệm .
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Lan
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K36 GDCD - GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1: TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
Ở LỄ HỘI CHỬ - TIÊN DUNG Ở HUYỆN KHOÁI CHÂU
TỈNH HƯNG YÊN ......................................... Error! Bookmark not defined.
1.1. Tín ngưỡng dân gian .................................................................................. 7
1.2. Vài nét về quê hương Khoái Châu –Hưng Yên ....................................... 24
1.3. Truyền Thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung .............................................. 29
1.4. Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung ........................................................... 37
1.4.1. Phần lễ hội tại đền Đa Hòa.................................................................... 37
Chương 2: NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA LỄ HỘI CHỬ ĐỒNG TỬ TIÊN DUNG ĐẾN ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU,
TỈNH HƯNG YÊN ......................................................................................... 47
2.1. Ảnh hưởng tích cực .................................................................................. 47
2.2. Ảnh hưởng tiêu cực .................................................................................. 63
2.3.Phương hướng và giải pháp ...................................................................... 68
có những yếu tố đặc sắc riêng. Trong những năm gần đây, cùng với quá trình
dân chủ hóa đời sống xã hội, các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo có xu hướng
phục hồi và phát triển. Sinh hoạt tín ngưỡng dân gian cũng trở nên sôi động
và thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia. Cùng với nó, các lễ hội dân gian
truyền thống đã trỗi dậy ở mọi miền quê, được phục hồi và tái tạo với một
sinh khí mới. Lễ hội là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của
con người.
Ngay sau khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới. Nghị quyết 24 của
Bộ chính trị năm 1990 Về tăng cường công tác tôn giáo trong tinh hình mới
SV: Nguyễn Thị Lan
1
Lớp: K36 GDCD - GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
đã xác định tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài và có ý nghĩa
quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành Trung ương khóa IX năm 2003 cũng nêu:
“Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những
người có công với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân; tôn trọng tín ngưỡng của
đồng bào có đạo…” [4, tr.52]. Đặc biệt, ngày 29 tháng 06 năm 2004, chủ tịch
nước Trần Đức Lương đã ký lệnh số 18/2004/L-CTN công bố Pháp lệnh tín
ngưỡng , tôn giáo được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày
18/06/2004. Tại khoản 1 điều 3 của pháp lệnh quy định: Hoạt động tín
Từ những lý do trên đây, tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu vấn đề: Tín
ngưỡng dân gian ở lề hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung và ảnh hưởng của nó
đối với đời sống của người dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên hiện nay
làm đề tài của mình
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Về tín ngưỡng dân gian và ảnh hưởng của nó với đời sống xã hội cho
đến nay chưa có thật nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu. Trong cuốn sách, bài
viết đăng trên các báo, tạp chí hoặc các đề tài khoa học, luận án, luận văn
cũng có ít nhiều đề cập đến vấn đề này, song lại đi vào nghiên cứu khái niệm,
phân loại các loại hình tín ngưỡng của từng cộng đồng, từng dân tộc cụ thể.
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây:
- Những tác phẩm nghiên cứu về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng dân
gian nói chung của các dân tộc trên đất nước Việt Nam bao gồm: Toàn Ánh
(1991), Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam, Quyển thượng nxb TP. Hồ Chí Minh;
Nguyễn Minh San (1998) Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam, Nxb văn hóa
dân tộc, Hà Nội; Nguyễn Đăng Duy (2001) Các hình thái tín ngưỡng, tôn
giáo ở Việt Nam, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Đức Lữ ( chủ biên)
(2005) Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam,Nxb tôn giáo, Hà
Nội; Vũ Thị Khánh Duyên (2001) Đặc điểm và vai trò của một số tín ngưỡng
dân gian ở Quảng Ninh, Luận văn tốt nghiệp hệ cao cấp lý luận chính trị học,
Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Nguyễn Tri Nguyên
(2002) Mối quan hệ giữa lễ hội và tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Luận văn
tốt nghiệp hệ cao cấp lý luận chính trị học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội…. Trong các tác phẩm trên, tác giả chủ yếu đi vào tìm hiểu,
phân biệt khái niệm tín ngưỡng dân gian với các khái niệm có liên quan như
tôn giáo, văn hóa, phong tục tập quán… đồng thời, tìm hiểu về nó với tư cách
là một thành tố của văn hóa dân gian, văn học dân tộc.
SV: Nguyễn Thị Lan
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của khóa luận là phân tích những đặc điểm và ảnh hưởng của
tín ngưỡng dân gian ở lễ hôi Chử Đồng Tử - Tiên Dung đối với đời sống của
người dân tỉnh Hưng Yên hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp
nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của lễ hội, góp phần lành
mạnh đời sống của người dân
SV: Nguyễn Thị Lan
4
Lớp: K36 GDCD - GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của Lễ hội đến đời sống của người dân huyện
Khoái Châu tỉnh Hưng Yên
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu về đặc điểm và ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian
ở lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung đối với đời sống của người dân tỉnh Hưng
Yên hiện nay trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc khái quát các loại hình tín
ngưỡng dân gian ở Hưng Yên, đồng thời nhấn mạnh các nét đẹp văn hóa và
cách thức sinh hoạt của nhân dân ở lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung
7. Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung
khóa luận gồm 2 chương và 7 tiết
SV: Nguyễn Thị Lan
6
Lớp: K36 GDCD - GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Chƣơng 1: TÍN NGƢỠNG DÂN GIAN Ở LỄ HỘI CHỬ - TIÊN DUNG
Ở HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƢNG YÊN
1.1. Tín ngƣỡng dân gian
1.1.1. Khái niệm và lịch sử hình thành tín ngƣỡng dân gian
1.1.1.1. Khái niệm
* Khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín
Các hình thức khác nhau của tín ngưỡng, tôn giáo đã hình thành và tồn
tại cùng xã hội loài người hàng ngàn năm nay, song việc đưa ra một khái
niệm nhất quán về các khái niệm này cho đến nay vẫn chưa có cụ thể. Hiện
nay có nhiều quan điểm khác nhau khi sử dụng khái niệm “tín ngưỡng”, “tôn
giáo”.Có tác giả cho đây là hai vấn đề khác nhau, coi tín ngưỡng là sự phát
triển ở trình độ thấp so với tôn giáo, nhưng có tác giả lại đồng nhất chúng là
một và đều gọi chúng là tôn giáo. Trong phạm vi khóa luận này, tôi không có
tham vọng nghiên cứu sâu về mặt thuật ngữ, khái niệm, mà chỉ tìm hiểu khái
quát quan điểm của các nhà nghiên cứu xung quanh khái niệm tín ngưỡng, tôn
Trương Thìn cũng có những quan điểm tương tự khi cho rằng: “ Tín ngưỡng
hiểu theo nguyên dịch nghĩa từ chữ croyance của tiếng Pháp thì chỉ có nghĩa
là sự tin vào một điều gì đó, và thông thường hay được dùng để chỉ một niềm
tin tôn giáo (croyance religrieuse)” [ 17, tr.50].
Trong từ điển Hán Việt: Tín ngưỡng: tín: tin, ngưỡng: ngưỡng mộ,
ngưỡng vọng. Tín ngưỡng là tin và ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một thực
thể siêu nhiên, thần bí, phi hiện thực. Tôn giáo: tôn (tông) nghĩa là dòng phái,
giáo nghĩa là đạo. Tôn giáo là một hình thức tổ chức mà đặc điểm là sự tin
tưởng vào những lực lượng siêu tự nhiên…và thực hiện những lễ nghi để tỏ
lòng sùng bái. Ph.Ăng-ghen đã khẳng định: “tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ
là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc người ta những sức mạnh tự nhiên chi
phối đời sống hàng ngày của họ. Chỉ là sự phản ánh mà trong đó những sức
mạnh thế gian biến thành sức mạnh siêu thế gian” [ 13, tr.437]. Tôn giáo là
yếu tố thuộc hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo,
lệch lạc hiện thực khách quan.
Tín ngưỡng được hiểu là tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ thờ cúng
thể hiện qua lễ hội, tập quán, phong tục truyền thống của dân tộc Việt Nam và
được coi là một thành tố của văn hóa dân gian (folklore). Đó là quan niệm của
các tác giả như Toàn Ánh, Phan Kế Bính,… tác giả Nguyễn Đức Lữ cho rằng
nội hàm cơ bản của tín ngưỡng là “lòng tin, sự ngưỡng vọng của con người
SV: Nguyễn Thị Lan
8
Lớp: K36 GDCD - GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
9
Lớp: K36 GDCD - GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
“Trước hết chúng tôi cho rằng, tín ngưỡng và tôn giáo không phai là một như
một số người đã nhận xét mà là hai khái niệm. Tín ngưỡng là hiện tượng có
trước, là nền tảng để từ đó hình thành một tôn giáo khi nó phát triển lên đáp
ứng một yêu cầu nhất định. Hay nói cách khác, tôn giáo là sự phát triển của
một tín ngưỡng, được một cộng đồng người thể chế, quy phạm hoá cao độ
như : Tôn sùng một vị chủ; có hệ thống giáo điều, giáo lý, hệ thống nghi lễ và
thế chế thờ tự theo những luật lệ nghiêm chỉnh : có tổ chức tôn giáo ( giáo
hội ) chức sắc và các tín đồ…” [ 13, tr. 17 ]
Tôn giáo dựa trên niềm tin, tín ngưỡng cũng dựa trên căn bản niềm tin ,
vậy lấy cái gì để làm tiêu chí để phân định sự khác nhau giữa chúng? Có lẽ ,
chúng ta chỉ có thể căn cứ vào việc niềm tin ở tôn giáo đã trở thành hệ thống
luận thuyết được dựa trên nền tảng triết học duy tâm. Còn niềm tin trong tín
ngưỡng là một đấng vô hình , không cần giáo chủ, không cần hệ thống giáo ý
như niềm tin tôn giáo . Bất cứ tôn giáo nào cũng có : Giáo chủ, giáo hội ,giáo
lý, giáo luật, lễ nghi …( Tín ngưỡng nói chung không nhất thiết – Trừ tín
ngưỡng được hiểu theo một tôn giáo cụ thể ), mặt khác, tín ngưỡng thuần túy
là một thói quen được chấp nhận không cần sự lí giải, còn tôn giáo ít nhiều
cần đến sự lí giải có tính lôgic. Đó là những dấu hiệu nhận biết, phân biệt tôn
giáo với tín ngưỡng. Riêng đối với đặc tính mở của nền văn hóa Việt Nam
truyền thống, người Việt Nam luôn quan niệm rằng tín ngưỡng, tôn giáo nào
giáo, chúng tôi thống nhất với quan điểm nêu trong Giáo trình chủ nghĩa xã
hội khoa học ( do hội đồng Trung Ương biên soạn ) “ Tín ngưỡng là niềm tin
là sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng, một điều
gì đó và thông thường để chỉ một niềm tin tôn giáo. Còn tôn giáo thường
được hiểu là một trong những hình thức tín ngưỡng có quan niệm, ý thức,
hành vi và có tổ chức tôn giáo” [ 9, tr. 449 ]
Tương tự như vậy, tín ngưỡng và mê tín dị đoan cũng có một ranh giới
khá mơ hồ và khó xác định.Từ điển tiếng việt định nghĩa : Mê tín : 1. Tin một
cách mù quáng vào những điều huyền bí, vào những chuyện thần thánh, ma
quỉ, số mệnh…; 2. Ưa chuộng một cách mù quáng không biết suy xét” [ 21, tr
976] . Còn dị đoan là gì ? theo nghĩa Hán – Việt : dị là khác thường còn đoan
là lắm mối, nhiều rắc rối, lắm vấn đề. Dị đoan là những điều quái lạ là hệ quả
của mê tín, là những điều không thật, không hợp lẽ phải. Dị đoan là mức độ
cao hơn mê tín. Cũng có thể từ mê tín dị đan dẫn đén hiện tượng tôn giáo mới,
tôn giáo lạ, tà giáo, tà đạo. Mê tín dị đoan là niềm tin của con người vào lực
SV: Nguyễn Thị Lan
11
Lớp: K36 GDCD - GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
lực lượng siêu nhiên đến mức độ mê muội, cuồng tín với những hành vi cực
đoan thái quá, phi nhân tính phản văn hóa. Mê tín thường gây ra hậu quả tiêu
cực đến đời sống xã hội. Hiện tượng mê tín dị đoan thường trà trộn với các
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
gian còn phản ánh những ước nguyện tâm linh của con người và cả cộng đồng
là niềm tin vào thần linh thông qua những nghi lễ thờ cúng gắn liền với phong
tục tập quán, truyền thống. Đó cũng là đặc điểm cơ bản để phân biệt sự khác
nhau giữa tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo. Tác giả Hồ Bá Thâm
cũng nhất trí với cách gọi tín ngưỡng dân gian và cho đấy là một lĩnh vực
quan trọng trong đời sống tâm linh, rất cần đến sự quan tâm của toàn xã hội ”
[17, tr .9]. Những quan điểm trên tuy có vẻ trái ngược nhau nhưng đều chứa
đựng những yếu tố hợp lý nhất định.
Tác giả Nguyễn Minh San gọi tín ngưỡng dân gian là “ tín ngưỡng dân
dã ” có ý khẳng định về tính nguyên thủy, tính phổ biến, tính quần chúng của
nó.Tín ngưỡng dân dã bắt nguồn từ niềm tính sơ khai, ngây thơ, chất phác của
cư dân nông nghiệp, được lưu truyền từ đời này qua đời khác trong dân gian
[13, tr. 9]
Ngược lại, một số tác giả khác lại không tán thành với cách gọi tín
ngưỡng dân gian. GS Đặng Nghiêm Vạn cho rằng :” Thuật ngữ tín ngưỡng
udân gian cần được bàn lại ” [23,tr. 23]. Tác giả Nguyễn Đăng Duy cũng
đồng ý với ý kiến này và cho rằng : “ … không nên gọi tín ngưỡng dân gian
hay tín ngưỡng dân dã … cần phải đính chính lại …” [ 3, tr. 25 ]. Bởi lẽ theo
tác giả, đã có khái niệm tín ngưỡng dân gian thì phải có khái niệm tín ngưỡng
bác học, cũng giống như đã có khái niệm văn học nghệ thuật dân gian và khái
niệm văn học nghệ thuật bác học. Nếu không thể phân chia như vậy đối với
tín ngưỡng thì chỉ có tín ngưỡng nói chung của cộng đồng người, không có
cái gọi là tín ngưỡng dân gian….
Tóm lại tín ngưỡng dân gian là một thành tố của văn hóa dân gian được
mà Phật giáo là tôn giáo ngoại lai vào Việt Nam sớm nhất cũng phải đến thế
kỉ II TC.Trong cuốn “ Hỏi đáp về văn hóa Việt Nam ” cũng nêu : “ Đạo phật
vào nước ta từ rất sớm, sách Thuy Kinh Chú ( đời đường – Trung Quốc) có
ghi vào thế kỉ III TCN, vua Asoka đã dựng một ngôi tháp Phật ở núi Nê Lê
( Đồ Sơn – Hải Phòng )”. Lại có sách ghi rằng “ Phật giáo về đại thừa truyền
vào nước ta khoảng thế kỉ II, thứ III ”[ 01 tr.225]. Hòa thượng Thích Thanh
Từ cũng khẳng định : “ Đạo Phật có mặt trên lãnh thổ Việt Nam khoảng cuối
thế kỉ thứ II, đầu thế kỉ thứ III”. Và các tác giả khác đều nhất trí với quan
điểm Phật giáo được lưu truyền vào nước ta từ đầu công nguyên, thời Bắc
thuộc. Như vào Việt Nam thì trước đó đã có sự hình thành mầm mống tín
ngưỡng dân gian của người Việt – đây là điều không ai có thể phủ nhận
SV: Nguyễn Thị Lan
14
Lớp: K36 GDCD - GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Dưới chế độ phong kiến, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, hầu hết
các tín ngưỡng của nhân dân không được chính quyền Phong kiến thừa nhận
và bị đặt ra bên lề xã hội. Nhiều tín ngưỡng bị coi là mê tín, dị đoan bị cấm
đoán vì cho rằng đó chẳng qua là dân ta do “ ngu muội mà thờ ”. Tầng lớp
Nho sĩ tri thức trong xã hội đương thời lúc bấy giờ cũng hầu như nghiên cứu
sâu sắc về các loại hình tín ngưỡng của Việt Nam và vì thế, sử sách không ghi
chép lại. Tuy nhiên, trên thực tế, đời sống của người nông dân ở các làng xóm
Trường ĐHSP Hà Nội 2
phân loại theo khu vực văn hóa, hoặc phân theo nội dung tín ngưỡng và đối
tượng sùng bái hay theo hình thái của tôn giáo, tín ngưỡng…Mỗi cách phân
loại có nhừng yếu tố hợp lý nhất định. Thông qua nghiên cứu tài liệu của các
tác giả ở Việt Nam như Trần Ngọc Thêm, Trần Quốc Vượng, Ngô Đức Thịnh,
Nguyễn Đức Lữ và nhiều tác giả khác về phân loại tín ngưỡng dân gian trên
cơ sở hình thái học của các tín ngưỡng, tôn giáo.
Một là tín ngưỡng phồn thực
Hai là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Ba là tín ngưỡng sùng bái con người
Bốn là các loại hình tín ngưỡng khác
1.1.2.1. Tín ngƣỡng phồn thực
Tín ngưỡng phồn thực là loại tín ngưỡng có từ xa xưa trong lịch sử loại
người . Bản chất của tín ngưỡng phồn thực ( phồn :nhiều, thực : nảy nở )chính
là tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con
người. Đây là một hiện tượng tín ngưỡng – văn hóa tổng thể, mang đậm bản
sắc văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi địa phương. Nó được hình thành trên cơ sở
tư duy trực quan, cảm tính của cư dân nông nghiệp trước sự sinh sôi để sinh
sôi nảy nở duy trì sự sống của con người, cây trồng và vật nuôi. Thời xa xưa,
để duy trì sự sống của con người cần phải có mùa màng tươi tốt và con người
được sinh sôi nảy nở. Để làm được hai điều kiện trên, những trí tuệ sắc sảo đã
tìm hiểu các quy luật khoa học để lý giải hiện thực và họ đã xây dựng được
triết lý âm – dương, những trí tuệ bình dân thì xây dựng tín ngưỡng phồn thực
– tôn thờ đực - cái. Theo Trần Ngọc Thêm “ Cơ sở văn hóa Việt Nam ” thì ở
nước ta, tín ngưỡng phồn thực tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử được thể
hiện ở hai dạng : thờ sinh thực khí ( sinh : đẻ, thực : nảy nở, khí : công cụ ) và
thờ hành vi giao phối. Người ta tìm thấy ở Văn Điển - Hà Nội và thung lũng
Sa Pa- Lào Cai những tượng đá hình nam nữ có bộ phận sinh dục phóng to có
rõ nét ở hai vật hiện linh là cái nón và cây gậy, tượng trưng cho hai bộ phận
sinh khí của nam và nữ, hai vật linh này cứu sống được nhiều người dân có
hàm ý sinh sôi nảy nở, hiện nay trong đền vẫn thờ hai vật linh này.
1.1.2.2 . Tìn ngƣỡng sùng bái tự nhiên
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên bao gồm việc thờ cúng các hiện tượng tự
nhiên và thờ các động vật, thực vật trong tự nhiên. Do Việt Nam là nước nông
nghiệp nên việc sùng bái tự nhiên là điều dễ hiểu. Đặc biệt là nước ta là tín
ngưỡng đa thần và âm tính ( trọng tình cảm, trọng nữ giới ). Có giả thuyết cho
SV: Nguyễn Thị Lan
17
Lớp: K36 GDCD - GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
rằng đó là ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ thời xa xưa của Việt Nam. Các vị
thần ở Việt Nam chủ yếu là nữ giới, do ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực
( như đã nói ở trên ) nên các vị nữ thần đó không phải là các cô gái trẻ đẹp
như trong một số tôn giáo, tín ngưỡng khác mà là bà mẹ, các Mẫu.
Tín ngưỡng thờ các hiện tượng tự nhiên là việc tôn thờ các vị thần cai
quản tự nhiên ( ban đầu là cá nữ thần cai quản vùng Trời, Đất, Nước – âm
tính – nữ trội của văn minh lúa nước; sau đó có thêm ông Trời do ý thức được
sự đối lập theo nguyên lý âm- dương ). Các vị thần, các Mẫu cai quản những
lĩnh vực quan trọng của xã hội nông nghiệp. Về sau do ảnh hưởng của văn
hóa Trung Hoa nên có thêm Ngọc Hoàng, Thổ Công Hà Bá…Thần Mặt Trời
Hàm Rồng, bến cảng nhà Rồng, chợ Rồng … Tại đền Chử Đồng Tử - Tiên
Dung hình ảnh con rồng được khắc trên các mái, cổng đền, trên kiệu rước
thánh, trên bát hương, trên cột, bia đá….Nó còn phổ biến trên các sắc phong,
đạo dụ, tranh thờ, tượng thờ, đồ tế khí. Đối với các triều đại phong kiến, con
rồng là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực tối thượng, do đó mà nhân dân
cũng tôn thờ con vật trừu tượng này.
Thực vật được tôn sùng là cây lúa nên có nơi thờ thần lúa, hồn lúa, mẹ
lúa …đôi khi ta còn thấy thờ thần cây đa, cây si, cây gạo “ thần cây đa, ma
cây gạo ’’. Trong Việt Nam văn hóa sử cương tác giả Đào Duy Anh viết
“ Người ta tin rằng … những cây đa, cây đề, cây si, cây thị, cây đại là những
cây hay có thần ở, người ta gọi là tinh ( mộc tinh) . Những cây tinh có khi
không phải là tự nhiên, mà là linh hồn của những người con gái chết phải giờ
thiêng, thường hay hiện hình để trọc nghẹo con trai ’’[1, tr.268] . Leopoid
Cadiere miêu tả kĩ hơn : “… một số cây khác chủ yếu là cây đa, cũng sùng bái
xem như nơi ở của ma quỷ, đặc biệt la ma nữ ; những con ma đáng sợ và hung
ác, chúng là linh hồn của các thiếu nữ, thiếu nữ chết trẻ khi chưa được làm
mẹ…Tuy vậy, cũng phải lưu ý rằng, thường là những cây có đặc thù tự
nhiên : to lớn, cổ thụ, hình dáng độc đáo … việc tin thần nhập trong cây là do
đặc thù của cây. Mối liên kết giữa cây và thần gắn bó ” [10, tr 275-276 ]
Tuy nhiên, mặc dù rất coi trọng cây lúa nhưng đối với tín ngưỡng của
người kinh, họ không đẩy nó lên thành thần để thờ cúng, không sử dụng các
hình thức phù thủy- sa man giáo để cúng hồn lúa như các dân tộc thiểu số. Họ
chỉ cầu mong các thánh thần phù hộ cho mưa thuận gió hòa để được mùa lúa,
mùa khoai, cuộc sống no đủ, không bị mất mùa hạn hán, lũ lụt, đói kém. Sùng
bái tự nhiên là quy luật tất yếu của con người trong quá trình sinh sống.
SV: Nguyễn Thị Lan
19
Hồn và vía dùng thể xác để trú ngụ, trường hợp hôn mê ở mức độ khác
nhau được giải thích là vía và hồn đã lìa khỏi xác ở các mức độ khác nhau.
Nếu phần thân của hồn mà rời khỏi xác thì đã chết. Khi người chết, hồn nhẹ
hơn sẽ bay sang kiếp khác còn hồn nặng sẽ bay là là mặt đất rồi tiêu tan.Thế
SV: Nguyễn Thị Lan
20
Lớp: K36 GDCD - GDQP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
nên mới có câu ngạn ngữ như “ hồn siêu phách lạc” ( phách tức là vía, ở đây
múm nói trạng thái run sợ, mất chủ động ) sợ đến mức hồn vía lên mây …
Khi chết là hồn đi từ cõi dương gian đến cõi âm ty, coi đó được tưởng
tượng có nhiều sông nước như cõi dương gian nên cần phải đi bằng thuyền
nên nhiều nơi chôn người chết trong những chiếc thuyền.
* Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Đây là hiện tượng xã hội xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử. Người việt là
một trong những dân tộc có tục thờ cúng tổ tiên sâu đậm và sớm nhất. Nếu
như người phương Tây coi trọng ngày sinh thì người Việt coi trọng ngày mất.
Thờ cúng tổ tiên có hai loại :
Một là, thờ cúng tổ tiên theo cộng đồng làng, xã, đất nước ( Thờ Vua
Hùng, thờ Thành Hoàng làng, thờ tổ nghề, thờ các anh hùng dân tộc và những
người có công vơi làng, nước …)
Hai là, thờ cúng tổ tiên trong phạm vi gia đình : thờ cha mẹ, ông bà, cụ kị