Cơ chế lãi suất - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện - Pdf 13

Luận văn tốt nghiệp GV hớng dẫn: TS. phạm giang thu
Mục lục
TRANG
Lời nói đầu 3
CHƯƠNG I: Những vấn đề cơ bản về lãi suất và cơ chế lãi suất 4
I) Khái niệm lãi suất
1) Định nghĩa
2) Phân loại lãi suất 5
2.1) Căn cứ vào thời hạn tín dụng
2.2) Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất 6
2.3) Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất
2.4) Căn cứ vào các chủ thể tham gia vào quan hệ tín dụng 7
3) Các nhân tố ảnh hởng đến lãi suất 9
3.1) Lạm phát dự tính
3.2) Sự phát triển của nền kinh tế
3.3) Tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế 11
3.4) Thời giá rủi ro và tính lỏng của tài sản tài chính
II) Khái niệm và vai trò của cơ chế lãi suất 13
1) Khái niệm cơ chế lãi suất
2) Vai trò của cơ chế lãi suất trong nền kinh tế thị trờng 15
2.1) Vai trò định hớng cho việc hình thành giá cả sử dụng vốn
2.2) Vai trò góp phần ổn định tình hình lạm phát
2.3) Vai trò thúc đẩy phát triển nền kinh tế
2.4) Vai trò khuyến khích tín dụng, tạo điều kiện cho các
Sinh viên: trần thị thu trang
3
Luận văn tốt nghiệp GV hớng dẫn: TS. phạm giang thu
thành phần kinh tế tế phát triển đầu t, mở rộng sản xuất 17
2.5) Vai trò là công cụ điều hàn chính sách lãi suất
CHƯƠNG II: Thực trạng cơ chế lãi suất ở Việt Nam 19
I) Cơ chế lãi suất âm

2) Phơng hứong hoàn thiện cơ chế lãi suất thoả thuận 60
kết luận
Sinh viên: trần thị thu trang
5
Luận văn tốt nghiệp GV hớng dẫn: TS. phạm giang thu
lời nói đầu
Lãi suất vừa là công cụ hết sức quan trọng và nhạy cảm trong việc điều
hành chính sách tiền tệ quốc gia, vừa là giá cả sử dụng vốn trong hoạt động tín
dụng. Nó có tác động to lớn đối với việc tăng hay giảm khối lợng tiền trong lu
thông, thu hẹp hay mở rộng tín dụng, khích lệ hay hạn chế huy động vốn, kích
thích hay cản trở đầu t, tạo thuận lợi khó khăn cho hoạt động ngân hàng. Vai
trò đó ngày càng quan trọng và phức tạp cùng với quá trình đổi mới hoạt động
ngân hàng trong điều kiện kinh tế thị trờng ngày càng phát triển sâu sắc. Lãi
suất ngân hàng là một phạm trù kinh tế mang tính hai mặt. Nếu Nhà nớc có
những chính sách can thiệp thích hợp thì sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản
xuất lu thông, hàng hoá phát triển và ngợc lại. Bởi vậy, lãi suất ngân hàng vừa
là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nớc, vừa là công cụ điều hành vi mô của các
ngân hàng thơng mại. Nh vậy, cần có một chính sách lãi suất phù hợp, có hiệu
lực cao và đợc áp dụng nhất quán trong phạm vi cả nớc.
Điều đó càng trở nên cần thiết trong giai đoạn hiện nay khi thúc đẩy
công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đa đất nớc phát triển và hội nhập với cộng đồng
quốc tế là tiến trình đợc u tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nớc. Việc mở cửa tự
do hoá thơng mại hoàn toàn, tiến tới từng bớc tự do hoá tài chính trong khuôn
khổ và các chế tài kiểm soát chặt chẽ theo hớng thị trờng có sự điều tiết của
Nhà nớc là bớc quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, đa đất nớc hoà
nhập với sự phát triển chung của khu vực và quốc tế. Việc tìm hiểu để hoàn
thiện cơ chế quản lý tài chính trong đó có cơ chế lãi suất do đó cũng trở nên hết
sức cấp bách và cần thiết nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Do vậy
em mạnh dạn chọn đề tài: cơ chế lãi suất - thực trạng và ph-
ơng hớng hoàn thiện để làm luận văn tốt nghiệp của mình

vay.
Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cùng với tín dụng sự tồn tại và tác
động của nó đã do mục đích thoả mãn đầy đủ nhất các yêu cầu của tất cả các
thành viên trong xã hội. Lãi suất không chỉ là động lực của tín dụng mà nó còn
phải bám sát các mục tiêu kinh tế. Qua sự phân tích trên ta thấy:
Lãi suất đó là giá cả của quyền sử dụng vốn vay trong một thời gian
nhất định mà ngời sở dụng trả cho ngời sở hữu nó.
Lãi suất ảnh hởng trực tiếp đến các quyết định của cá nhân trong việc
hình thành tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm; ảnh hởng đến quyết định phân vốn
đầu t của doanh nghiệp và hộ gia đình. Xét ở phạm vi toàn xã hội, các quyết
định này sẽ ảnh hởng đến tốc độ tăng trởng và tỷ lệ thất nghiệp của quốc gia.

Các Mác: t bản, quyển 3, tập 1. NXB Sự thật, Hà Nội - 1970
Sinh viên: trần thị thu trang
7
Luận văn tốt nghiệp GV hớng dẫn: TS. phạm giang thu
2 ) Phân loại lãi suất
Tuỳ thuộc vào từng tiêu chí, mục đích phân loại khác nhau mà lãi suất
đợc chia làm nhiều loại:
2.1Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Căn cứ vài thời hạn tín dụng lãi suất đợc chia làm ba loại: lãi suất ngắn
hạn, lãi suất trung hạn và lãi suất dài hạn.
Các tổ chức tín dụng thực chất cũng là một doanh nghiệp vì vậy mục
đích cuối cùng của nó vẫn là lợi nhuận. Để tối đa hoá lợi nhuận các tổ chức tín
dụng phải có cách quản lí tài sản một cách tối u nhất. Một trong những nhân tố
ảnh hởng đến việc quản lí tài sản của các tổ chức tín dụng là thời gian đáo hạn.
Đây là độ dài về giờ, ngày, tháng, năm của các khoản nợ từ ngày nhận cho đến
khi nó đợc trở lại. Chính sự khác nhau về thời gian của khoản vay (hoặc cho
vay ) lãi suất cho mỗi loại là khác nhau. Đó cũng là nguyên nhân cho sự phân
biệt về lãi suất ngắn hạn, lãi suất trung hạn và lãi suất dài hạn.

thông báo chính thức trong các quan hệ tín dụng.
- Lãi suất thực tế: là loại lãi suất đợc điều chỉnh lại cho đúng theo những thay
đổi về lạm phát bao gồm hai loại lãi suất thực tính trớc (dự tính) và lãi suất thực
tính sau.
Việc phân chia hai loại lãi suất này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan
trọng. Nhận thức rõ ràng đâu là lãi suất thực đâu là lãi suất danh nghĩa sẽ giúp
nhà nớc và các TCTD ứng biến kịp thời trớc những thay đổi của tình hình lạm
phát.
Để giữ cho tài sản nợ và tài sản có có hiệu quả không đổi hệ thống ngân
hàng sẽ luôn cố gắng giữ cho lãi suất thực tế ổn định. Nhng vì lãi suất thực tế
bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát nên nếu muốn cho lãi suất thực tế
ổn định, lãi suất danh nghĩa phải tăng cùng với tỷ lệ lạm phát. Vì vậy, có thể
nói hai loại lãi suất này có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, có tác dụng
hỗ trợ lẫn nhau trong việc quản lý lãi suất ở cả tầm vi mô và vĩ mô.
2.3 Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất
Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất có lãi suất cố định và lãi suất thả
nổi.
Lãi suất cố định: đợc áp dụng suốt thời hạn vay. Với loại lãi suất này cả
ngời gửi tiền và ngời vay tiền đều có thể biết trớc số lãi đợc trả và phải trả nhng
lại làm cho các tổ chức cung ứng tín dụng và ngời vay tiền khó có khả năng
phản ứng linh hoạt với các biến động, nếu có, của cung cầu vốn trên thị trờng
tài chính tiền tệ.
Lãi suất thả nổi: là lãi suất có thể thay đổi phù hợp với sự biến động của
thị trờng và có thể báo trớc hoặc không báo trớc. Mặc dù khi áp dụng cơ chế lãi
suất này cả ngời đi vay và ngời cho vay không thể xác định chính xác mức lãi
suất sẽ phải trả nhng nó thích hợp trong một môi trờng không ổn định và các
quan nhân tố ảnh hởng đến lãi suất là khó dự đoán.
Việc phân chia hai loại lãi suất này chủ xuất phát từ yêu cầu quản lí lãi
suất. Đây là hai cách quản lý lãi suất. Cố định lãi suất có nghĩa là đa ra những
Sinh viên: trần thị thu trang

ng lợng tiền tơng ứng lại quá d thừa. Trớc tình hình trên đòi hỏi nhà nớc cần
nhìn nhận một cách tổng thể về chính sách tiền tệ quốc gia, về mối quan hệ
giữa chính sách cung ứng tiền và lạm phát,về tác dụng của các loại lãi suất
trong nền kinh tế. Các loại lãi suất khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích của các
chủ thể tạo ra chúng. Chính phủ tuỳ thuộc vào nhu cầu chi tiêu nhiều hay ít mà
vay nền kinh tế nhiều hay ít, lãi suất thấp sẽ đồng nghĩa với việc thu hút đợc
nhiều tiền trong lu thông và ngợc lại. NHNN giao cho nhiệm vụ thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia, tuỳ vào mục tiêu của chính sách trong từng thời kỳ
vào mục tiêu hút tiền và cung ứng tiền mà NHNN đặt giá cao hay thấp cho
nguồn vốn vay và cho vay của mình với nền kinh tế theo giá cao hay thấp. Các
TCTD, các doanh nghiệp cũng nh các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong
quan hệ đi vay và cho vay đều căn cứ vào mục đích và nhu cầu của mình mà đặt
giá cao hay thấp cho từng loại tín dụng.
Sinh viên: trần thị thu trang
10
Luận văn tốt nghiệp GV hớng dẫn: TS. phạm giang thu
- Lãi suất tín dụng nhà nớc: áp dụng trong các trờng hợp Nhà nớc đi vay của
các chủ thể khác nhau trong xã hội dới hình thức phát hành tín phiếu hoạc trái
phiếu. Loại lãi suất này có thể do nhà nớc ấn định căn cứ vào lãi suất tiền gửi
tiết kiệm của ngân hàng, vào các yếu tố khác nh sự biến động của lạm phát, nhu
cầu cấp thiết về vốn của Nhà nớc... hoặc hình thành thông qua hoặt động đấu
thầu tín phiếu, trái phiếu Nhà nớc.
-Lãi suất tín dụng ngân hàng: đợc áp dụng trong hoặt động tái cấp vốn của ngân
hàng trung ơng cho các ngân hàng, trong quan hệ giữa các ngân hàng với nhau
trên thị trờng liên ngân hàng, trong quan hệ giữa ngân hàng với doanh nghiệp
và công chúng trong việc huy động tiền gửi và trong việc cho vay. Lãi suất tín
dụng ngân hàng bao gồm:
+ Lãi suất tái chiết khấu: là hình thức lãi suất tái cấp vốn đợc áp dụng khi
Ngân hàng Nhà nớc tái chiết khấu thơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác cho các tổ chức tín dụng.

chúng, Nhà nớc có thể hạn mức lãi suất tái cấp vốn xuống tạo điều kiện cho các
tổ chức tín dụng vay nhiều hơn tăng lợng tiền cung ứng trong lu thông. Lợng
tiền cung ứng cho vay không bị khan hiếm sẽ khiến cho các TCTD giảm lãi
suất huy động đồng thời lãi suất cho vay cũng không bị đẩy lên cao.
3)Các nhân tố ảnh hởng đến lãi suất
Lãi suất là một loại giá cả vì vậy cũng nh những loại hàng hoá khác lãi
suất chịu ảnh hởng lớn của cơ chế cung cầu. Nhng lãi suất không phải là một
loại giá cả thông thờng vì vậy khi xem xét những biến đổi của lãi suất các nhà
chuyên môn thờng dựa vào lý thuyết quỹ cho vay. Lý thuyết quỹ cho vay cho
rằng: trong lãi suất đã hàm chứa một mâu thuẫn giữa ngời đi vay và ngời cho
vay. Ngời đi vay coi lãi suất nh khoản chi phí phải trả cho nhu cầu sử dụng tạm
thời tiền vốn của ngời khác nên ngời đi vay muốn lãi suất càng thấp càng tốt,
ngợc lại, lãi suất lại là giá cả khoản tiền mà ngời cho vay đòi hỏi khi tạm thời
trao quyền sử dụng khoản tiền của mình cho ngời khác nên muốn lãi suất càng
cao càng tốt. Bởi vậy, lãi suất cũng chịu ảnh hởng hoạt động của cơ chế cung
cầu.
Trong đó cầu quỹ cho vay bao gồm nhiều thành phần và bắt nguồn từ tất cả
các khu vực của nền kinh tế, trong đó mọi khu vực có nhu cầu về quỹ cho vay
xuất phát từ các động lực khác nhau:
- Khu vực doanh nghiệp là khách hàng chính tạo nên cầu quỹ cho vay. Những
nhu cầu về quỹ cho vay của doanh nghiệp chủ yếu xuất phát từ nhu cầu đầu t
mua sắm các tài sản thực nh nhà máy, thiết bị và hàng tồn kho.
- Khu vực chủ yếu khác liên quan đến cầu quỹ cho vay trong các thị trờng tài
chính là chính quyền địa phơng và trung ơng. Nhu cầu về quỹ cho vay của cơ
quan địa phơng chủ yếu phát sinh vào việc xây dựng tiện ích cho giáo dục và
những dịch vụ công quyền khác, nhu cầu này đợc quyết định trớc hết do tỷ lệ
gia tăng dân số, các thay đổi về vị trí địa d, sự tăng tuổi thọ dân số... Nhu cầu
về quỹ cho vay của chính phủ phát sinh chủ yếu từ chính sách tài chính quốc
gia (thu nhập và chi tiêu Ngân sách quốc gia ).
- Ngoài ra, các cá nhân, hộ gia đình cần tiền để mua sắm hàng tiêu dùng, trong

cho vay có mối tơng quan nghịch đảo với lãi suất và lợng quỹ cho vay có quan
hệ thuận chiều ứng với sự thay đổi của lãi suất.
Khi lợng cung cầu trái khoán cân bằng thì lãi suất cân bằng. Đây là một
vị trí mà thị trờng sẽ ổn định. Nh vậy, lãi suất cân bằng là lãi suất mà thị trờng
luôn hớng tới. Song mức cân bằng không cố định, nó thay đổi khi có nhân tố
làm thay đổi lợng cầu và lợng cung quỹ cho vay trên thị trờng.
Nh vậy, có thể nói các nhân tố tác động đến lợng cung, cầu quỹ cho vay
chính là các nhân tố ảnh hởng đến sự hình thành lãi suất. Hiểu đợc các nhân tố
này ta sẽ nhận thức đợc rõ hơn những biến động của lãi suất qua từng thời kỳ,
tại sao lại có sự thay đổi thờng xuyên về cơ chế lãi suất trong chính sách tiền tệ
của NHNN và những điều chỉnh ấy có tác động ngợc trở lại thế nào đối với nền
kinh tế. Chính vì vậy đây là phần không thể thiếu trong quá trình tìm hiểu về
thực trạng cơ chế lãi suất của nớc ta.
Các nhân tố ảnh hởng đó bao gồm:
Sinh viên: trần thị thu trang
13
Luận văn tốt nghiệp GV hớng dẫn: TS. phạm giang thu
3.1 Lạm phát dự tính
Lạm phát là kẻ thù của lãi suất, có nhiều cách hiểu khác nhau về lạm
phát. Lạm phát đợc hiểu là tình trạng giá cả của mọi mặt hành tăng lên so với
một thời điểm bất kỳ trớc đó hay lạm phát là tình trạng mất giá của đồng tiền
hay cũng có hiểu lạm phát là sự giảm giá trị hay sức trao đổi thành hàng hoá
của đồng tiền.
Tác động đầu tiên của lạm phát lên đời sống kinh tế là nó làm thay đổi
lãi suất. Với lãi suất cho trớc, khi lạm dự tính tăng lên chi phí thực của tiền vay
giảm do đó lợng cầu quỹ cho vay tăng. Đồng thời khi lạm phát dự tính tăng có
nghĩa là giá cả hành hoá tăng, sẽ làm sụt giảm lợi tức thực tính của việc cho vay
do đó lợng cung quỹ cho vay sẽ giảm xuống. Việc thay đổi lợng cung cầu quỹ
cho vay sẽ dẫn đến sự thay đổi lãi suất cân bằng. Có nghĩa là khi lạm phát dự
tính tăng, lãi suất tăng.

chính có thể chuyển đổi sang tiền mặt một cách nhanh chóng với chi phí quản lí
và hoán chuyển thấp.
Tính lỏng tài sản tài chính cao thì lợng cầu tài sản tài chính tăng, lợng
cung quỹ cho vay tăng theo làm lãi suất cân bằng giảm xuống ngợc lại tính
lỏng tài sản tài chính giảm sẽ làm cho lãi suất tăng.
Các nhân tố trên nh chúng ta đã khẳng định có ảnh hởng lớn đến quan
hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế và từ đó có ảnh hởng lớn đến lãi suất. Vì
vậy, khi xây dựng một chính sách lãi suất bất kỳ, dù là chính sách điều chỉnh
trực tiếp, thả nổi có sự quản lý hay thả nổi hoàn toàn...cũng đòi Nhà nớc cần
phải xem xét kỹ lỡng đến các nhân tố ảnh hởng trên để ra một chính sách phù
hợp nhất. Trớc tiên, cần chú ý đến chính sách lãi suất và sự phát triển của nền
kinh tế, vì suy cho cùng mục tiêu cuối cùng của chính sách lãi suất cũng chính
là nó. Nền kinh tế có phát triển hay không đều ảnh hởng đến luợng cung cầu
vốn và từ đó ảnh hởng đến lãi suất. Vì vậy, khi xây dựng chính sách lãi suất cần
phải tạo điều kiện kích thích, điều tiết hoạt động kinh tế phát triển và một chính
sách kinh tế có hiệu quả. Khi có một chính sáh lãi suất phù hợp sẽ có khả năng
điều tiết một cáhc tự nhiên lợng vốn lu thông từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ ngời
có vốn sang ngời cần vốn sử dụng vào các dự án đầu t, sản xuất kinh doanh có
lợi cho nền kinh tế - xã hội. Một chính sách lãi suất không phù hợp sẽ gây bất
lợi cho sự phát triển của nền kinh tế. Mức lãi suất sẽ làm cho ngời đi vay đánh
giá thấp giá trị sử dụng đồng vốn, đầu t tràn lan, kém hiệu quả. Mức lãi suất
quá cao sẽ không khuyến khích đợc ngời vay, làm cho vốn đầu t trở nên ứ đọng,
không đầu t đợc vào sản xuất,kinh doanh.
Một điểm nữa khi xây dựng chính sách lãi suất cần phải triệt để tuân thủ
nguyên tắc:
Tỷ lệ lạm phát < Lãi suất đi vay < Lãi suất cho vay < Tỷ suất lợi nhuận bình
quân của nền kinh tế
Lãi suất phải lớn hơn tỷ lệ lạm phát và nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận bình
quân của nền kinh tế. Có nh vậy mới đảm bảo lợi ích cho cả ngời vay, ngời đi
vay đồng thời có tác dụng thúc đẩy sản xuất và kinh doanh tiền tệ phát triển. Tỷ

ích kinh tế là cơ chế tác động của các quy luật kinh tế, cạnh tranh là cơ chế
vận động của thị trờng, lại nói cơ chế thị trờng là là cơ chế của kinh tế hàng
hoá...
Trong lĩnh vực kinh tế, cơ chế kinh tế là tổng thể các yếu tố có mối liên
hệ tác động qua lại ràng buộc lẫn nhau tạo thành động lực dẫn dắt nền kinh tế
phát triển. Cơ chế kinh tế mang tính khách quan vốn có của nền kinh tế.
Cơ chế kinh tế đợc xem xét với những cấp độ khác nhau: cơ chế kinh tế
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thuộc cấp độ này là cơ chế chung điều tiết
toàn bộ các hoạt động trong nền kinh tế nh: cơ chế tự cấp, tự túc, cơ chế kế
hoách hoá tập trung, cơ chế thị trờng. .. Cơ chế kinh tế điều tiết riêng từng bộ
phận, từng yếu tố, từng lĩnh vực của nền kinh tế nh: cơ chế điều tiết phân phối
thu nhập, cơ chế lãi suất, cơ chế cạnh tranh cơ chế cung cầu
*
. ..
*
theo nguồn: báo nhân dân, ngày 2/8/2001
Sinh viên: trần thị thu trang
16
Luận văn tốt nghiệp GV hớng dẫn: TS. phạm giang thu
Tuy nhiên, sự phân biệt cấp độ trên chỉ là tơng đối. Cơ chế kinh nào cũng
quan trọng, một mặt nó mang tính khách quan, mặt khác lại đợc con ngời nắm
lấy để vận hành nền kinh tế, khi ấy thờng gọi là cơ chế vận hành hay còn gọi là
cơ chế quản lý một cơ chế quản lý đúng là sự thống nhất giữa nhân tố khách
quan và chủ quan, có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển, ngợc lại, nếu cơ chế
vận hành bất hợp lý sẽ làm thui chột và mất đi động lực phát triển kinh tế.
Hiểu một cách cụ thể hơn, cơ chế quản lý kinh tế là khái niệm dùng để
chỉ phơng thức mà qua đó chính phủ (Nhà nớc) tác động vào nền kinh tế để
định hớng nền kinh tế tự vận động đến các mục tiêu đã định. Có thể nói cơ chế
quản lý kinh tế là một hệ thống bao gồm: các mục tiêu quản lý kinh tế, các
công cụ quản lý kinh tế và cơ chế kinh tế. Trong đó cơ chế kinh tế đóng vai trò

Sinh viên: trần thị thu trang
17
Luận văn tốt nghiệp GV hớng dẫn: TS. phạm giang thu
gian qua vì vậy chính là thực trạng của cơ chế quản lý lãi suất tín dụng của Việt
Nam. Tuỳ theo từng thời kỳ mà sự tác động của Nhà nớc vào cơ chế lãi suất là
chặt hay lỏng. Tuy nhiên, trong thời gian hơn 10 năm Nhà nớc luôn dùng cơ
chế kiểm soát trực tiếp lãi suất làm ảnh hởng lớn đến cơ chế tự điều chỉnh của
lãi suất ở tầm vi mô. Chỉ mới đây, cơ chế lãi suất mới thực sự đợc vận hành theo
những quy luật vốn có của nó, Nhà nớc chỉ can thiệp gián tiếp thông qua những
công cụ điều hành của mình, thực sự đa cơ chế lãi suất Việt Nam chuyển sang
vận hành theo cơ chế thị trờng.
2) Vai trò của cơ chế lãi suất trong nền kinh tế thị trờng
2.1 Cơ chế lãi suất đóng vai trò định h ớng cho việc hình thành giá cả sử dụng vốn .
Cơ chế lãi suất đóng vai trò định hớng cho việc hình thành giá cả sử dụng
vốn trong hoạt động tín dụng, kinh doanh tiền tệ. Thông qua cơ chế lãi suất các
tổ chức tín dụng ấn định đợc mức lãi suất kinh doanh của mình. Từ đó, dung
hoà một cách tự nhiên lợi ích của ngời gửi tiền, ngời vay vốn và các tổ chức tín
dụng. Cơ chế lãi suất đóng vai trò nh ngời dẫn đờng cho các hoạt động kinh
doanh tiền tệ, mức giá cả của vốn phải xoay quanh cơ chế lãi suất hiện hành.
Chính sách lãi suất của Việt Nam từ khi chuyển từ cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng vẫn là chính sách điều chỉnh trực tiếp. Có
nghĩa là Nhà nớc trực tiếp quy định các mức lãi suất hoặc quy định mức khống
chế đối với lãi suất, trực tiếp can thiệp vào giá cả tín dụng. Cụ thể, là giai đoạn
1989-1990: lãi suất đợc ấn định cụ thể theo kỳ hạn nghành nghề và khu vực
kinh doanh, các TCTD buộc phải chấp hành thụ động các mức lãi suất do
NHNN quy định. Khi chuyển sang cơ chế lãi suất thực dơng từ năm 1992 đến
năm 1996, NHNN không quy định cụ thể các mức lãi suất mà áp dụng trần lãi
suất tín dụng ngắn hạn, dài hạn và lãi suất cho vay thoả thuận. Lãi suất tiền gửi
vẫn đợc quy định cụ thể. Các TCTD đã tự do hơn trong việc quyết định mức lãi
suất kinh doanh nhng vẫn phải căn cứ vào trần lãi suất cho vay và các mức lãi

thay đổi căn bản chính sách vào đầu năm 1989, thực hiện cơ chế lãi suất thực d-
ong đã chặn đứng lạm phát 1989.
Năm 1990 -1991 tái lạm phát lại diễn ra cộng thêmvới cơn sốt vàng đô la.
Nhà nớc đã có chỉ đạo liên quyết, thực hiện một cách triệt để cơ chế lãi suất
thực dơng làm giảm lạm phát.
Năm 1996 nền kinh tế nớc ta lại rơi vào tình trạng thiểu phát khiến ngân
hàng tiếp tục phải hạ trần lãi suất để phần nào đáp ứng đợc diễn biến và thay
đổi giá.
Nh vậy, có thể thấy rằng lạm phát ở nền kinh tế nớc ra thực sự rất phức
tạp, lúc đạt tới mức phi mã, lúc lại rơi vào tình trạng thiểu phát, cơ chế lãi suất
thích hợp trong từng thời kỳ thực sự đã đóng vai trò quan trọng góp phần ổn
định lạm phát, thúc đẩy phát triển kinh tế.
2.3 Cơ chế lãi suất đóng vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế
Từ đầu thập niên 90 cho đến nay cùng với việc đổi mới toàn diện chính
sách lãi suất đã ngày càng khuyến khích đầu t và xuất khẩu, kéo theo sự gia
tăng GDP, tốc độ tăng trởng kinh tế ổn định điều đó chứng tỏ rằng cơ chế lãi
suất là công cụ tác động nhạy bến đối với hoạt động huy động vốn và sử dụng
vốn, mở rộng đầu t trong nớc cũng nh nớc ngoài đối với mọi thành phần kinh tế
góp phần làm giảm nhập siêu, tạo sự phát triển nhanh cho nền kinh tế.
Với chính sách đổi mới của nhà nớc, đặc biệt là việc khống chế lợng tiền cung
ứng, chính sách tín dụng, chính sách lãi suất. .. đã thúc đẩy sự cải thiện nền
kinh tế Việt Nam những năm đầu đổi mới theo huớng phục hồi và phát triển.
Sinh viên: trần thị thu trang
19
Luận văn tốt nghiệp GV hớng dẫn: TS. phạm giang thu
Năm 1992 lạm phát giảm 67,6%- 14,5%/năm. Nền kinh tế tăng trửong 6% năm
1991 tăng lên 8,6%năm 1992, lạm phát đạt ở mức thấp 5,2%. Năm 1994 tốc độ
phát triển của nền kinh tế vẫn đạt mức tăng trởng cao 8,8%, kim ngạch xuất
khẩu tăng 2%, mức đầu t tăng 30%. Năm 1995 tăng trởng kinh tế 9,5%. Những
năm gần đây, trong khi nền kinh tế thế giới gặp nhiều biến động, nhất là sự biến

chế lãi suất thoả thuận, các doanh nghiệp càng có điều kiện để phát huy năng
lực của mình trong sản xuất và kinh doanh, xoá bỏ những bất bình đẳng tồn tại
lâu nay trên lĩnh vực vốn. Nếu nh năm 1991, tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp
quốc doanh chiếm tới 90% tổng d nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống ngân
hàng thì đến năm 1999 con số này chỉ còn khoảng 48%. Trong tỷ trọng cho vay
Sinh viên: trần thị thu trang
20
Luận văn tốt nghiệp GV hớng dẫn: TS. phạm giang thu
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng từ 10% năm 1991 lên 52% vào năm
1999.
Không chỉ khuyến khích các ngành sản xuất phát triển chính sách lãi
suất còn đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp và phát triển nông thôn, phục vụm
cho quá trình xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho gần 80% dân số
sống ở nông thôn. Chính sách lãi suất luôn giành sự u đãi cho khu vực nông
thôn, giảm tỷ lệ phần trăm lãi suất co vay so với tỷ lệ cho vay trung bình của
nền kinh tế. Ngân hàng ngời nghèo đến nay đã có thời gian đi vào hoạt động đ-
ợc hơn 7 năm, đã góp phần giúp nhiều hộ dân thoát khỏi cảnh đói nghèo.
NHNN& PTNT trong thời gian hoạt đọng ngày càng có những đóng góp tích
cực cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn. Qua 10 năm triển
khai hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân của NHNN&PTNT đã tăng trởng
liên tục mạnh mẽ: doanh số cho vay chỉ trong 6 tháng đầu năm 2002 so với cả
năm 1991 tăng 63 lần ( 23.427.076 triệu đồng/369.700 triệu đồng). Nếu tính cả
trên hai triệu hộ nông dân nghèo có d nợ tại ngân hàng phục vụ ngời nghèo
( cũng do NHNN& PTNT giải ngân) và 1 triệu hộ nông dân có d nợ tại các
TCTD khác thì có trên 8 triệu hộ nông dân tiếp cận với vốn tín dụng ngân hàng,
chiếm 70% số hộ nông dân ở Việt Nam( 8triệu hộ trên 12 triệu). Chính sách lãi
suất trong thời gian qua đã góp phần đa Việt Nam thực hiện cơ chế thị truờng
một cách có hiệu quả, đa đất nuớc ngày càng đi lên hội nhập với nền kinh tế
trong khu vực và trên thế giới.
2.5 Cơ chế lãi suất đóng vai trò quan trọng là công cụ điều hành chính

nghiêm trọng trong thập kỷ 90. Công cụ lãi suất đã thực hiện thành công vai trò
của mình, nền kinh tế tiếp tục đợc giữ ở trạng thái ổn định.
Sinh viên: trần thị thu trang
22
Luận văn tốt nghiệp GV hớng dẫn: TS. phạm giang thu
CHƯƠNG II
Thực trạng cơ chế l i suất ở việt nam ã
Lãi suất là một trong những công cụ rất quan trọng của chính sách tiền tệ quốc
gia. Tuỳ theo nhịp độ phát triển của nền kinh tế, mức độ ổn định của tiền tệ mỗi
nớc để có nội dung, phơng pháp điều hành và quản lý lãi suất ở mức độ khác
nhau. Đối với nớc ta, đến nay đã tiến một bớc dài quan trọng trong cơ chế điều
hành và quản lý lãi suất. Bớc tiến của việc điều hành công cụ lãi suất nh hiện
nay đã thể hiện một bớc tiến của nền kinh tế trong việc chuyển mình từ cách
quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang quản lý theo cơ chế thị tr-
ờng có sự quản lý vĩ mô của nhà nớc.
Sự kiện này đợc bắt đầu từ khi có nghị định 53/ HĐBT ngày 26/ 03/ 1988
và tiếp đến là hai pháp lệnh về ngân hàng 10/ 1989 từ đó ngành ngân hàng đã
trải qua hơn 10 năm đổi mới, trong thời gian đó cũng là hơn 10 năm không
ngừng đổi mới chính sách điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nớc, theo từng
bớc tiến dần đến lãi suất thị trờng khi điều kiện kinh tế và tiền tệ cho phép. Sau
đây xin điểm qua các bớc đổi mới chính sách lãi suất theo giai đoạn để chúng ta
có thể hình dung một cách rõ nét nhất các bớc đi trong lộ trình đổi mới cơ chế
lãi suất của chúng ta trong thời gian qua và từ đó có thể định hớng một chính
sách lãi suất mới phù hợp hơn trong giai đoạn mới
I. Cơ chế lãi suất âm
1) Nội dung cơ bản của cơ chế lãi suất âm
Trớc năm 1988, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam là một hệ thống ngân hàng
một cấp, về thực chất nó là một bộ phận của ngân sách Nhà nớc. Hoạt động chủ
yếu của hệ thống ngân hàng này là nhận vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp
quan hệ của ngân hàng với kinh tế ngoài quốc doanh và với dân chúng hết sức

- Kinh doanh lơng thực.
- Sản xuất công nghiệp vận tải, bu điện, bốc xếp.
- Kinh doanh vật t dợc phẩm.
- Kinh doanh hàng xuất khẩu.
- Kinh doanh thong nghiệp, du lịch, dịch vụ, HTX mua bán, kinh doanh
nhập khẩu, ngoại thơng.
Các loại cho vay khác cũng đợc chia nhỏ thành nhiều đối tợng cho vay tơng tự.
Tiếp sau đó, Quyết định số 42/NH-QĐ của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà
nớc Việt Nam về lãi suất tiền gửi và cho vay thay thế quyết định số 29 tuy có sự
thay đổi đáng kể trong việc quy định tỷ mỷ các mức lãi suất khác nhau cho
từng đối tợng khác nhau nhng vẫn cha giải quyết thật triệt để nhợc điểm trên.
Có thể thấy, các thành phần kinh tế vẫn còn chịu sự phân biệt đối xử rất lớn,
hoàn toàn không có sự bình đẳng, chịu sự thiệt thòi do t duy bao cấp còn quá
nặng nề, mang tính áp đặt và không sát với thực tế. Việc phân chia các mức lãi
suất một cách qúa cụ thể nh trên thể hiện sự bao cấp qua giá, u đãi một cách
không cần thiết đối với các tổ chức kinh tế là doanh nghiệp nhà nớc.
Lãi suất là một lĩnh vực nhậy cảm có tác động sâu rộng tới nền kinh tế, nh-
ng trong giai đoạn này vẫn đơc xem nh một biện pháp mang tính hành chính
Sinh viên: trần thị thu trang
24
Luận văn tốt nghiệp GV hớng dẫn: TS. phạm giang thu
( lãi suất đợc quy định một cách cụ thể, mang tính bắt buộc đối với tổ chức tín
dụng ). Vốn đợc coi là một loại hàng hoá và lãi suất là giá cả của vốn, vì vậy,
nó cũng cần phải tuân thủ theo quy luật giá trị và quy luật cung cầu. Nhng
những gì thể hiện trong giai đoạn này hoàn toàn không tuân thủ những quy luật
trên. Cơ chế lãi suất âm tồn tại trong suốt giai đoạn này nh một giải pháp tình
thế kéo đất nớc ra khỏi cuộc khủng hoảng.
Lãi suất âm là lãi suất ngân hàng công bố chính thức thấp hơn so với tỷ
lệ lạm phát. Có sự khác biệt giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế. Cái gọi
là lãi suất danh nghĩa chỉ là lãi suất ngân hàng chính thức. Lãi suất thực tế là số

Cơ chế lãi suất âm đã trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc lấy lại ổn định
nền kinh tế và sự vận hành của nó đã mang lại những kết quả đáng khích lệ:
Thứ nhất, nó giúp khôi phục và bảo đảm lòng tin của nhân dân vào giá
trị ổn định của đồng tiền mình gửi trong ngân hàng. Động viên thu hút đợc một
số vốn và tiền mặt vào ngân hàng lớn gấp nhiều lần so với mấy chục năm trớc
đã tích luỹ lại, thể hiện: số d tiền gửi tiết kiệm cuối tháng 6 năm 1990 so với
31/12/1988 bằng 15,61 lần, số d tiền gửi của các tổ chức kinh tế bằng 1,5 lần.
Tổng các khoản tiền gửi tăng nhanh và đến đầu năm 1991 đạt gần 2.300 tỷ
đồng.
*
Nhờ đó các nhu cầu tiêu dùng của xã hội đợc điều tiết, phân bổ thích
hợp hơn, giúp cải thiện cơ cấu cân đối cung cầu trên thị trờng và bổ sung lợng
tiền mặt cho chi ngân sách, giảm khối lợng tiền in bù đắp thâm hụt ngân sách,
giúp chính phủ tăng lhả năng mua và nhập khẩu các hàng hoá cần thiết để điều
hoà cung cầu trên thị trờng, củng cố sức mua đồng tiền, kiềm chế tăng giá cả...
Thứ hai, giúp thủ tiêu tình trạng đầu cơ và tích trữ hàng hoá, nguyên vật
liệu, lơng thực... ( bằng tiền của mình hoặc tiền đi vay với lãi suất thấp hơn mức
lạm phát ) đã tồn tại nhiều năm trớc đó, mà đã gây ra tình trạng thiếu hụt, khan
hiếm giả tạo do cầu lớn hơn cung. Điều này đợc giải thích bởi lợi ích mà lãi
suất cao đem lại cho khoản tiết kiệm khi đó sẽ cao hơn nếu đem số tiền này
dùng vào để đầu cơ tích trữ hàng hoá.
Thứ ba, lãi suất tiền gửi cao hơn mức lạm phát còn giúp giảm bớt các
nhu cầu tín dụng giả đợc kích thích bởi mức lãi suất thấp hoặc chênh lệch lãi
suất tạo ra, cũng nh giúp cải thiện và làm lành mạnh hoá tình trạng nợ đọng
trong đời sống kinh tế - xã hội.
Thứ t, lãi suất tiền gửi tuy rất cao nhng lãi suất cho vay cũng không ở
mức thấp. Lãi suất cho vay cao khiến ngời vay phải cân nhắc cẩn thận hơn các
khoản vay mới, đồng thời tìm cách trả nợ cũ nhanh để tránh lãi mẹ đẻ lãi con.
Nghĩa là lãi suất cao sẽ giúp giảm tổng cầu, nhất là cầu giả và tăng tổng cung
của nền kinh tế, đặc biệt từ nguồn hàng hoá vật t có sẵn trong nền kinh tế.

gây áp lực lên giá cả hàng hoá. Lãi suất tín dụng cao đợc các doanh nghiệp đi
vay tự động chuyển vào giá thành sản xuất, đẩy mức giá bán lên cao, khiến giá
cả thị trờng của sản phẩm do doanh nghiệp đó sản suất, cũng nh mặt bằng giá
chung tăng, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, ảnh hởng
trực tiếp đến mức lạm phất xã hội và khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp.
Nền kinh tế bị đình trệ, thất nghiệp tăng, tệ nạn xã hội phát triển theo chiều h-
ớng xấu.
Nhà nớc vẫn tiếp tục phải chi bù lỗ cho các kênh tín dụng vì sự chênh
lệch mức lãi suất tiết kiệm huy động và mức lãi suất cho các doanh nghiệp nhà
nớc vay. Hơn nữa, tiền huy động đợc để chất đống trong kho vì không cho vay
đợc ( chiếm 50% tổng số tiền huy động đợc).Nếu kéo dài thời gian áp dụng
biện pháp tình thế tiếp tục thu hút vốn bằng lãi suất cao, thì tại một thời điểm
nào đó, tạm thời có đủ tiền mặt chi tiêu, nhân dân tạm thời cha mua một số mặt
hàng hoặc lợng hàng hoá cha cần dùng ngay, dành tiền vào gửi tiết kiệm, giá cả
tạm thời không tăng hoặc giảm đi chút ít, nên có ngời tởng rằng ta đã chống
lạm phát xong, không phải in thêm tiền mặt đa vào lu thông, giá cả thị trờng sẽ
xuống và ổn định. Đó chỉ là ảo tởng bởi sau một thời gian khi nhân dân rút tiền
ra để chi tiêu thì ngoài số tiền gốc còn phải trả thêm một số tiền lãi khổng lồ,
đây là khoản ngân hàng phải bù đắp và toàn dân phải chịu và ngân sách đang ở
tình trạng thu không đủ chi, do đó lạm phát càng trầm trọng hơn.
Sinh viên: trần thị thu trang
27

Trích đoạn Những mặt hạn chế của cơ chế lãi suất âm Điều kiện ra đời cơ chế lãi suất dơng Những mặt hạn chế của cơ chế lãi suất dơng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status