Công tác quản lý vốn trong Doanh nghiệp - Pdf 13

Lời nói đầu
Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nớc ta chính
thức bơc vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đờng lối đổi mới với
nội dung chủ yếu là: Xoá bỏ hoàn toàn cơ chế tập chung quan liêu bao cấp, vốn
gây lên sự trì trệ về t tởng, hiệu quả sản suất xã hội thấp kém. Tăng trởng kinh
tế thấp, nguy cơ tụt hậu xa so với các nớc trong khu vực và trên thế giới, đời
sống vật chất tinh thần không đợc cải thiện, chuyển sang nền kinh tế thị trờng
theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nớc, mở rộng hợp tác
quan hệ với tất cả các nớc trên thế giới theo phơng châm hai bên cùng có
lợi.Vói sự cải cách quan trọng này, nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc tốc độ tăng tr-
ởng kinh tế cao, đời sống nhân dân đợc cải thiện, nớc ta có vị thế cao hơn trên
trờng quốc tế.
Đặc biệt trong những năm gần đây, đất nớc ta đã và đang thực hiện
những lộ trình quan trọng để hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, phấn đấu trở
thành thành viên của các tổ chức quốc tế. Sự tham gia vào quá trình này là một
tất yếu khách quan, bên cạnh những thác thức không nhỏ,nó cũng đêm lại cho
nớc ta những lợi ích hết sức to lớn góp phần vào việc nâng cao tốc độ tăng trởng
kinh tế, hoàn thiện nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Mội trong những qui luật cơ bản của kinh tế thị trờng là qui luật cạnh
tranh . Thực tế cho thấy ở đâu thiếu cạnh tranh thì ở đó thờng trì trệ, bảo thủ và
kém phát triển. Bởi vậy mặt tích cực của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng,
sản suất hàng hoá, chính là nó buộc ngời sản suất, các doang nghiệp phải thờng
xuyên động não , tích cực nhạy bén, năng động, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng kỹ
thuật công nghệ mới và tổ chức tiết kiệm , có hiệu quả.
Trong cơ chế thị trờng cạnh tranh hết sức khốc liệt cả trong và ngoài nớc
nh vậy,để tồn tại và phát triển, đảm bảo thu đủ bù chi và đạt lợi nhuận tối đa
buộc doanh nghiệp sản suất phải thực hiện tổng hoà nhiều biện pháp. một trong
những biện pháp hữu hiệu nhất mà hầu hết các doanh nghiệp đều thực hiện là
phấn đấu giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. đòi hỏi quản lý ngày càng cao
không chỉ biết một cách chung chung, tổng thể mà còn phải tính toán đợc chi
phí,giá thành cho từng hoạt động cho từng loại sản phẩm, công việc lao vụ dịch

tính giá thành sản phẩm tại xi nghiệp in 15
Chơng III: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập
Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp in 15
Kết luận
Mặc dù hết sức cố gắng, song do trình độ nhận thức và lý luận còn hạn
chế, thời gian tìm hiểu và thực tập không dài, vì vậy đề tài nghiên cứu này chăc
2
chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết, thiếu sót. Em rất mong nhận đợc
sự góp ý quí báu của thầy cô cùng toàn thể bạn đọc để đề tài nghiên cứu cuả em
đợc hoàn thiện hơn.
3
Chơng 1
Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm
1.1. Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm
1.1.1. Chi phí sản xuất
1.1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt
động sản xuất trong một thời kỳ.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất, doanh nghiệp cần phải có 3 yếu tố
cơ bản:
- T liệu lao động: nhà xởng, máy móc, thiết bị và những tài sản cố định khác.
- Đối tợng lao động: nguyên vật liệu, nhiên liệu
- Lao động của con ngời.
Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất cũng đồng thời là
quá trình doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tơng ứng. Trong
điều kiện nền kinh tế hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh, mọi chi phí
trên đều đợc biểu hiện bằng tiền. Trong đó:

mà thớc đo chủ yếu là thớc đo tiền tệ.
Cả hai mặt định tính và định lợng của chi phí sản xuất đều chịu sự chi
phối thờng xuyên của quá trình tái sản xuất và đặc điểm sản phẩm.
Nếu theo quan điểm của kế toán Việt Nam chi phí sản xuất là toàn bộ
hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra để
tiến hành sản xuất kinh doanh trong kỳ nhất định thì theo quan điểm của Mỹ,
chi phí đợc hiểu nh là một khoản hao phí bỏ ra để thu đợc một số của cải vật
chất hay dịch vụ. Còn theo quan điểm của Pháp, chi phí là toàn bộ số tiền mà
doanh nghiệp bỏ ra để mua đợc các yếu tố của quá trình sản xuất nhất định để
phục vụ cho quá trình sản xuất. Các quan điểm chi phí này tuy có sự khác biệt
nhng chúng lại có cùng một thớc đo chung đó là tiền tệ. Bởi có nhiều quan
điểm khác nhau nên để tránh nhầm lẫn phạm vi của chi phí dới góc độ kế toán,
cần phải phân biệt giữa chi phí và chi tiêu: Chúng ta chỉ đợc tính chi phí của
một kỳ hạch toán gồm hao phí về chi phí tài sản và lao động có liên quan đến
khối lợng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi phí
trong kỳ hạch toán. Trong khi đó, chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật
t, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp bất kể nó đợc dùng vào mục đích gì. Nh-
ng chi tiêu lại là cở sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi
phí. Trên thực tế có những chi phí tính vào kỳ hiện tại nhng cha đợc chi tiêu
(nh các khoản phải trả) hay những khoản chi tiêu của kỳ hiện tại nhng cha đợc
tính vào chi phí (nh mua tài sản cố định rồi khấu hao dần đa vào chi phí). Nh
vậy, chi phí và chi tiêu không chỉ khác nhau về lợng mà còn khác nhau về thời
gian, chúng có sự khác nhau nh vậy là do đặc điểm, tính chất vận động và ph-
ơng thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu
cầu kỹ thuật hạch toán của chúng.
5
Đứng trên phơng diện tính toán về mặt kinh tế, chi phí mà các doanh
nghiệp phải chi trả đều nhằm mục đích là tạo ra những giá trị sử dụng nhất
định cho xã hội biểu hiện thành các loại sản phẩm khác nhau. Nguyên tắc hoạt
động đầu tiên của các doanh nghiệp là phải đảm bảo trang trải đợc các phí tổn

đã chi trả về các loại dịch vụ mua từ bên ngoài nh tiền điện, tiền nớc, tiền bu
phí phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
6
Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền
cha phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ.
Phân loại chi phí theo tính chất, nội dung kinh tế của chi phí có tác
dụng rất to lớn trong quản lý chi phí sản xuất, nó cho biết kết cấu tỷ trọng của
từng yếu tố chi phí sản xuất để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán
chi phí sản xuất. Lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố ở bảng thuyết minh
báo cáo tài chính; cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất,
lập kế hoạch cung ứng vật t, kế hoạch quỹ lơng, cho kỳ sau.
1.1.1.3.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích và công
dụng nhất định đối với hoạt động sản xuất. Theo cách phân loại này, căn cứ
vào mục đích công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục
chi phí khác nhau; mỗi khoản mục chi phí chỉ bao gồm những chi phí có cùng
mục đích và công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế nh thế
nào. Vì vậy, cách phân loại này còn đợc gọi là phân loại chi phí theo khoản
mục. Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đợc chia thành các khoản
mục chi phí sau:
* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí về
nguyên vật liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục
đích trực tiếp sản xuất sản phẩm.
* Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lơng, trích
BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất, không tính vào khoản
mục này số tiền công và trích BHXH, BHYT, KPCĐ của nhân viên sản xuất
chung, nhân viên quản lý và nhân viên bán hàng.
* Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí dùng cho hoạt động sản
xuất chung ở các phân xởng, tổ đội sản xuất. Gồm có: Chi phí nhân viên phân
xởng, chi phí vật liệu, dụng cụ sản xuất, chi phí KHTSCĐ, chi phí dịch vụ mua

Mỗi cách phân loại chi phí đều có những tác dụng nhất định trong công
tác quản lý và hạch toán chi phí ở doanh nghiệp.
1.1. 2. Giá thành sản phẩm
1.1.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Trong quá trình sản xuất ở một doanh nghiệp, một mặt doanh nghiệp
phải bỏ ra những chi phí sản xuất, mặt khác kết quả sản xuất của doanh nghiệp
là thu đợc những sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định đã hoàn thành, đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Những sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn
thành gọi chung là thành phẩm cần phải đợc tính giá thành tức là những chi
phí đã bỏ ra để sản xuất ra chúng. Theo quan điểm của kế toán Việt Nam hiện
nay, giá thành đợc định nghĩa nh sau:
Giá thành là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác, sản phẩm,
lao vụ đã hoàn thành
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lợng sản
xuất, phản ánh hiệu quả sử dụng các loại tài sản, vật t, lao động, tiền vốn trong
quá trình sản xuất cũng nh các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã
thực hiện, nhằm đạt đợc mục đích sản xuất, đợc khối lợng sản phẩm nhiều
8
nhất với chi phí sản xuất tiết kiệm và hạ giá thành. Giá thành sản phẩm còn là
căn cứ để tính toán xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải ai có chi phí sản xuất phát sinh là đã xác
định ngay đợc giá thành mà cần thấy đợc rằng, giá thành là chi phí đã kết tinh
trong một kết quả sản xuất đợc xác định theo những tiêu chuẩn nhất định.
1.1.2.2. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm
Nói đến bản chất của giá thành tức là nói đến nội dung kinh tế chứa
đựng bên trong của chỉ tiêu giá thành. Có nhiều quan điểm khác nhau đề cập
đến vấn đề bản chất của giá thành, trong đó có một số quan điểm tiêu biểu
sau:
-Giá thành là hao phí lao động sống và lao động vật hoá đợc dùng để sản

khoản hao phí vật chất thực tế cần đợc bù đắp bất kể nó thuộc bộ phận nào
trong cấu thành giá trị sản phẩm.
1.1.2.3. Phân loại giá thành sản phẩm
Với mục đích quản lý tốt giá thành sản phẩm cũng nh yêu cầu xây dựng
giá cả hàng hoá, kế toán cần phải phân biệt các loại giá thành khác nhau. Giá
thành đợc xem xét dới nhiều giác độ, phạm vi tính toán khác nhau, về lý luận
cũng nh thực tiễn. Có các cách phân loại giá thành chủ yếu sau:
* Phân loại giá thành theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá
thành.
Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành, giá thành sản phẩm
chia ra làm 3 loại:
- Giá thành kế hoạch:
Giá thành kế hoạch là loại giá thành đợc xác định trớc khi bắt đầu sản
xuất của kỳ kế hoạch dựa trên các định mức và dự toán của kỳ kế hoạch. Giá
thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn
cứ để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch
hạ giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức:
Giá thành định mức là giá thành đợc xác định trên cơ sở các định mức
chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch. Giá thành
định mức đợc xem nh là căn cứ để kiểm soát tình hình thực hiện các định mức
tiêu hao yếu tố vật chất khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất và đợc
xây dựng trớc khi bắt đầu sản xuất.
- Giá thành thực tế:
Giá thành thực tế là chỉ tiêu đợc xác định sau khi kết thúc quá trình sản
xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản
xuất sản phẩm. Giá thành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản
ánh kết quả sản xuất của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải
pháp kinh tế - tổ chức - kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là
cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

quan tâm đến hiệu quả do nó mang lại. Để sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm
thì doanh nghiệp phải tốn hết bao nhiêu chi phí, các loại chi phí và tỷ trọng
của từng loại chi phí, khả năng để hạ thấp các loại chi phí này. Chỉ tiêu thoả
mãn đợc những thông tin mang nội dung trên chính là giá thành.
1. 1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Đi từ khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cho ta thấy đợc
mối quan hệ của chúng là rất mật thiết vì nội dung cơ bản của chúng đều là
biểu hiện bằng tiền của những chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động
sản xuất. Không có chi phí ban đầu bỏ ra thì sẽ không tạo nên giá thành sản
phẩm, ngợc lại giá thành sản phẩm lại phản ánh toàn bộ chi phí sản xuất bỏ ra
cho một khối lợng sản phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ nào đó. Chi phí sản
xuất trong kỳ là căn cứ, là cơ sở để tính giá thành của sản phẩm, công việc, lao
vụ hoàn thành, sự tiết kiệm hoặc lãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất
có ảnh hởng trực tiếp tới giá thành sản phẩm hạ hoặc cao. Do đó quản lý giá
thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất. Giá thành sản phẩm có quan
hệ với chi phí sản xuất thông qua công thức sau:
11
Tổng giá thành
sản phẩm
Chi phí sản
xuất dở dang
đầu kỳ
Chi phí sản
xuất phát sinh
trong kỳ
Chi phí sản
xuất dở dang
cuối kỳ
Tuy giữa chi phí và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với
nhau nhng đây là hai khái niệm riêng biệt nên chúng có những mặt khác nhau

nhuận. Qua đó có thể đánh giá đợc tình hình hoạt động, khả năng kinh doanh
của doanh nghiệp để đa ra các quyết định quản trị để làm sao không ngừng tiết
12
= -+
kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lợng cũng nh khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Vậy để phản ánh đợc đúng các thông tin cần thiết đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tổ chức hạch toán chi phí sản xuất một cách chính xác và tính
đúng, tính đủ giá thành.
Muốn hạch toán chi phí một cách chính xác cần phải tổ chức công việc
ghi chép một cách hợp lý, phản ánh đầy đủ, trung thực các khoản chi phí đã
chi ra, tính toán chính xác các khoản chi phí đó. Nhng không chỉ dừng lại ở
việc ghi chép chính xác về mặt lợng của chi phí mà còn phải phản ánh đúng
thời điểm phát sinh chi phí và đối tợng chịu chi phí đó.
Bên cạnh đó, việc tính đúng, tính đủ giá thành là dựa trên việc tính
chính xác chi phí phát sinh để sản xuất ra sản phẩm. Tính đủ giá thành là tính
toán đầy đủ mọi hao phí thực tế đã bỏ ra theo đúng chế độ quy định để sản
xuất ra một khối lợng công việc, lao vụ hay sản phẩm hàng hoá. Để tính đủ giá
thành cũng cần phải xác định chính xác và loại bỏ những hao phí liên quan
đến giá thành sản phẩm nh các khoản hao phí mang tính chất tiêu cực, những
khoản thiệt hại không đợc quy trách nhiệm đầy đủ...
Việc tổ chức công tác quản lý và hạch toán chi phí sản xuất, tính giá
thành sản phẩm phù hợp với đặc điểm kinh doanh và tình hình thực tế của
doanh nghiệp sẽ cho ta những thông tin chính xác, kịp thời phục vụ cho công
việc quản trị của doanh nghiệp cũng nh định hớng cho hoạt động sản xuất kinh
doanh. Tránh đợc tình trạng lãi giả, lỗ thật. Điều này có ý nghĩa quan trọng
trong công tác quản lý sản xuất nói riêng, quản lý doanh nghiệp nói chung
nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1. 2 . Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.2.1. Vai trò và nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và

phí và dự toán chi phí, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ
giá thành sản phẩm, phát hiện kịp thời khả năng tiềm tàng đề xuất biện pháp
thích hợp để phấn đấu không ngừng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản
phẩm.
1.2.2. Đối tợng hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm
1.2.2.1. Đối tợng hạch toán chi phí
Xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là xác định giới hạn về
mặt phạm vi mà chi phí cần đợc tập hợp để phục vụ cho việc kiểm soát chi phí
và tính giá thành sản phẩm .
Thực tế hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp có thể tiến hành ở
nhiều địa điểm, phân xởng, tổ đội sản xuất khác nhau. ở từng địa điểm sản
xuất lại có thể sản xuất chế biến nhiều sản phẩm, nhiều công việc, lao vụ khác
nhau, theo các quy trình công nghệ khác nhau. Do đó chi phí sản xuất của
doanh nghiệp cũng phát sinh ở nhiều địa điểm, nhiều bộ phận, liên quan đến
nhiều sản phẩm, công việc. Nh vậy, để xác định đúng đắn đối tợng hạch toán
chi phí sản xuất nhằm thực hiện tốt công tác hạch toán chi phí thì cần phải dựa
trên một số tiêu thức. Căn cứ vào một số tiêu thức, đối tợng hạch toán chi phí
sản xuất đợc xác định nh sau:
Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất:
- Doanh nghiệp có quy trình công nghệ là sản xuất giản đơn: Đối tợng
hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm hay toàn bộ quá trình sản xuất.
14
- Doanh nghiệp có quy trình công nghệ phức tạp: Đối tợng hạch toán chi
phí sản xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, phân
xởng sản xuất hoặc bộ phận sản xuất.
Căn cứ vào loại hình sản xuất sản phẩm :
- Với loại hình sản xuất đơn chiếc thì đối tợng hạch toán chi phí sản
xuất là từng sản phẩm.
- Với loại hình sản xuất hàng loạt thì đối tợng hạch toán chi phí sản
xuất có thể là từng đơn đặt hàng hoặc từng loại sản phẩm tuỳ thuộc vào từng

tính giá thành có thể là sản phẩm đợc lắp ráp hoàn chỉnh, cũng có thể là từng
bộ phận, chi tiết sản phẩm.
Loại hình sản xuất
- Với loại hình sản xuất đơn chiếc và sản xuất những loạt nhỏ: Đối tợng
tính giá thành là từng sản phẩm hay từng loại sản phẩm.
- Với sản xuất hàng loạt khối lợng lớn: Đối tợng tính giá thành là nhóm
bán thành phẩm hay nhóm sản phẩm cuối cùng.
Yêu cầu và trình độ quản lý:
- Với trình độ quản lý cao có thể chi tiết đối tợng tính giá thành ở các
giác độ khác nhau.
- Với trình độ quản lý thấp đối tợng tính giá thành có thể là nhóm các
sản phẩm cùng loại có kích cỡ khác nhau hoặc có thể quy định về sản phẩm
gốc.
Việc xác định đối tợng tính giá thành là căn cứ để kế toán giá thành tổ
chức các bảng tính giá thành sản phẩm, lựa chọn phơng pháp tính giá thành
phù hợp, tổ chức công việc tính giá thành hợp lý, phục vụ cho việc quản lý và
kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và tính toán hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
1.2.3. Trình tự tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.2.3.1. Tài khoản sử dụng:
Để theo dõi tình hình phát sinh và tập hợp chi phí sản xuất theo các đối
tợng chịu chi phí, kế toán sử dụng các tài khoản sau:
* TK 621 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
TK 621 sử dụng để tập hợp toàn bộ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
dùng cho sản xuất chế tạo sản phẩm trong kỳ, cuối kỳ kết chuyển sang tài
khoản hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Tài khoản 621 cuối kỳ không có số d, đợc mở chi tiết cho từng đối tợng
hạch toán chi phí sản xuất để phục cho việc tính toán giá thành cho từng đối t-
ợng sản phẩm.
TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp.

Theo quyết định 1141 TC-CĐKT ban hành ngày 01/11/1995 quy định
doanh nghiệp đợc chọn một trong hai phơng pháp hạch toán hàng tồn kho là
kê khai thờng xuyên và kiểm kê định kỳ.
Phơng pháp kê khai thờng xuyên
Là phơng pháp theo dõi, phản ánh thờng xuyên, liên tục tình hình nhập-
xuất-tồn các loại vật t trên sổ kế toán. Vật t có thể đợc xác định bất cứ tại thời
điểm nào trong kỳ kế toán. Phơng pháp này thờng đợc áp dụng ở các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng có giá trị lớn, phức tạp.
Phơng pháp kiểm kê định kỳ
17
Là phơng pháp hạch toán căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế để phản
ánh giá trị hàng tồn kho cuối kỳ trên sổ kế toán tổng hợp và từ đó tính ra giá
trị vật liệu đã xuất trong kỳ theo công thức sau:
Trị giá vật
liệu,hàng
hoá xuất
Trị giá vật liệu,
hàng hoá tồn
đầu kỳ
Trị giá vật
liệu, hàng hoá
nhập trong kỳ
Trị giá vật
liệu, hàng hoá
tồn cuối kỳ
Phơng pháp này đợc áp dụng ở các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, doanh
nghiệp kinh doanh thơng mại có giá trị thấp, nhiều chủng loại.
Phơng pháp hạch toán hàng tồn kho là một yếu tố quyết định đối với nội
dung và trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
doanh nghiệp. Bên cạnh đó trình tự này còn phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất

pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tợng có liên quan. Tiêu
thức phân bổ thờng đợc sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số,
theo số lợng sản phẩm, theo trọng lợng Công thức phân bổ nh sau:
Tài khoản sử dụng: TK 621 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Các nghiệp vụ kế toán chủ yếu:
Quy trình hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo ph-
ơng pháp kê khai thờng xuyên đợc thể hiện qua sơ đồ 1.1 sau đây:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp (Theo phơng pháp kê khai thờng xuyên)
19
Chi phí vật liệu phân
bổ cho từng đối tượng
=
Tổng chi phí
vật liệu cần
phân bổ
x
Tỷ lệ phân bổ
Tỷ lệ
phân
bổ
Tổng tiêu thức phân bổ cho tất cả các đối tượng
Tổng tiêu thức phân bổ cho từng đối tượng
=
x 100
(1)
TK 152
(5
)
(4)

xuất dùng cho từng mục đích.
Theo phơng pháp này, ngoài sử dụng các tài khoản 151, 152, 621,.. kế
toán còn dùng thêm:
+ Tài khoản 611 - Mua hàng
+ Tài khoản 631 - Giá thành sản xuất đợc dùng tơng ứng nh TK154 -
Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang trong phơng pháp kê khai thờng xuyên.
Phơng pháp hạch toán cụ thể các nghiệp vụ liên quan tới việc xác định
trị giá nguyên vật liệu xuất dùng đợc trình bày ở phần trớc (doanh nghiệp áp
dụng phơng pháp kê khai thờng xuyên).
Quy trình hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo ph-
ơng pháp kiểm kê định kỳ đợc thể hiện qua sơ đồ 1.2 sau đây:
20
Nguyên vật liệu
xuất trong kỳ
=
Nguyên vật
liệu tồn đầu kỳ
-+
Nguyên vật
liệu tồn
cuối kỳ
Nguyên vật
liệu nhập
trong kỳ
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
(Theo phơng pháp kiểm kê định kỳ)
Ghi chú:
(1) Kết chuyển giá trị vật liệu cha dùng đầu kỳ
(2) Giá trị vật liệu tăng trong kỳ
(3) Giá trị vật liệu chế tạo sản phẩm, thực hiện dịch vụ, lao vụ

= x
TK331,111,112,311,
TK611
TK621
TK631
TK151,152
(2)
(1)
(5)(3)
(4)
- Tỷ lệ trích BHXH: 19% lơng, trong đó:
+ 15% tính vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
+ 5% trừ vào lơng của ngời lao động
- Tỷ lệ trích BHYT: 3% lơng, trong đó:
+ 1% trừ vào lơng của ngời lao động
+ 2% tính và chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
- Tỷ lệ trích KPCĐ: 2% lơng đợc tính vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
TK sử dụng: Để tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp kế toán
sử dụng TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp.
Các nghiệp vụ kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Toàn bộ quá trình hạch toán chi phí nhân công trực tiếp đợc khái quát
qua sơ đồ 1.3 sau đây:
Ghi chú:
(1) Tiền lơng và phụ cấp lơng phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất
(2) Trích trớc tiền lơng nghỉ phép của công nhân sản xuất
(3) Các khoản trích theo tỷ lệ với tiền lơng của công nhân trực tiếp sản xuất
(4) Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp sản xuất cho đối tợng tính giá
thành
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp
1.2.3.2.3. Hạch toán chi phí sản xuất chung

Toàn bộ quy trình hạch toán chi phí sản xuất chung đợc thể hiện qua sơ
đồ 1.4 sau đây:
Ghi chú:
(1) Chi phí nhân công
(2) Chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ
(3) Các khoản phân bổ hoặc trích trớc
(4) Chi phí khấu hao TSCĐ
(5) Chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác bằng tiền
(6) Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
(7) Phân bổ (kết chuyển) chi phí sản xuất chung
23
Mức phân bổ
chi phí sản xuất
chung cho từng
đối tượng
=
Chi phí sản xuất chung thực tế
phát sinh trong tháng
Tổng số đơn vị của các đối tư
ợng được phân bổ tính theo tiêu
thức được lựa chọn
Số đơn vị
của từng
đối tượng
tính theo
tiêu thức
được lựa
chọn
x
Sơ đồ 1.4: sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất chung

(2) Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp cho đối tợng tính giá thành
(3) Kết chuyển (phân bổ) chi phí sản xuất chung cho đối tợng tính giá thành
(4) Các khoản làm giảm chi phí tính giá thành sản phẩm
(5) Sản phẩm hoàn thành bán trực tiếp hoặc gửi bán.
(6) Giá thành thực tế sản phẩm hoàn thành nhập kho
(7) Xuất kho tiêu thụ hoặc gửi bán.
Cũng tơng tự nh phơng pháp kê khai thờng xuyên, ở phơng pháp kiểm kê
định kỳ chi phí sản xuất trong kỳ cũng đợc tập hợp trên các TK:
TK621 - CPNVLTT
25
TK 621
TK 154
TK 152,138
TK 632,157
TK 155
TK 627
TK 622
Dđk:
(1)
(2)
(3)
Dck:
(4)
(5)
(6)
(7)

Trích đoạn Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục các Hình thức sổ kế toán áp dụng trong hạch toán chi phí sản xuất Quá trình hình thành và phát triển của xí nghiệp Tổ chức sản xuất.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status