Một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và dụng học - Pdf 13

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ VĂN LĂNG
MỘT SỐ TÁC PHẦM CỦA NAM CAO
DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA
PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN
VÀ DỤNG HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2013
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ VĂN LĂNG
Ý KIẾN NGƯỜI HƯỚNG DẪN
Kính đề nghị cho phép nghiên cứu sinh bảo vệ luận án
trước hội đồng.
Tôi đồng ý cho nghiên cứu sinh bảo vệ.
Người hướng dẫn
Ngày tháng năm 2013
GSTS: Diệp Quang Ban
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
Tác giả luận án
VŨ VĂN LĂNG
MỤC LỤC
Số mục Đề mục Trang

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp Phân tích hội thoại
Phương pháp của Phân tích diễn ngôn
Giả thuyết nghiên cứu
Điểm mới của luận án
Bố cục của luận án
1
4
7
7
8
9
10
10
11
12
15
17
17
18
18
20
20
- i -
Chương 1
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ DỤNG HỌC 21
1.1. Phương pháp nghiên cứu của PTDN 21
1.1.1. Vài nét về quá trình hình thành PTDN 21

67
2.5.2. Về nhóm nhân vật thuộc giai đoạn ông Kiến làm bá hộ 69
2.5.3. Đối chiếu tổng quát đặc trưng của từng đôi nhân vật 71
2.6. Phân tích lập luận trong truyện Chí Phèo 75
2.6.1. Lập luận trong các cuộc đối nhau của Chí Phèo bá
Kiến
75
2.6.2. Lập luận của bà đội Tảo 80
2.7. Phân tích cách dùng ngôn ngữ của Nam Cao trong Chí
Phèo
82
2.7.1. Phân tích về việc có dùng/ không dùng quan hệ từ 82
2.7.2. Phân tích về việc sắp xếp trật tự từ ngữ trong chuỗi
liệt kê
84
2.7.3. Phân tích về cách viết câu 85
2.7.4. Nhận xét về những cách dùng ngôn ngữ trên đây 86
2.8. Một số dấu hiệu kí hiệu học xã hội trong truyện Chí
Phèo
87
2.8.1. Tệ “mua quan bán chức” 88
2.8.2. Tệ “hối lộ” 88
2.8.3. Tệ “vu oan giá hoạ” 88
2.8.4. Tệ “đa thê” 89
2.8.5. Tệ “ghen tuông” 89
2.8.6. Tệ tảo hôn 89
2.8.7. Tục “quyền huynh thế phụ” 90
2.8.8. Một số dấu hiệu kí hiệu học liên quan cách nhìn của
tác giả
90

trong Sống mòn 132
3.7. Một số dấu hiệu kí hiệu học xã hội trong Sống mòn 141
3.7.1. Tệ “mua quan bán chức” 141
3.7.2. Tệ “đa thê” 141
3.7.3. Tệ “ghen tuông” 142
3.7.4. Tệ “mê tín dị đoan” 142
3.7.5. Tục “vợ không giá thú” 143
3.7.6. Cho con đi học là làm một việc buôn bán 143
- iv -
3.7.7. Một số dấu hiệu liên quan cách nhìn của tác giả 143
Tiểu kết Chương 3 144
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NGHIÊN CỨU SINH
151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
TỪ VIẾT TẮT
DH: Dụng học
PTDN: Phân tích diễn ngôn
PTDNPB: Phân tích diễn ngôn phê bình
- v -
DANH MỤC BẢNG BIỂU
HÌNH 2.1: Sơ đồ mạng lưới và quan hệ của các nhân vật trong
Chí Phèo, tr. 64.
BẢNG 2.1: Sơ đồ trực quan về các bậc quan hệ và các nhân vật
hữu quan, tr. 66-67.
BẢNG 3.1. Đối chiếu các khoảng thời gian trong cuộc đời của
Thứ, tr. 102-103.
BẢNG 3.2. Tổng số thời gian của cuộc đời Thứ trong truyện, tr.
105.
BẢNG 3.3. Các lớp nhân vật trong Sống mòn, tr. 109-110.
- vi -

Mục tiêu mà các kết quả mới của ngôn ngữ học hướng đến kể từ sau
cấu trúc luận và kí hiệu học, tức là vài ba thập kỉ cuối thế kỉ XX đến nay, có
thể thấy được một cách khái quát trong cách chuyển trọng tâm của cách nhìn
đối tượng được nghiên cứu: Từ việc tìm hiểu ‘ngôn ngữ là cái gì’ (‘what
language is’) trong nửa đầu thế kỉ XX, tức là tìm hiểu chính bản thân hệ
thống ngôn ngữ, điều mà thế kỉ XIX chưa làm được, chuyển sang giải thích
‘ngôn ngữ là để làm gì’ (‘why language is’), nhằm tìm biết ý định của người
dùng ngôn ngữ và bằng cách dùng ngôn ngữ, để đạt được ý định đó.
1.2. Sự chuyển hướng trong nghiên cứu văn học
Trước hết, tại Việt Nam, có thể nêu một nhận xét khái quát rằng việc
nghiên cứu các tác phẩm văn chương từ giác độ phê bình văn học, từ nửa đầu
thế kỉ XX trở về trước nhìn chung, thường chỉ được quan tâm theo kiểu đóng
kín, với cách nhìn tác phẩm văn học như là một sản phẩm tự trọn vẹn (total)
trong bản thân nó. Thế nhưng có một tình hình ngược lại, các phương pháp
nghiên cứu văn học nói chung trên bình diện thế giới, trong đó có phê bình
văn học, đã từng chấp nhận các ảnh hưởng tích cực từ các kết quả nghiên cứu
của ngôn ngữ học, rõ nhất là các kết quả của cấu trúc luận ngôn ngữ học và
kí hiệu học trong giai đoạn từ những năm 60 thế kỉ trước cho đến nay (trong
văn học). Và gần đây người ta đã nói đến sự nối kết giữa ngôn ngữ học và
văn học thông qua Phê bình ngôn ngữ học (đặt trong quan hệ với tên gọi
quen thuộc Phê bình văn học vốn có từ lâu) [10, tr. 1-10].
Cách ngôn ngữ học tìm hiểu ngôn ngữ theo hướng chuyển sang giải
thích ‘ngôn ngữ là để làm gì’ (như nói trên), với sự quan tâm đến “ý định”
và “cách sử dụng ngôn ngữ như thế nào” để đạt được ý định đó của người
dùng ngôn ngữ có một hệ quả quan trọng đối với việc nghiên cứu diễn ngôn,
kể cả diễn ngôn nghệ thuật, nó gợi ra một sự chuyển biến theo hướng nghiên
cứu không phải chủ yếu là tìm hiểu ‘đúng là diễn ngôn có ý nghĩa gì’ (‘just
in what discourse means’), mà tìm hiểu xem ‘diễn ngôn có ý nghĩa đó bằng
cách nào’ (hay ‘có ý nghĩa như thế nào’— ‘how discourse means’).
- 2 -

loại: nghiên cứu lí thuyết và nghiên cứu ứng dụng.
2.1. Các công trình nghiên cứu lí thuyết có nguồn gốc từ nước ngoài
Về PTDN và DH, các công trình nghiên cứu lí thuyết ở nước ngoài đã
khá nhiều, không dễ kiểm điểm lại được. Mặt khác các công trinh có tính chất
cốt lõi của hai lí thuyết này cũng đã được du nhập vào Việt Nam từ những
thập niên cuối thế kỉ XX dưới hình thức giới thiệu phần lí thuyết bằng tiếng
Việt và dịch sang tiếng Việt. Như vậy, đề cho gọn (có phần do sự khống chế
về số trang dành cho một luận án), chúng tôi xin điểm diện một số công trình
lí thuyết tiêu biểu của hai hướng nghiên cứu này đã được giới thiệu bằng
tiếng Việt tại Việt Nam.
2.1.1. Công trình nghiên cứu lí thuyết DH bằng tiếng Việt ở Việt Nam
Các công trình giới thiệu về lí thuyết DH tại Việt Nam có thể dễ tiếp
cận, đã được chúng tôi đưa vào danh sách TÀI LIỆU THAM KHẢO cuối
sách. Để khỏi lặp lại, ở đây chúng tôi xin dẫn các tài liệu chính gồm có các số
đặt trong ngoặc vuông sau đây của TÀI LIỆU THAM KHẢO (không dẫn tên
tài liệu đầy đủ):
a. Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán (1993), số [14]; Đỗ Hữu Châu
(2000) số [15] và (2001) số [16].
b. Nguyễn Đức Dân (1996), số [19] và (1998), số [20].
c. Hoàng Phê (1989 và in lại 2003), số [62].
d. Yule G. Dụng học (1996), dịch Việt và in 2002, số [89]
2.1.2. Công trình nghiên cứu phương pháp PTDN bằng tiếng Việt
Các công trình bàn về PTDN tại Việt Nam có thể dễ tiếp cận, gồm:
a. Diệp Quang Ban, (2002), số [5], (2009, in lại 2012), số [9].
b. Brown G. – Yule G. Phân tích diễn ngôn (Dịch Việt của Trần Thuần
2002), số [13].
c. Nguyễn Hoà, (2003), số [35], và (2006) số [36].
- 4 -
d. Nunan D., Dẫn nhập Phân tích diễn ngôn (Dịch Việt của Hồ Mỹ
Huyền và Trúc Thanh, Diệp Quang Ban hiệu đính, 1997, số [61].

công trình nghiên cứu đối chiếu tiếng Việt – ngoại ngữ.
- Về kiểu câu phủ định và cách sử dụng, chúng cũng xuất hiện khá
nhiều trong lĩnh vực đối chiếu Việt – ngoại ngữ.
- Về hành động nói trong một số lĩnh vực thuộc đời sống xã hội, như
mua bán ở chợ, lời khen, lời chê thu hút chú ý của nhiều công trình nghiên
cứu trong nhiều năm gần đây.
- Về hành động nói thuộc phạm trù liên nhân, như chào, cảm ơn, xin
lỗi, chủ yếu được nghiên cứu theo cách đối chiếu tiếng Việt và ngoại ngữ.
2.2.2. Về công trình nghiên cứu ứng dụng PTDN ở Việt Nam
Về PTDN, số lượng công trình nghiên cứu bậc tiến sĩ và thạc sĩ chưa
nhiều bằng về DH, nhưng trên thực tế cũng đã đến mức khó kiểm soát được.
Để dễ hình dung về tình hình nghiên cứu PTDN nói chung, trước hết có thể
liệt kê một số nội dung thường được đề cập liên quan đến PTDN như sau:
- Những vấn đề về liên kết và mạch lạc trong văn bản.
- Những vấn đề về quan hệ thời gian, quan hệ nguyên nhân trong tác
phẩm văn chương.
- Những vấn đề về lập luận trong các diễn ngôn nghị luận và phần nào
trong tác phẩm văn chương.
- Những vấn đề trong ngôn ngữ “thể chế”, cụ thể là trong một số kiểu
văn bản hành chính-công vụ, thương mại
- Những vấn đề về quan điểm giới tính trong sử dụng ngôn ngữ.
- Những vấn đề liên quan đến sự phân biệt ngôn ngữ nói/ ngôn ngữ viết.
Số luận án tiến sĩ trong nước được thực hiện theo hướng của PTDN mà
chúng tôi tiếp cận được, gồm có:
(1) Phan Thị Ai 2011, Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài
làm văn của học sinh phổ thông.
- 6 -
(2) Trần Thị Vân Anh 2008, Mạch lạc trong Truyện Kiều của Nguyễn
Du.
(3) Trần Xuân Điệp 2002, Sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ qua cứ

trong DH không thể tránh các vấn đề thuộc về PTDN và ngược lại.
3.1.1. Một số vấn đề thuộc cơ sở lí thuyết của Dụng học
Dụng học ra đời trước PTDN, và PTDN cũng sử dụng kiến thức của
DH, vì vậy nội dung của DH được trình bày trước. DH có nguồn gốc lí thuyết
trong học thuyết về hành động nói (speech act) của J. I. Austin, nhà triết học
phân tích tính người Anh và cũng được chia sẻ ở Mĩ. Trong lí thuyết về DH,
phần liên quan đến cách tổ chức hội thoại và đơn vị hội thoại còn có một
nhánh hình thành sau ở Thuỵ Sĩ-Pháp (x. trong [14] và [16]). Nét riêng chủ
yếu của nhánh Thuỵ Sĩ-Pháp là dùng thuật ngữ “tham thoại” (intervention,
vốn có nghĩa là “tham luận”), thay cho “lượt lời” (turn) hay “bước thoại”
(move) của giới nghiên cứu Anh-Mĩ. Thuật ngữ tham thoại lấy mặt nghĩa làm
trọng, trên cơ sở đó một tham thoại có thể có độ dài trùng với một lượt lời,
mà cũng có thể ngắn hơn hoặc dài hơn một lượt lời. Lượt lời lấy sự chuyển
giao lần nói giữa người nói 1 (SP1) với người nói 2 (SP2) làm cơ sở (x. trong
[9]), cho nên có tính công nghệ cao hơn và tiện dụng hơn thuật ngữ tham
thoại. Vì vậy, thuật ngữ lượt lời được chọn dùng trong luận án này.
Lí thuyết DH bao gồm nhiều vấn đề, trong đó có những vấn đề liên
quan đến cuộc thoại như:
- Vấn đề hành động nói (Speech Act, cũng dịch “hành vi ngôn ngữ”).
- Vấn đề sự cộng tác của những người tham gia cuộc thoại.
- Vấn đề về các kiểu ý nghĩa trong lời nói chứa hành động nói, như tiền
giả định, hàm ý hội thoại.
- Vấn đề về phép lịch sự và những vấn đề khác liên quan đến văn hoá.
Các nội dung này cũng được dùng như một bộ phận trong PTDN.
3.1.2. Một số vấn đề thuộc cơ sở lí thuyết của Phân tích diễn ngôn
- 8 -
PTDN ra đời lúc đầu như là một phần tiếp theo của ngôn ngữ học cấu
trúc, và cái tên PTDN do Z. Harris – nhà cấu trúc luận Mĩ – đưa ra [9, 149].
Ban đầu người ta cố gắng sử dụng bộ thuật ngữ nghiên cứu câu của cấu trúc
luận vào nghiên cứu diễn ngôn (đơn vị trên bậc câu), nên có tên gọi “cú pháp

3.2. Đối tượng khảo sát
Đối tượng khảo sát là truyện ngắn Chí Phèo và tiểu thuyết Sống mòn
của Nam Cao. Đây là hai tác phẩm khác nhau về thể loại. Sự khác nhau về thể
loại này là điểm được quan tâm trong việc lựa chọn, vì chúng có thể đòi hòi
những cách tiếp cận có phần khác nhau và các kết quả có thể không hoàn toàn
giống nhau.
Truyện ngắn Chí Phèo, về mặt số lượng có độ dài khiêm tốn (chỉ hơn
30 trang, tr. 69-101, trong [25]), về mặt nội dung có kịch tính cao, thiên nhiều
về hành động, và sự việc cụ thể được diễn đạt súc tích, mối quan hệ giữa
hành động và tâm lí của nhân vật là trực tiếp và dễ nhận biết, sự việc
diễn biến tập trung trong một không gian hẹp, thời gian khá ngắn, với các
nhân vật có tính cách rõ ràng. Nhờ vậy việc phân tích thuận lợi, dễ xác nhận.
Tiểu thuyết Sống mòn có số trang đáng kể (hơn 200 trang, tr. 132-344,
trong [26]), ngoài sự việc cụ thể, các hành động còn đậm nét tâm lí và triết lí
của nhân vật, hơn nữa mối quan hệ giữa hành động và tâm lí của nhân vật
được diễn đạt gián tiếp qua nhiều lời văn, có khi cách xa nhau. Các sự việc,
các tính cách nhân vật vừa phức tạp, vừa trải dài trong không gian và thời
gian khá rộng. Cho nên trong việc phân tích cần liên kết các sự việc có khi
cách xa nhau đó mới có thể nhận ra được cách thể hiện của tác giả.
3.2.1. Về việc chọn ngôn ngữ văn chương của Nam Cao
Việc chọn ngôn ngữ văn chương làm đối tượng nghiên cứu trong
trường hợp này chỉ giản đơn là vì ngôn ngữ văn chương được coi là nơi tập
trung tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc trong từng thời kì. Mặt khác, nhà văn
Nam Cao được chọn là vì sự nghiệp văn chương của ông đã khép lại, và quan
- 10 -
trọng hơn là đã được xếp hạng cao một cách thống nhất trong dư luận chung
của văn đàn Việt Nam.
3.2.2. Về việc chọn truyện ngắn Chí Phèo và tiểu thuyết Sống mòn
Tác phẩm Chí Phèo và Sống mòn được chọn với những lí do sau đây.
a. Về thể loại

quê của vùng đất khá tiêu biểu, Sống mòn có không gian “nửa tỉnh nửa quê”.
Hai nơi này là “chỗ tồn tại” chung cho tuyệt đại đa số người bình dân Việt
Nam thời bấy giờ.
Thời gian và không gian nói trên được phản ánh một cách trung thực
trong hai tác phẩm được chọn: Chí Phèo cho thấy sinh hoạt phân cực sang
hèn của cư dân làng quê, Sống mòn là cuộc đời của tiểu trí thức với mâu
thuẫn giữa ước vọng và hiện thực ở nơi “nửa tỉnh nửa quê” thời ấy.
Về lớp xã hội thì trong Chí Phèo khác hẳn với trong Sống mòn.
- Trong truyện ngắn Chí Phèo rõ nhất là lớp chức dịch cường hào và
lớp cùng đinh (bần cùng hoá) của làng quê, lớp trước nô dịch lớp sau.
- Trong tiểu thuyết Sống mòn nổi trội là lớp tiểu tư sản trí thức là giáo
chức. Liên quan đến họ có lớp dân quê ngoại thành (nửa tỉnh nửa quê). Nhìn
chung, số phận của lớp tiểu tư sản trí thức này là bế tắc trong cái khung cảnh
xã hội được phản ánh trong tác phẩm.
3.2.3. Một số nhận định của giới nghiên cứu văn học
Từ khá lâu, giới nghiên cứu văn học đã quan tâm nhiều đến Nam Cao
và hai tác phẩm Chí Phèo, Sống mòn. Sau đây là một số ý kiến khá tiêu biểu.
a. Về Nam Cao
Nam Cao là một trong những cây bút mà tài năng đã được nhiều người
bàn đến. Các ý kiến về Nam Cao được rút ra từ các nghiên cứu khái quát về
nghệ thuật ngôn từ nói chung và những bài viết nhỏ.
- 12 -
- Nguyễn Đình Thi 1956 đã nêu hình ảnh khái quát về Nam Cao: “Nhà
văn mảnh khảnh như thư sinh ăn nói ôn tồn nhiều khi đến rụt rè, mỗi lúc lại
đỏ mặt, mà kỳ thực mang trong lòng một sự phản kháng mãnh liệt” [75, 21].
- Nguyễn Đăng Mạnh 1983 có nhận xét về Nam Cao và được Trần
Đăng Suyền dẫn lại: “Nam Cao là người hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm,
và thái độ khinh trọng đối với con người. Anh thường dễ bất bình trước tình
trạng con người bị lăng nhục chỉ vì bị đầy đoạ vào cảnh nghèo đói cùng
đường. Nhiều tác phẩm xuất sắc của anh đã trực diện đặt ra vấn đề này và anh

những nạn nhân nhưng rồi cũng trở thành kẻ mù quáng gây tội lỗi” [25, 9].
Và “Nam Cao đã vạch mặt bọn lý dịch cường hào, thi nhau hà hiếp, nhũng
nhiễu dân nghèo.” [25, 10].
Nhận xét về cách viết của Nam Cao qua nhân vật Chí Phèo, Hà Minh
Đức cho rằng tác giả đã “Lạm dụng những yếu tố ngoa dụ một cách sắc sảo
và lạnh lùng làm cho nhiều trang viết như thiếu đi sự thông cảm tiếc thương.”
[25, 14].
- Về truyện Chí Phèo, Trần Đăng Suyền viết: “Trong sáng tác của Nam
Cao, truyện ngắn Chí Phèo là tác phẩm duy nhất miêu tả trực tiếp mâu thuẫn
xung đột giai cấp gay gắt, căng thẳng, quyết liệt giữa người nông dân lao
động lương thiện với bọn địa chủ, cường hào, ác bá ở nông thôn” [67, 64].
Tác phẩm Sống mòn cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
- Nhận xét của Hà Minh Đức về lớp nhân vật chính “tiểu tư sản” trong
Sống mòn như sau: “Các nhân vật tiểu tư sản thường nặng về suy nghĩ hơn
hành động. Chất tâm lý của họ thống nhất với trạng thái tâm hồn của tác giả
nên dễ tạo nên sự nhất quán, ít có tình trạng chắp vá khiên cưỡng. Chất tâm lý
phát triển nhiều khi quy định đến cấu tạo của tác phẩm như trong Sống mòn.
Cấu tạo của Sống mòn vừa đi sát vào sườn cốt truyện vừa gắn liền với dòng
tâm lý nhân vật vận động chậm chạp trong vòng luẩn quẩn. Nam Cao rất sâu
sắc và tinh tường về tâm lý nhân vật. Trong các nhà văn hiện thực thời kỳ
- 14 -
trước cách mạng, Nam Cao là nhà văn có nhiều đóng góp về miêu tả tâm lý
và khả năng phản ánh hiện thực qua tâm trạng” [25, 43].
- Với Sống mòn, Trần Đăng Suyền đã viết: “Sự thực thì qua những tác
phẩm xuất sắc của mình (trong đó có kiệt tác Sống mòn), Nam Cao đã đem
đến những cách tân lớn lao đối với nền văn xuôi nghệ thuật Việt Nam trước
Cách mạng, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy và hoàn thiện quá trình
hiện đại hoá nền văn học dân tộc”. “Nam Cao là nhà văn đã đánh dấu ý thức
nghệ thuật của dòng văn học hiện thực phê phán (1930-1945) đi từ tự phát
đến hoàn toàn tự giác” [67, 39].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status