nghiên cứu công nghệ sản xuất vắcxin chống dị ứng từ mạt bụi nhà acarien d pteronyssinus (DP) và ứng dụng trong chẩn đoán, điều trị một số bệnh dị ứng hen phế quản, viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc nghiên cứu quy trình tác - Pdf 13

Bộ khoa học và công nghệ
Công ty Vaccin pasteur Đà lạt
Báo cáo kết quả đề tài nhánh
KC 10-10/ 06-10/04

Nghiên cứu quy trình tách chiết và điều chế dị nguyên
mạt bụi nhà Acarien D.pteronyssinus Tại Việt NAm
Chủ nhiệm đề tài nhánh: PGS.TS.Nguyễn Hoài An
TS Nguyễn Thị Ngọc Dung
Thời gian thực hiện: 01/07/2007 - 30/03/2009

7598-4
20/01/2010 Hà nội, 05 - 2009
1

T VN

Trong mấy chục năm qua, số ngời mắc bệnh dị ứng có xu hớng tăng
nhanh, ở nhiều nớc tỷ lệ mắc bệnh dị ứng ở vị trí thứ ba, sau các bệnh tim
mạch và ung th, ở một vài nớc nó còn chiếm vị trí hàng đầu, phổ biến nhất
là dị ứng do phấn hoa, bụi nhà, bụi bông và lông vũ. Theo thống kê của Tổ
chức Y tế thế giới (WHO) tại các nớc công nghiệp phát triển, chỉ riêng các
thể hen phế quản dị ứng có tới 4-5% viêm mũi dị ứng 15-20% và tổng tần số
các trờng hợp dị ứng đạt tới 10-15% dân số thế giới.
Ngày nay không còn ai nghi ngờ rằng nhiều bệnh dị ứng ( nh Hen phế
quản atopy, Viêm mũi dị ứng, mày đay, eczema atopy, và nhiều bệnh khác) do
tác động của bụi nhà là một trong những nguyên nhân thông thờng nhất
(Helk et al, 1986; Berardino et al,1987; Plátt-Mills et al, 1987; Bousquet et al,
1988; Saint-Remy et al, 1988).
Để chẩn đoán một bệnh dị ứng, trớc hết cần phải xác định nguyên nhân
gây dị ứng (một hoặc nhiều DN đặc hiệu). Vì vậy tiến hành test mẫn cảm
(sensitivity testing) với các DN điều chế đợc vẫn là phơng pháp chủ yếu để
tìm nguyên nhân của bệnh. Mặt khác, phơng pháp điều trị bằng DN còn gọi
là phơng pháp giảm mẫn cảm đặc hiệu hoặc liệu pháp miễn dịch là
phơng pháp điều trị hiệu quả, nhất là khi ngời bệnh phải thờng xuyên tiếp
xúc với DN. Phơng pháp này chính là đa DN vào cơ thể đã mẫn cảm với nó
nhằm làm cho cơ thể thay đổi cách đáp ứng miễn dịch : thay đổi cân bằng
giữa các quần thể lympho bào T : Th

Chúng tôi tiến hành đề tài :
Nghiờn cu quy trỡnh tỏch chit v iu ch D nguyờn mt bi nh
Acarien D.pteronyssinus ti Vit nam
.
Với mục tiêu:
- So sánh các phơng pháp điều chế dị nguyên tại Việt nam.
- Xây dựng một quy trình điều chế dị nguyên có hiệu quả cao.
3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TÌNH HÌNH CÁC BỆNH DỊ ỨNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC DỊ
NGUYÊN
Ngày nay, dị ứng học đã trở thành một lĩnh vực quan trọng của y học
không chỉ bởi người ta ngày càng tìm ra nhiều bệnh có cơ chế dị ứng: hen phế
quản, viêm mũi dị ứng, mày đay, phù Quinke, dị ứng thuốc, xơ cứng bì mà
còn do tỷ lệ người mắc bệnh dị ứng ngày càng gia tăng [1], [8].
Các thống kê dịch tễ
học gần đây ở trong và ngoài nước cho thấy, các
bệnh dị ứng đường hô hấp trên - chủ yếu là VMDƯ và hen phế quản (HPQ)
chiếm tỷ lệ từ 10-15% dân số, tương ứng với 2,5% - 3,5% tổng số người bệnh
đến khám bệnh ở mọi chuyên khoa và chiếm một phần đáng kể trong kinh phí
dành cho y tế .
- Thụy Điển: 25,87% VMDƯ; 8,1% HPQ.
- Na Uy: 24,95% VMDƯ; 8,51% HPQ.
- Việt nam : 15 - 20% VMDƯ; 5 - 7 % HPQ.
- Một số
nước Đông Nam Á: VMDƯ ở Thái Lan: 38,63%; Singapore:
39,58%; Indonexia: 41,45% [9], [11], [14], [28], [32], [41], [44].

IgE đặc hiệu với chiết xuất d
ị nguyên.
5. Dị nguyên chiếm một tỷ lệ đáng kể protein có thể chiết xuất được
trong chất liệu nguồn.
6. Có thể sử dụng dị nguyên làm một dấu hiệu đánh giá tiếp xúc môi
trường.
7. Có thể đo được cả đáp ứng kháng thể và đáp ứng tế bào với dị nguyên
trong một tỷ lệ cao bệnh nhân dị ứng.
8. Dị nguyên đã chứng tỏ hi
ệu quả như một phần của một vacxin dị ứng.
Tài liệu trên thế giới thường xuyên được bổ sung bởi các sách hướng dẫn
xem xét toàn diện các vấn đề về dị ứng học. Người ta đang thảo luận các điều
kiện hình thành các loại tăng độ mẫn cảm khác nhau, các cách chẩn đoán,
5

điều trị và phòng các trạng thái dị ứng. Việc giải quyết những nhiệm vụ này
phụ thuộc đáng kể vào danh mục và chất lượng của các DN. Số lượng các tập
chuyên khảo nói về DN như một loại sinh phẩm không nhiều. Tuy nhiên,
những tiến bộ của dị ứng học ứng dụng, hóa miễn dịch và công nghệ sinh học
thường xuyên mở ra những triển vọ
ng mới đối với việc tạo nên các chế phẩm
DN. Việc nghiên cứu sâu các thành phần DN phối hợp với những kết quả
nghiên cứu lâm sàng cho phép tách các thành phần ít hoạt tính và để lại các
phân đoạn chính của DN [23], [25], [32], [41].
Thực tiễn y học đã sử dụng rộng rãi các chế phẩm DN được chiết xuất
bởi nước - muối để chẩn đoán xác định tác nhân gây bệnh dị ứng và đặc trị

bằng MDĐH. Việc mở rộng danh mục các DN đã dẫn tới sự cần thiết phải
tiến hành một số lượng lớn các mẫu thử nghiệm chẩn đoán trên da, kết hợp
với việc tăng số lượng bệnh nhân đã làm phức tạp công việc của ngành dị ứng


1.2.1. DỊ NGUYÊN MẠT BỤI NHÀ D.PTERONYSSINUS
Mạt bụi nhà (tiếng Anh - house dust mites, tiếng Pháp - les acariens)
được nhà da liễu Scheremetevsky (Nga) phát hiện năm 1876, Bogdanov (Nga
1894) mô tả dưới tên Dermatophagoides scheremetewskji. Sau đó, các nhà
nghiên cứu ở châu Âu thấy Dermatophagoides pteronyssinus mà đôi khi gọi
chúng là những con mạt nhỏ (Microacariens) ở trên giường, mặc dù chúng
sống cả ở trong vải bọc gỗ mềm, tấm thảm và các đồ đạc có vải bọc khác [9],
[22], [25], [43], [47], [68].
Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Kern (1921), Cooke, Storm van Leeuven (1922) phát hiện phản ứng da
dương tính với dịch chiế
t bụi nhà có mạt trong đó ở các bệnh nhân dị ứng.
Năm 1925, Varekamp đã thu nhận được chế phẩm từ dịch chiết mạt và
thử nghiệm trong lâm sàng dị ứng. Tác giả đã chỉ ra vai trò của MBN trong
việc gây bệnh dị ứng nhưng chưa khẳng định được tính KN chủ yếu của
chúng trong thành phần của bụi nhà. Tuy nhiên, mối quan tâm rộng rãi tới
nguồn DN gây cảm ứng bệnh chỉ
được thể hiện trong nửa sau của thế kỷ XX.
Năm 1964, Voorhorst và cộng sự nhận thấy rằng mạt Dermatophagoides
(Bogdanov, 1894) có mặt trong bụi nhà là nguyên nhân gây HPQ; Voorhorst
và cộng sự (1969) kết luận rằng Dermatophagoides pteronyssinus
7

(Trouessart, 1897) l ngun DN ch yu gõy bnh c a d ng do bi nh.
Cỏc tỏc gi ó chng minh s ph thuc trc tip ca tn s phn ng vi ch
phm bi nh cỏc bnh nhõn vo bóo hũa mt trong bi nh. Trong
nghiờn cu ny, ngi ta ó x lý c bit mt trong cỏc phn bi c thu
thp vựng nỳi cao Thy S vi s l
ng mt khụng ỏng k, sau ú lm cho

pteronyssinus có trong bụi nhà. Bởi vậy, ngay từ những năm 90 các nhóm
nghiên cứu trong nớc đã hớng tới việc phân lập, nuôi cấy mạt bụi nhà D.
pteronyssinus nhng cha thành công do cha nghiên cứu đợc các môi
trờng nghiên cứu cho mạt bụi nhà D. pteronyssinus tồn tại và phát triển. Đến
năm 2003, nhóm nghiên cứu của Labo Miễn dịch dị nguyên thuộc Bệnh viện
Tai Mũi Họng TW bớc đầu đã nghiên cứu thành công một số môi trờng
nuôi cấy đã điều chế dị nguyên D. pteronyssinus từ các môi trờng này và
bớc đầu thử nghiệm trong chẩn đoán và điều trị miễn dịch đặc hiệu trong
VMDƯ đã cho kết quả hết sức khả quan từ 75-85%. Trên cơ sở những kết quả
nghiên cứu ban đầu rất đáng khích lệ này, nhóm nghiên cứu chúng tôi hy vọng
rằng đợc thực hiện đề tài này nhằm xây dựng và hoàn thiện quy trình công
nghệ sản xuất vắc xin dị nguyên D. pteronyssinus để phục vụ công tác dự
phòng chẩn đoán và điều trị bệnh dị ứng: HPQ,VMDƯ, Viêm kết mạc do dị
nguyên D. pteronyssinus tại Việt Nam.
1982 : Nguyễn Năng An, Nguyễn Văn Hớng, Vũ Minh Thục v.v nghiên
cứu về bụi nhà toàn phần.
1987 : Vũ Minh Thục, Nguyễn Năng An, Nguyễn Chí Phi : Nghiên cứu
về thành phần hóa sinh miễn dịch của dị nguyên bụi nhà.
1990 : Vũ Minh Thục : Nghiên cứu về vai trò của mạt bụi nhà trong bệnh dị
ứng (Luận văn PTS).
1993 : Nguyễn Văn Hớng và CS nghiên cứu về : Điều chế, tiêu chuẩn
hóa và ứng dụng trong lâm sàng của dị nguyên bụi nhà toàn phần.
1996 : Nguyễn Năng An, Vũ Minh Thục, Phan Quang Đoàn, Lê Văn
Khang, nghiên cứu độ mẫn cảm của dị nguyên bụi nhà và hiệu quả điều trị của
chúng.
9

2001 : Vũ Minh Thục, Phạm Quang Chinh, Lu Tham Mu nghiên cứu
điều tra 2 loài mạt bụi nhà gây bệnh dị ứng: D.pteronyssinus và G. domesticus
ở Hà Nội và các vùng phụ cận.

xác nào gây ra dị ứng cho bạn có thể được khẳng định bằng phản ứng thử dị
ứng tiến hành trên da, hoặc bằng phản ứng huyết thanh của bạn [9], [10], [25].
Nếu bạn bị dị ứng với bụi nhà thì những triệu chứng của bạn thường
xuất hiện cả trong hoặc ngoài nhà, ở trong nhà thường tệ hơn ngoài trời, và
càng ở lâu trong nhà thì lại càng bị nặng hơ
n. Thường thì các triệu chứng dị
ứng với bụi thể hiện một cách xấu nhất vào lúc sáng, khi ngủ dậy. Ngủ trên
một cái giường bẩn hoặc một cái đệm bẩn thì có thể góp phần làm xuất hiện
các triệu chứng, cũng như nằm ngủ dưới quạt trần hay quạt quay đi quay lại
một cách giao động khiến cho bụi trong nha bay quanh quẩn trong không khí
khi bạn đi ngủ. Những triệu ch
ứng do một chất nào đó trong bụi nhà gây ra sẽ
giảm đi hoặc sẽ mất đi khi bạn đi nghỉ, và sẽ trở nên tồi tệ khi bạn hết kỳ
nghỉ trở về nhà [1, 4, 5, 15].
1.2.2.1. Mạt bụi nhà với bệnh dị ứng đường hô hấp
MBN là nguồn DN quan trọng và rất phổ biến trên thế giới. Mẫn cảm dị
ứng với MBN chiếm 10 – 20% dân số, nhưng biên độ
dao động rất lớn, từ 8 –
40%. Theo Dutau, MBN chiếm 60 – 70% nguyên nhân gây dị ứng đường hô
hấp và tỉ lệ mẫn cảm tăng lên theo tuổi: 11,4% dưới 2 tuổi; 25% từ 2 đến 6
tuổi; 59,1% trên 6 tuổi; 70% trên 16 tuổi. Loại mạt thường gặp trong các mẫu
bụi là D. pteronyssinus và D. farinae, bản chất dị nguyên của chúng là enzym
proteaza [1], [8], [9], [10], [20], [25], [28].
Mức độ mẫn cảm với MBN thường cao, do đó các dịch chiết mạt thậm
chí ở n
ồng độ thăm dò 10
-7
có thể gây phản ứng tại chỗ lẫn các phản ứng toàn
thân và phản ứng ổ có biểu hiện. Tuy nhiên, cần phải nhận thấy rằng bụi nhà
khác nhau có thể khác nhau về độ bão hòa mạt. Khi phân tích gần 300 mẫu

thấp hơn và dao động từ 14,1 đến 43,2% [1], [9], [10], [11], [20], [22], [25].
Tovey và cộng sự đã chứng minh các mẫu phân mạ
t cũng là một nguồn
DNBN quan trọng. Kanchurin và cộng sự nhận thấy về hoạt tính, phân mạt
không khác so với các chế phẩm từ cơ thể mạt. Việc sử dụng ức chế RAST
của Stewart và cộng sự đã cho thấy hoạt tính tiềm tàng của dịch chiết mạt
nguyên vẹn cao hơn 3 lần so với dịch chiết từ vỏ cuticul của chúng hoặc từ
môi trường nuôi cấy chúng [1], [32], [43], [46], [65].
12

Ở các nước khác nhau, có 14 - 100% số bệnh nhân dị ứng cho thử
nghiệm da dương tính với DN mạt Dermatophagoides sp. do đó ở các nước
trên thế giới, đang tiến hành nghiên cứu vấn đề dị ứng với MBN.
Sự mẫn cảm với DN mạt xảy ra chủ yếu bằng đường mũi. Khi giũ đồ trải
giường, quét dọn phòng, các DN mạt lọt vào đường hô hấp. Lúc này những
thành phần m
ạt khô và bị hủy hoại bay lên và được hít vào cùng với không
khí. Hoạt tính của DN mạt tỉ lệ thuận với thành phần mạt trong nó. Khi giảm
hoặc loại trừ được MBN khỏi môi trường chung quanh bệnh nhân, tính phản
ứng của phế quản giảm, mức KT đặc hiệu IgE giảm, IgG tăng, tình trạng của
bệnh nhân được cải thiện [1], [80], [82].
Tính đặc hiệu DN của các loại bụi khác nhau là một vấn đề rấ
t quan
trọng. Ado cho rằng bụi nhà có tính chất DN đặc hiệu.
Có tác giả cho rằng có thể sử dụng các DNBN nguồn gốc khác nhau để
chẩn đoán dị ứng với bụi nhà. Tác giả đã dùng DN từ bụi phân lập ở nước họ
(Mỹ) để nghiên cứu dị ứng đối với bụi ở bệnh nhân của nước khác (Đức). Kết
quả cho thấy 69,1% số trường hợp có kế
t quả thử nghiệm da dương tính với
các DN này. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có ý kiến thống nhất về khả năng

chúng lơ lửng trong không khí khoảng 20 – 30 phút. Đối với DN có kích cỡ
lớn sẽ bị giữ lại ở niêm mạc mũi, còn DN có kích cỡ nhỏ đi thẳng vào phổi.
Tại các nơi đó, DN sẽ gây nên bệnh cảnh lâm sàng.
Phần lớn các báo cáo đều cho thấy mức độ DNBN gây mẫn cảm là 2
µg/g bụi mịn (tương đương số mạt hơn 100 con/g) và mức độ gây xuất hiện
triệu chứng bệnh lý là 10 µg/g bụi mịn (tương đương hơn 500 con/g).
Theo Platts-Mills và cộng sự, liều 2 µg/g bụi mịn của Der p I gây mẫn
cảm, còn Dreborg chỉ ra liều 10 µg/g b
ụi mịn gây cơn hen cấp ở người mẫn
cảm. Nghiên cứu của Sporile và cộng sự ở Anh cho thấy nồng độ DN mạt
trong bụi nhà của những đứa trẻ bị hen cao hơn nồng độ DN ở nhà những đứa
trẻ khỏe mạnh. Trẻ sơ sinh nếu sớm tiếp xúc với môi trường có nồng độ hơn
10 µg Der p I /g bụi sẽ xuất hiện bệ
nh hen trong 10 năm đầu.
14

Mức độ biểu hiện bệnh cảnh lâm sàng của cá nhân có cơ địa mẫn cảm
(atopy) tiếp xúc với môi trường có DN phụ thuộc vào các yếu tố:
+ Độ mẫn cảm của từng cá nhân. Liều lượng chung gây mẫn cảm và
biểu hiện dị ứng là 2 - 10 µg/g, một vài nghiên cứu cho thấy với liều DN mạt
từ 1 – 2 µg/g đã gây mẫn cảm ở một số trẻ
nhỏ. Ở môi trường có nồng độ DN
thấp chỉ có cơ địa rất mẫn cảm mới thể hiện, môi trường có mức độ DN cao
thì ngay cả người có cơ địa mẫn cảm yếu có thể bộc lộ triệu chứng của bệnh.
+ Thời gian tiếp xúc. Với liều DN thấp nhưng nếu tiếp xúc hàng ngày,
thường xuyên cũng làm xuất hiện triệu chứng ở
người mẫn cảm. Nghiên cứu
của Ihre và cộng sự cho thấy nếu hít hàng ngày trong 1 tuần với liều DN rất
thấp (dưới 1 mg/ngày hoặc dưới 1 pg/phút) sẽ tăng phản ứng phế quản.
Mức độ DN mạt trong không khí thay đổi theo mùa và ảnh hưởng bởi sự

mèo [9], [11], [77], [78], [79], [80].
b. Thành phần nào của mạt bụi nhà gây ra dị ứng:
Người bị dị ứng với hạt tròn phân mạt. Một con mạt sản ra một lượng
khoả
ng 200 lần trọng lượng cơ thể nó, hạt tròn phân mạt chứa tiềm năng gây
dị ứng cao chỉ có trong thời gian ngắn ngủi của cuộc đời nó. Khi thải ra
ngoài, được không khí mang đi khi các vật dùng như thảm đệm, các đồ
đạc.v.v bị xáo lộn. Với kích thước siêu nhỏ (phải nhìn qua kính hiển vi mới
thấy) những tiểu thể trên rất dễ hít vào mũi và phổi, ở đó nó làm khởi phát
triệu ch
ứng dị ứng, mật độ quần thể bọ sống trong nhà quyết định mức độ
vấn đề mà bạn phải đương đầu với những tiểu thể phân chúng. Mặc dù xác
những con bọ chết có thể được khống khí mang đi, nhưng chúng không góp gì
đáng kể cho việc bị dị ứng với MBN [77], [78], [79], [80], [82].
c. Cơ chế bệnh lý
+ Giai đoạn mẫn cảm: DN lầ
n đầu tiên xâm nhập vào cơ thể mẫn cảm
tạo ra các kháng thể IgE đặc hiệu với DN (chưa có biểu hiện lâm sàng).
+ Giai đoạn tức thì: xảy ra trong 10 – 15 phút khi cơ thể tiếp xúc lại với
DN đã gây mẫn cảm. Các triệu chứng như hen, ngạt mũi là do kết quả gắn
kết giữa IgE và DN làm hoạt hóa tế bào mast ở niêm mạc mũi. Các chất trung
gian hóa học giải phóng ra từ các hạt trong t
ế bào như histamin, tryptaza. Các
chất trung gian mới hình thành có nguồn gốc từ màng tế bào như leucotrien,
16

prostaglandin. Các chất trung gian có nguồn gốc lipit như yếu tố hoạt hóa tiểu
cầu cũng xuất hiện. Các chất này gây giãn mạch, tăng tính thấm thành mạch
dẫn đến phù nề, ngạt mũi. Các tuyến nhầy mũi tăng tiết. Các dây thần kinh
hướng tâm bị kích thích làm ngứa mũi, hắt hơi. Các chất trung gian, đặc biệt

nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu và công bố các kết quả trong việc điều chế dị
nguyên.
1.3.1. Nguyên liệu
Nguyên liệu cho chiết xuất DN mạt có thể là cơ thể mạt thuần khiết hoặc
hỗn hợp nuôi cấy. Lần đầu tiên, Chapman đã tinh chế dị nguyên từ mạt D.
pteronyssinus nuôi cấy. Lind đã tinh chế và mô tả đặc điểm của hai dị nguyên
chính từ phân mạt D. pteronyssinus và từ hỗn hợp nuôi cấy chúng. Các tác giả
khác cũng tách chiết dị nguyên từ hỗn hợp mạt nuôi cấy [29]. Theo Ipsen và
cộng sự, lợi thế của dịch chiết hỗn hợp nuôi cấy là chứa tất cả những nguyên
liệu mà bệnh nhân dị ứng với mạt gặp phải trong môi trờng tự nhiên, trong
khi lợi thế của dịch chiết mạt thuần khiết (mạt đợc tách riêng) là tránh đợc
nhiễm các thành phần của môi trờng nuôi cấy. Dịch chiết hỗn hợp nuôi cấy
bao gồm các chất từ cơ thể mạt, trứng, ấu trùng, các hạt phân, các chất phân
hủy của mạt và cả các chất ô nhiễm của môi trờng nuôi cấy. Dịch chiết mạt
thuần khiết chỉ chứa các chất chiết xuất từ cơ thể mạt. Nồng độ tơng đối của
18

các DN nhóm 1 và 2 gắn liền với nguồn nguyên liệu. Theo Platts-Mills, dịch
chiết từ hỗn hợp nuôi cấy mạt chứa DN nhóm 1 nhiều hơn DN nhóm 2 (hơn
10 lần). Tuy nhiên, các thử nghiệm lâm sàng so sánh các dịch chiết dựa trên
hỗn hợp nuôi cấy và mạt thuần khiết cho thấy cả 2 kiểu dịch chiết có tác dụng
tơng tự trên hệ MD trong quá trình LPMD [25].
1.3.2. Tách chiết dị nguyên
Khi tách chiết dịch chiết DN phải chú ý dịch chiết không phải là một dung
dịch, trong đó có một lợng chất hoạt động nhất định hòa tan mới đánh giá
đợc những khó khăn về sau của chuẩn hóa. Quá trình này không đợc làm
biến tính protein DN, cũng không đợc làm thay đổi tỉ lệ giữa các thành phần
riêng. Sự chiết xuất cần phải thực hiện trong điều kiện (pH, lực ion) tơng tự
với trạng thái sinh lý và ngăn chặn sự thủy phân, sự phát triển của vi sinh vật.
Do đó, chiết xuất phải đợc thực hiện ở nhiệt độ thấp (cản trở sự thủy phân) và

HPO
4
.12H
2
O 14,31g
Nớc cất (đun sôi trớc khi dùng để loại bỏ CO
2
) đến 1 lít.
Thứ hai: dung dịch nớc phenol 4%. Trong nghiên cứu của Coca, chúng
ta thấy cả phơng án bổ sung glycerol vào dịch chiết chính để ổn định hoạt
tính của chế phẩm. Theo các tài liệu, các dị nguyên trong hỗn hợp với glycerin
đựng trong lọ thủy tinh tối màu giữ đợc hoạt tính đến 7 năm. Ngày nay ngời
ta ít dùng dạng hỗn hợp với glycerin.
Công nghệ hiện đại thu nhận dị nguyên theo phơng pháp Coca gồm
7 giai đoạn chính:
1. Thu nhận nguyên liệu và chuẩn bị tách chiết. Đối với các dị nguyên
khác nhau giai đoạn chuẩn bị không giống nhau. Trong trờng hợp này,
nguyên liệu (bụi nhà) thu gom những thành phần có hoạt tính (mạt), trờng
hợp khác loại bỏ dầu mỡ.
2. Chiết xuất và lọc. Tiến hành chiết xuất trong điều kiện lắc. Đối với
phấn hoa thực vật hoàn thành quá trình này trong thời hạn ngắn hơn (2 ngày
đêm). Chiết xuất bụi nhà và biểu bì động vật có thể kéo dài đến 3 - 4 ngày
đêm. Tiến hành chiết ở nhiệt độ < nhiệt độ phòng để ngăn ngừa vi khuẩn phát
triển. Khử dầu mỡ nguyên liệu cũng làm giảm mức độ nhiễm khuẩn. Nếu kỹ
thuật dự tính khử dầu mỡ dịch chiết thì cho vào đệm chiết ete dietylic 1%, nó
sẽ bị loại bỏ trong quá trình làm đông khô. Khoảng thời gian giữa chiết xuất
và lọc cần phải tối thiểu. Dịch chiết đợc lọc hoặc quay ly tâm, phải có giá trị
pH 6,9 0,3.
Trên cơ sở thực tế phổ biến, các kết quả nghiên cứu của Kauffman H và CS
(1985) thật thú vị. Sau khi đánh giá điều kiện chiết xuất mạt bụi nhà trong

Trong kết quả nghiên cứu của mình đợc công bố vào năm 1957, Scoville
đã đa ra một quy trình chung để tách chiết các loại DN. Theo tác giả, nguyên
liệu để tách chiết DN đợc làm nhỏ và loại chất béo trớc giai đoạn chiết để
nâng cao hiệu quả chiết xuất. Để loại chất béo tác giả đã sử dụng một số dung
môi hữu cơ nh: ete, toluen, xylen Tác giả đã sử dụng các dung dịch đệm có
pH 8 để làm dung môi chiết. Sau khi đợc tinh chế, điều chỉnh tới nồng độ
thích hợp, dịch chiết đợc diệt khuẩn.
Richard Shough cũng đa ra một quy trình chiết xuất DN tơng tự Scoville
nhng có cải tiến đôi chút. Trong giai đoạn loại chất béo, tác giả đã sử dụng
hai loại đệm: đệm salin và đệm Coca mà thành phần chính là hệ đệm
photphat.
21

Nh vậy, các tác giả tuy đa ra phơng pháp khác nhau để tách chiết DN
nhng tất cả các phơng pháp này đều trải qua các giai đoạn chính, đó là: loại
chất béo, chiết xuất và tinh chế.
Thời gian cần thiết để thu nhận dịch chiết thờng khoảng giữa biến tính
của chế phẩm và sản lợng mong muốn. Khi nghiên cứu ảnh hởng của thời
gian chiết xuất đến việc tách các DN, Geissler và cộng sự nhận thấy các
protein, gluxit và các chất DN tách ra ngay nhng có động học không giống
nhau. Trong thời gian 48 giờ, các DN chính đợc tách ra không ngừng. Hoạt
tính gây dị ứng chung của dịch chiết đạt điểm cao sau 4 5 giờ chiết rút [57,
58].
Theo Ipsen và cộng sự, điều quan trọng là giảm thiểu các chất phi KN có
KLPT thấp 3000 đến 5000 Da khỏi dịch chiết cuối cùng. Có thể thực hiện
nhiệm vụ này bằng thẩm tách, siêu lọc hoặc sắc ký loại bỏ theo kích thớc.
Dịch chiết cuối cùng cần đợc bảo quản ở nhiệt độ duy trì hoặc giảm thiểu h
hỏng hoạt tính DN bằng cách làm đông khô dịch chiết hoặc cất giữ ở nhiệt độ
thấp (- 20
0

23

1.3.3. SƠ ĐỒ SẢN XUẤT (SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT)
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status