Lời mở đầu
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá hiện nay ,thơng mại điện tử đã trở thành
một phơng thức kinh doanh không thể thiếu đợc .sự phát triển nh vũ bão của
công nghệ thông tin và điển hình là mạng toàn cầu Internet khiến các công ty
trên thế giới chạy đua nhau lên mạng nhằm mục đích quảng bá cho hoạt
đọng kinh doanh của mình .Hiêu quả của nó đơng nhiên là rất lớn.Trái ngợc
với không khí sôi đông áy, ở việt nam thơng mại điện tử vẫn còn là một khái
niêm vô cùng mới mẻ ngay cả với nhiền doanh nghiệp kinh doanh ,sinh viên
kinh tế của các trờng đại học và cao đẳng.Điều này cũng dễ hiểu vì trong số
78 triệu dân mới chỉ có khoảng 100.000 Internet ,đó là cha kể nhiều ngời vào
mạng với mục đích duy nhất là chat(tán gẫu qua mạng ).Hoạt động mua bán
qua mạng đóng góp rất đáng kể vào doanh thu của thơng maị điện tử .
Trớc đây, với phơng thức mua bán tay trao ttay đã bộc lộ nhữnh
mặt hạn chế nh:không đảm bảo độ chính xác,tiện lợi ,chi phí cho việc phát
hanh ,bảo quản rất cao .mặt khác việc vận chuyển khối lợng lớn tiền mặt là
rất khó khăn và độ rủi ro cao .
Do phơng thức mua bán nh trên gặp nhiều bất lợi cho nên vào năm
1950 tấm thẻ nhựa đầu tiên đựơc phát hành do một sự tình cờ là khi ông
Frank Mcnamara đang dự một buổi tiệc thì phát hiện ra mình quên mang
theo ví tiền .Chình vì vậy ,ông đã có ý nghĩ là phát hành nhng tấm thẻ nhựa
để cho phép khách hàng có thể thanh toán sau .cùng với sự bùng nổ của công
nghệ thông tin và việc áp dụng nhũng tiến bộ khoa học kỹ thuật ,tâm thẻ
nhựa ấy đã không ngừng đợc cải thiện và đáp ứng đợc các tiêu chuẩn cần
phải có của phơng thức thanh toán hiện đại ngày nay.Đó là thanh toán điện
tử.
Với phơng thức thanh toán này nó đã khắc phục đợc những mặt hạn chế của
phơng thức mua bántay trao tay đồng thời nó còn đáp ứng đợc các yêu cầu
của nền kinh tế tri thức.
Nội dung
Chơng I : Một số lí luận chung về thanh toán
hợp với Sài Gòn Tourít để phục vụ chiến dịch:Việt nam điểm hẹn thiên
niên kỷ mới. Trong tháng 12-2000, ngân hàng ACB đã phát hành đợc 500
thẻ-Thẻ của ACB với định mức tối thiểu 2000000 đồng nhằm vào các khách
hàng có thu nhập ổn định và có tài khoản tiền gửi, tài khoản vãng lai đã đợc
mở tại ACB. Ngân hàng sẽ cung ứng dịch vụ tín dụng đến các khách hàng là
đại lí du lịch, khách sạn, nhà hàng, vận tải hàng không,của hàng,cửa hiệu,
siêu thị câu lạc bộ v.v...Khách hàng dùng thẻ phải thanh toán trong hạn 15
ngày với lãi suất 0,85%/tháng.Ngời sử dụng thẻ phải trả phí mỗi năm 100000
đồng .Để khuyến khích ngời sử dụng thẻ đợc hởng mức giảm giá từ các dịch
vụ của Sai Gòn Tourist theo tỉ lệ=20% giá thuê phòng khách sạn;10% giá
tiền ăn ,uống tại khách sạn,nhà hàng;5% du lịch Tours nội địa và 3% du
lịchtours ra nớc ngoài.Ngoài ra, ngời sử dụng thẻ đợc rút tiền mặt từng lần
với dịch vụ phí 2%.Kế hoạch mở rộng thẻ nói trên của ngân hàng ACB là bớc
tiến tích cực thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại Viêt nam phù hợp
với chủ trơng của ngân hàng Nhà nớc Việt nam.Vietcombank trong năm qua
cũng đã triển khai nhiều dịch vụ về thanh toán thẻ tín dụng kể cả Siminar, hội
thảo ,huấn luện đào tạo cán bộ và đổi mới trang thiết bị kỹ thuật để đáp ứng
yêu cầu hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả thanh toán thẻ tín dụng.Trong thục
tể, một số khách hàng còn ngần ngại sử dụng thẻ tín dụng và cho rằng chi phí
thanh toán thẻ còn cao, thời gian thanh toán cha thạt nhanh chóng.Đó là
những tồn tại thực tế nhng phơng thức thanh toán nào cũng có giá thàng của
nó.Vấn đề là phải làm sao có giá thành phù hợp và đợc xã hội chấp nhận.Vừa
qua các ngân hàng thơng mại kể cả Viêtcombank và ACB đã có nhiều cố
gắng trong việc hạ thấp chi phí, thậm chí có ngân hàng đã phải chịu lổi trong
đầu t trang thiết bị, kỹ thuật mới về thanh toán thẻ , nhng vẫn cha tỏ ra hấp
dẫn đối với khách hàng sử dụng thẻ tín dụng.Có lẽ,đây là vấn đề các ngân
hàng và khách hàng phải cố gắng, nỗ lực cao hơn nữa để từng bớc mở rộng
thanh toán thẻ tín dụng trên toàn cõi đất nớc ta.
Thẻ thanh toán là gì? Một cách đơn giản nhất ,thẻ thanh toán là một
loại giấy tờ có giá đặc biệt đợc làm bằng chất dẻo tổng hợp đợc nhà phát
ợc các nhà phát hành( bao gồm các công ty, các tập đoàn tài chính mạnh, các
ngân hàng trên thế giới) hoàn thiện, ngày nay, thẻ thanh toán đã đạt tới khả
năng tiện lợi và an toàn cao.Nhiều loại thể đã đợc phát hành và sử dụng hầu
nh trên toàn cầu vì những u điểm nổi bật của nó.Trớc hết về mặt xã hội và
nhà nớc , thanh toán bằng thẻ giúp loại bỏ một khối lợng tiền mặt rất lớn lẽ ra
phải lu chuyển trực tiếp trong lu thông để thanh toán các khoản mua hàng ,trả
tiền dịch vụ trong cơ chế thị trờng ngày càng sôi động ,phát triển ở tất cả các
nớc.Đói với ngời sử dụng thẻ, những lợi ích từ việc sử dụng thẻ thanh toán
nổi rõ hơn khi sử dụng tiền mặt hay các phơng thức thanh toán không dùng
tiền mặt khác nh vừ tiện lợi( gọn nhẹ, nhanh chóng), an toàn, tiết kiệm, vừ
văn minh ,hiện đại nhng vẫn không bị phân biệt giá so với khi trả bằng tiền
mặt- pháp luật đã quy định cụ thể nh vậy.Còn trong việc vận chuyển ,mang
tiền đi, không cách nào tiện bằng cách gửi tiền vào một nơi( ví dụ ở Hà nội)
rút tiền mặt ở nhiều nơi khác( ví dụ TP.Hồ Chí Minh...) thông qua hệ thống
rút tiền tự động ,vừa an toàn, vừa đơn giản, chi phí lại thấp hơn nhiều lần so
với việc phải mang theo tiền mật.Đối với các cơ sở bán hàng, cung ứng dịch
vụ chấp nhận thẻ sẽ giúp tăng nhanh doanh số hơn, làm cho nơi bán hàng trở
nên văn minh ,hiện đại hơn, thu hút khách hàng nhiều hơn.Còn đối với ngân
hàng ( ngân hàng phát hành và ngân hàng thanh toán) cững có những lợi ích
lớn nh: làm phong phú các hình thức thanh toán tăng hiệu quả nghiệp vụ
thanh toán, mở rộng đối tợng thanh toán, tăng doanh số thanh toán và tăng lợi
nhuận. Hiện nay thị trờng Việt nam chỉ mới có tỉ lệ rất nhỏ sử dụng thẻ thanh
toán.Nếu ngân hàng có thể phổ biến đợc đến khoảng 10% dân số cả nớc thì
doanh số sử dụng thẻ trong nuức sẻ lên tới con số hàng nghìn tỉ đồng mỗi
năm, gấp hàng trăm lần con số sử dụng thẻ hiện nay.Nếu đợc nh vậy ,một
khối lợng lớn tiền mặt lẽ ra phải đợc in ấn, lu chuyển, bảo quản, kiểm đếm..
sẽ đợc giảm bớt đáng kể, góp phần tiết kiệm một khối lợng tiền mặt khổng lồ
cho xã hội bởi việc tiét giảm các chi phí phát sinh khi sử dụng tiền mặt. Đó
cững là một mục tiêu của chính sách tiền tệ của các nớc khi lựa chọn loại
công cụ để đạt các mục tiêu vĩ mô.
nghệ thẻ tự động vừa đạt đợc tính hiệu quả về kinh tế, thẩm mĩ và an toàn
đồng thời vẫn đảm bảo đợc tính hình thức đẹp, độ bền cao.Thẻ cần đựoc sử
dụng ít nhất từ 5-10 năm chống đợc các tác động phá huỷ ( cọ sát, bẻ gập,
ngâm nớc...) trong quá trình sử dụng .Xét về góc độ kỹ thuật phải đảm bảo
khả năng chống làm giả. Thẻ phải có chứa những đặc tính bảo mật nh: in ảnh
bóng mờ để chông photocopy; hình in bằng kỹ thuật vi in; mhững dấu hiệu
bảo mật của hãng sản xuất thẻ( đã đợc in sẵn trên vật liệu thể rắn) ; các hình
hoa văn tinh sảo; các dữ liệu in bằng mực nhạy cảm với tia cực tím.Đặc biệt,
phải triệt để thực hiện nguyên tắc, mỗi đối tợng chỉ đợc cấp một thẻ ( nếu
mất mới đợc cấp lại). Để giải quyết triệt để yêu cầu này nhất thiết phải ứng
dụng các công nhgệ nhận biết dữ liệu sinh học, trong đó , nhận biết dấu vân
tay tự động là công nhgệ đợc quan tâm nhiều nhất. Công nghệ ứng dụng thẻ
không chỉ đơn thuần là việc in ra thẻ. Nó đòi hỏi phải ứng dụng nhiều công
nghệ khác nhau, phải xây dựng một hạ tầng thông tin hoàn chỉnh từ máy in
thẻ, máy đọc thẻ tại các địa điểm ứng dụng và hệ thống mạng truyền thông
kết nối các điểm ứng dụng. Công nghệ thẻ tự động thực chất là một tổ hợp
nhiều công nghệ hiện đại trong đó CNTT chiếm vai trò chủ chốt :
-Công nghệ thu dữ liệu tự động: cần dùng các thiết bị hiện đại nh
máy ảnh số để chụp ảnh và đa trực tiếp vào máy tính , máy ảnh chụp phim
tức thời để thu nhận dữ liệu ở các vùng xa xôi hẻo lánh, các máy quét ảnh
chất lợng cao để quét đợc ảnh vân tay từ các bản hoặc các chữ ký , các thiết
bị quét vân tay trực tiếp hoặc lấy mẫu chữ ký trực tiếp..
-Công nghệ in thẻ hiện đại đáp ứng đợc khả năng in các đặc tính bảo
mật đa dạng trên thẻ; khả năng sử dụng nhiều loại vật liệu thẻ( thẻ giấy , thẻ
nhựa..); khả năng tích hợp nhiều thao tác trong một bớc in( vừa in thẻ hai
mặt, vừa ép nhựa); khả năng kiểm soát chặt chẽ toàn bộ quá trình in thẻ ở các
trung tâm in ấn tập trung.
-Công nghệ mã hoá dữ liệu: dữ liệu( chữ số, ảnh , vân tay) có thể đợc
mã hoá theo nhiều cách khác nhau : dùng dải băng từ; dùng mã vạch; dùng
chíp điện tử; dùng các dòng chữ để có thể nhận dạng bằng máy.
Hạn mức tín dụng của thẻ tín dụng cho một khách hàng nằm trong tổng mức
cho vay chung đối với khách hàng đó và tổng mức cho vay chung này không
đọc vợt quá giới hạn cho vay tối đa của ngân hàng với một khách hàng theo
quy định của pháp luật. NHPHT phải quy định thời hạn trả nợ , lãi suất, cũng
nh lãi suất d nợ tín dụng thẻ cha đợc thanh toán đúng hạn và mức trả nợ tối
thiểu tính trên d nợ tín dụng thẻ cho các chủ thẻ tín dụng. Các quy định này
không trái với các quy định hiện hành của ngân hàng nhà nớc về lãi suất cho
vay. Bên cạnh đó quy định nêu rõ thẻ chỉ đợc cấp cho cá nhân, không cấp
thẻ cho tập thể và d nợ tín dụng thẻ của NHPHT đợc tính vào tổng mức d nợ
cho vay chung của mình .
Đối với chủ thẻ : Quy chế quy dịnh,chủ thẻ không đợc chi vợt hạn
mức tín dụng đã đợc NHPHT chấp thuận trong hợp đồng. Trong trờng hợp
muốn s dụng vợt hạn mức tín dụng phải thoả thuận trong hợp đồng với
NHPHT. Đồng thời phải thanh toán đầy đủ đúng hạn mức trả nợ tối thiểu đợc
NHPHT quy định.
Phạm vi sử dụng và đồng tiền thanh toán trên thẻ: theo quy chế
,các loại thẻ hoạt động trên lãnh thổ Việt nam chủ yếu bằng đồng Việt nam.
Trờng hợp đậc biệt ( thẻ quốc tế ) có thể giao dịch ngoại tệ nhng chỉ ở các cơ
sở đựợc pheps giao dịch ngoại tệ .Việc rút tiền mặt bằng ngoại tệ chỉ đợc
thực hiện ở các NHTTT , NHPHT đợc phép giao dịch ngoại tệ và hạn mức
theo quy định về quản lí ngoại hối của nhà nớc Việt nam .Quy chế cũng quy
định cho việc thanh toán giữa các bên liên quan bầng đồng Việt nam.
Những điều kiên của ngân hàng mở dịch vụ phát hành thẻ: Các
Ngân hàng có thể thực hiện việc phát hành thẻ chỉ khi nào đợc nhà nớc Việt
nam cho phép .
Nghĩa là ngân hàng đó phải hội tụ đủ các điều kiện về năng lực tài chính
,không vi phạm pháp luật ; đảm bảo hệ thống trang thiết bị cần thiết phù hợp
với tiêu chuẩn và đảm bảo an toàn cho hoạt động phát hành , thanh toán
thẻ .Có đội ngũ cán bộ đủ năng lực chuyên môn để quản lí ,vận hành, thanh
toán thẻ theo thông lệ quốc tể ; chứng minh đợc sự cần thiết, hiệu quả kinh
hoá bằng một số 13 con số, và tất cả các công ty đều có địa chỉ của mình
bằng một mã có từ 100 đến 100000 con số( mã vạch là hệ thống mã dùng các
vạch đen, trắng, màu, có đọ rộng khác nhau để biểu diễn con số; một máy
quét dùng tế bào quang điện sẽ nhận dạng các vạch này biến đổi thành con số
rồi tự động đa vào máy tính để tính toán tự động , trớc đây mã vạch đợc đọc
theo một chiều, nay đã xuất hiện loại mã vạch mới cho phép đọc nhiều chiều
và chứa đựng nhiều thông tin hơn). Việc hội nhập vào và thiết lập toàn bộ hệ
thống mã sản phẩm và mã công ty( gọi chung là mã hoá thơng mại;
commercial coding) cho một nền kinh tế( đặc biệt là nền kinh tế của nớc
đang phát triển) nói chung cũng không đơn giản.
Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt
Hơn 10 năm qua, hệ thống ngân hàng không ngừng đợc củng cố và
phát triển góp phần tích cực vào những thành tựu chung trong công cuộc đổi
mới, nổi bật là đẩy lùi lạm phát phi mã, ổn định giá trị đồng tiền, ổn định
kinh tế vĩ mô, làm nòng cốt huy động vốn, phục vụ có hiệu quả cho nhu cầu
phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân .
Là sự đánh giá có tính tổng quát hoạt động ngân hàng phục vụ nền kinh tế
phát triển. Tuy nhiên bên cạnh những thành công rực rỡ ấy hoạt động ngân
hàng không tránh khỏi những mặt hạn chế, yếu kém, bất cập. Trong đó công
tác tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt gặp không ít khó khăn, mặc dầu
đây là một mũi nhọn đợc Chinh Phủ và ban lãnh đạo ngân hàng nhà n-
ớc(NHNN) rất quan tâm.Đặc biệt triển khai trơng trình huện đại hoá nghành
ngân hàng cũng nhằm áp dụng công nghệ mới vào nghiệp vụ thanh toán
không dùng tiền mặt. NHNN và các ngân hàng thơng mại quốc
doanh(NHTMQD) đã đợc phổ cập mạng máy tính, tạo ra năng lực mới có
năng suất rất cao đẩy nhanh tốc độ mỗi món tiền tăng lên hàng nghìn lần so
vơi trớc. Từ đó đã tạo ra điều kiện vô cùng thuận lợi phát triển hoạt đông
thanh toán không dùng tiền mặt. Song những tiến bộ tuyệt vời nh vậy vẫn cha
xoay đổi tình trạng xã hội là một quốc gia đang sử dụng quá nhiều tiền mặt
nh nhận xét của nhiều khách nớc ngoài; nên đã làm cho việc điều hoà lu
Sau khi đến nơi họ bắt đầu tiến hành giao dịch, thơng lợng để đi tới một
quyết định dứt khoát về giá cả và số lợng đợc bán.Tiếp đến ngời mua sẽ tiến
hành trả tiền cho ngời bán về số lợng hàng mà mình đã mua bằng tiền mặt.
Ngời bán có thể gặp rủi ro khi ngời mua do vô tình hoặc cố ý trả tiền giả cho
họ .Trái ngợc với phơng thức mua bán nh trên nhờ có thơng mại điện tử mà
việc mua bán của con ngời vừa đảm bảo diễn ra thuận lợi hơn vừa đảm bảo
độ chính xác, an toàn và đáp ứng đợc nhu cầu lớn nhất của con ngời. Thay vì
việc phải ra chợ chọn hàng, tìm hàng ngày nay ngời ta chỉ cần ngồi ở nhà là
đã có thể làm đợc điều đó .Sau khi đã vào mạng internet từ đó con ngời sẽ
vào các trang web giới thiệu hàng hoá. Tuỳ vào loại hàng hoá mà mình định
mua để vào các trang eb thchs hợp . Tiếp đó ta sẽ chọn nhà cung cấp nào cho
sản phẩm dịch vụ đó .Khi đó trên màn hình sẽ hiện ra các loại mẫu mã, kiểu
dáng, màu sắc.. và còn kèm theo cả giá cả về từng hàng hoá riêng biệt giúp
cho ngòi mua thoải mái lựa chọn những hàng hoá phù hơp với yêu cầu của
mình mà giá thành lại hợp lí. Toàn bộ quá trình trên đợc thực hiện hết sức
đơn giản bằng cách nhấn chuột vào những nơi mình lựa chọn. Khi việc lựa
chọn kết thúc ngời mua sẽ thông báo cụ thể cho ngời bán về lợng hàng, mẫu
mã, giá cả.. nếu ngời bán đồng ý thì toàn bộ yêu cầu của khách hàng sẽ đợc
đáp ứng thoả đáng. Việc mua bán này không chỉ gói gọn trong phạm vi một
nớc mà nó có thể thực hiện đợc trên phạm vi toàn cầu. Ví dụ nh ta đang ngồi
ở nhà và muốn mua một chiếc xe hơi Toyota của nớc Nhật điều này hoàn
toàn có thể thực hiện đợc. Còn ngời mua sẽ hoàn thành nghĩa vụ thanh toán
của mình bằng việc sử dụng các thẻ thanh toán do NHPHT cấp. Thanh toấn
theo hình thức này sẽ đảm bảo tính tiện lợi, an toàn, tiết kiệm so vơi khi trả
bằng tiền mặt. Do vậy thanh toán điện tử vừa tiết kiệm đợc thời gian và chi
phí thay vì phải thanh toán trực tiếp.
Tổng giá trị hàng TMĐT năm 1997 là 17 tỉ USD đến năm 1999 đã lên
đến 70 tỉ USD, dự báo đến năm 2002 sẽ đạt mức 1000 tỉ USD . Trong tổng
doanh số TMĐT toàn thế giới hiện nay trên 40% là thuộc về các giao dịch
ngân hàng( chủ yếu là chu chuyển vốn) và tỷ trọng rất cao này còn duy trì