1
Chuyên đề:
CÁC LỚP THỜI GIAN TRONG
“VỢ CHỒNG A PHỦ” CỦA TÔ HOÀI
2
Lời giới thiệu
Đây là chuyên đề nghiên cứu về thời gian như một công cụ nghệ thuật
hữu hiệu được Tô Hoài sử dụng khi viết Vợ chồng A Phủ.
Có thể vận dụng chuyên đề trong việc tìm hiểu nghệ thuật sử dụng thời
gian trong các tác phẩm văn học nói chung và các tác phẩm giảng dạy trong
nhà trường nói riêng.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp đã giúp
đỡ để hoàn thành chuyên đề này !
Rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp để chuyên
đề của chúng tôi được hoàn thiện hơn !
Tác giả Nguyễn Ngọc Hưng
Còn về sau, Xuân Diệu cũng rất tinh tế khi dùng thời gian quá khứ để chỉ hiện
tại:
“Đã nghe rét mướt luồn trong gió,
Đã vắng người sang những chuyến đò”
(Đây mùa thu tới – Xuân Diệu)
Rõ ràng thời gian trong tác phẩm văn học được các nhà văn sử dụng như một
thủ pháp nghệ thuật. Trong tác phẩm truyện kể, các sự kiện, biến cố được sắp xếp
theo một trật tự thời gian nhất định đều nhằm phục vụ một ý đồ tư tưởng nào đó
của nhà văn. Thời gian đóng vai trò vô cùng quan trọng tạo nên sự thành công cho
tác phẩm. Tuy nhiên, việc khám phá tác phẩm văn chương từ việc tìm hiểu thời
4
gian nghệ thuật hoặc là chưa được để ý hoặc là có để ý thì đó cũng là một công việc
không hề đơn giản.
Vợ chồng A Phủ được Tô Hoài viết năm 1953, thời gian của câu truyện xảy
ra vào trước cách mạng tháng Tám. Bối cảnh câu chuyện là cuộc sống của những
người dân vùng cao, nhân vật trung tâm là những con người bị áp bức, chà đạp,
phải trở thành kiếp ngựa trâu cho bọn thống trị. Khi Vợ chồng A Phủ được viết ra
thì mọi sự kiện, mọi số phận trong tác phẩm đã lùi về quá khứ. Thời điểm năm
1953 đủ để Tô Hoài có độ lùi cần thiết khi mang đến cho tác phẩm một nguồn cảm
hứng mới: cảm hứng về sự đổi thay cho số phận của nhân vật; cảm hứng về sự hồi
sinh, con người có thể lấy lại những gì tưởng như đã mất. Sức mạnh tiềm tàng
mãnh liệt trong con người ngay khi tưởng như họ đã mất hết sức sống chính là ám
ảnh lớn nhất mà tác phẩm đã đem lại.
Như thế, Vợ chồng A Phủ đã trở thành một trong những tác phẩm thành công
nhất của văn xuôi hiện đại Việt Nam viết về cuộc sống những người dân vùng cao.
Trong nhà trường, Vợ chồng A Phủ được coi là tác phẩm “kinh điển” đã được giảng
dạy trong suốt mấy chục năm qua. Rất nhiều kỳ thi từ nhỏ đến lớn đã sử dụng câu
6
- Tìm hiểu trật tự của truyên kể
- So sánh độ lâu của các sự kiện, biến cố với độ dài văn bản.
- Những hiện tượng xảy lặp.
Phần nội dung
Bài viết sẽ tìm hiểu nghệ thuật thời gian trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ
(Phần I: Chuyện xảy ra ở Hồng Ngài. Nội dung văn bản lấy từ sách giáo khoa Văn
học 12, tập I, NXBGD, Sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000 – Trong sách này văn bản
tác phẩm không bị lược bớt) dưới các bình diện sau:
1.Tìm hiểu trật tự của truyên kể: là so sánh trật tự các biến cố thời gian trong
diễn ngôn trần thuật với trật tự kế tiếp nhau trong các biến cố thời gian trong cốt
truyện, tức là so sánh trật tự truyện kể (của việc kể chuyện) với trật tự niên biểu của
câu chuyện.
2. Tìm hiểu độ lâu của các sự kiện, biến cố và độ dài văn bản.
3. Nghiên cứu những hiện tượng xảy lặp nhằm nâng cao hiệu quả của nghệ
thuật thời gian trong tác phẩm.
Đương nhiên mỗi cấp độ nêu trên sẽ có các cấp nhỏ hơn. Bài viết sẽ đi vào
những cấp độ được coi là quan trọng và thể hiện rõ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Các cấp độ thời gian trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài được cụ thể như sau:
1. Trật tự truyện kể
Trong truyện cổ tích, không có sự đảo lộn về thời gian, sự việc xảy ra trước
kể trước, sự việc xảy ra sau kể sau. Chúng ta vẫn quen gọi là thời gian tuyến
tính.Ở đây bài viết nghiên cứu về sự sai trật niên biểu (thời gian phi tuyến tính)
của các biến cố xảy ra trong câu chuyện với việc xắp xếp thời gian để kể lại
chúng của Tô Hoài. 8
- G: Có tiếng xôn xao phía ngoài rồi một đám đông vào nhà…. Trong khi vào
rừng tìm lá thuốc, Mị nghe chị dâu nói lại mới biết chuyện A Sử đi chơi bị đánh vỡ
đầu.(khoảng 3/4 trang)
- H: Nửa đêm qua, A Sử vào làng tìm đến đám chơi có tiếng sáo, tiếng khè
Chúng nó xọc ngang cái gậy, khiêng A Phủ mang về ném xuống giữa nhà thống lý.(
khoảng 3/4 trang)
- I: Mị đi hái thuốc lá về, thấy trong nhà còn đông hơn lúc nãy Nhưng A Phủ
cũng chẳng muốn trở về làm gì bên ấy nữa.(khoảng hơn 2 trang)
- K: A Phủ cũng không phải người làng bên ấy
Vì thế mà sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài.(khoảng nửa trang)
- M: Khi đó đang đói rừng A Phủ chỉ đứng nhắm mắt, cho tới đêm khuya (
khoảng gần 2 trang)
- N: Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, Mỗi đêm Mị đã dậy ra
thổi lửa, hơ tay, hơ lửa không biết bao nhiêu lần.( gần 3 dòng)
- P: Thường khi dến gà gáy sáng Mị ngồi dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu thì
các chị em trong nhà mới bắt đầu dậy ra dóm lò bung ngô Nhưng đêm sau Mị
vẫn ra sưởi lửa như đêm trước.( khoảng 1/3 trang)
- Q: Lúc ấy đã khuya.( ). Và hai người lẳng lặng đỡ nhau bỏ chạy xuống dốc
núi.( khoảng hơn 1 trang)
Từ việc phân chia lớp chuyện ở trên ta có nội dung và niên biểu của từng lớp
chuyện như sau:
A-2: Cuộc sống hàng ngày của Mị.
B-1: Lai lịch Mị và con đường dẫn tới kiếp làm dâu gạt nợ, là quá khứ xa nhất
tương đương với quá khứ kể về lai lịch A Phủ.
. C-3: Quãng ngưng: khẳng định thêm tính bi đát cho số phận Mị.
D-4: Không khí ngày Tết.
E-5: Không khí ngày Tết bắt đầu tác động đến tâm hồn Mị của.
M
N
P
Q
2
1
3
4
5
6
8
7
9
1
10
11
12
13
Qua sự phân chia lớp truyện và sơ đồ trật tự niên biêu trên, ta có nhận xét như
sau:
- Câu chuyện thực chất là kể về cuộc đời và số phận hai nhân vật Mị và A Phủ,
có thể tách ra thành hai câu chuyện nhỏ. Đoạn B và K cùng một trât tự thời gian vì
đó là hai đoạn kể về lai lịch của Mị và A Phủ.
- Lớp truyện A: Mở đầu bằng việc đưa thời gian hiện tại lên trước khi giới thiệu
nhân vật Mị: Mị luôn tồn tại trong một tư thế bất biến, lúc nào cũng cúi mặt, mặt
buồn rười rượi. Đó là hiện thực vĩnh hằng. Cách vào truyện bằng cách đưa hiện
11
- Lớp truyện G:
Đón trước: Các đoạn văn đón trước mang chức năng dự báo sự kiên. Mặc dù
ý muốn của Mị không thực hiện được nhưng ta đã thấy được lòng ham sống, khao
khát tự do, sức mạnh tiềm tàng trong nhân vật Mị. Nó dự báo chắc chắn sẽ có một
biến cố lớn xảy ra trong một con người nô lệ mà vẫn ham sống mãnh liệt như Mị.
Đó là cơ sở để chúng ta lý giải hành động cởi trói cho A Phủ và tự giải thoát cho
mình sau này của Mị.
Lòng Mị đang hướng về ngày trước
(Cảnh trong phim “Vợ chồng A Phủ”)
Quay ngược: Tạo ra chuyện kể thứ hai: Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta
vẫn kể: đời trước ở nhà thống lý Pá Tra có một người trói vợ trong nhà ba ngày rồi
đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi. Sự quay ngược này đã khẳng định thêm số
phận cơ cực của những người phụ nữ trong nhà Pá Tra. Mị không phải trường hợp
ngoại lệ. Ta càng thấy được tội ác dã man thuộc về bản chất của giai cấp phong
kiến thống trị miền núi
12
Như vậy ta thấy, văn học có khả năng miêu tả mối liên hệ thời gian đa dạng,
nhiều chiều, nhiều lớp. Nhà văn có thể miêu tả thời gian thuận chiều, đồng nhịp với
thời gian tư nhiên nhưng nhiều khi nhà văn lại miêu tả thời gian ngược chiều từ hiện
tại trở về quá khứ rồi từ quá khứ đi tới tương lại. Đây cũng chính là ưu thê trong khả
năng chiếm lĩnh đời sống của văn học so với các loại hình nghệ thuật khác.
2. Tìm hiểu độ lâu của sự kiện và độ dài văn bản
Vì miêu tả thời gian trong ý thức, trong sự cảm thụ của con người mà văn học
Mị cởi trói cho A Phủ
(Cảnh trong phim”Vợ chồng A Phủ”)
2.3. Quãng ngưng:
Quãng ngưng là những đoạn tác giả hay dừng lại để miêu tả hay nhấn mạnh
một vấn đề nào đó nhằm phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của mình. Ở những quãng
ngưng thời gian truyện kể bao giờ cũng lớn hơn thời gian sự kiện. Ví dụ:
14
Lớp truyện C: Quãng ngưng khẳng định thêm sự bi đát cho số phận Mị,
không chỉ vô cảm về thời gian, Mị còn vô cảm về không gian: . Ở cái buồng mị
nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. lúc nào trông ra cũng
chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng.
Lớp truyện E: Quãng ngưng báo hiệu những đổi thay trong tâm trạng của Mị
khi mùa xuân về: nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị. Tai Mị
văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này,
Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cúng hay như
thổi sáo. Có biết bao người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Đó là những thay
đổi đầu tiên trong tâm lý của Mị, chuẩn bị cho một chuỗi những thay đổi tâm lý
tiếp theo của cô.
Lớp truyện N: Quãng ngưng miêu tả thói quen sinh hoạt hàng ngày của Mị:
thói quen trở dậy hơ tay sưởi lửa vào ban đêm của Mị nhằm nhấn mạnh sự vô cảm
của Mị trước cảnh ngộ của A Phủ: Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy cũng thế
thôi. Để từ đó Tô Hoài đã đem đến cho người đọc một bất ngờ lớn cho hành đông
tiếp theo là cắt dây trói cứu A Phủ của Mị.
chơi, những đám chơi. “Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em
bắt pao nào ” Mị không nghe tiếng sáo nữa
Lúc lại nồng nàn thiết tha nhớ. Hơi rượu toả. Tiếng sáo
Đó là tiếng sáo thời gian. Tiếng sáo của mùa xuân hiện tại đã đưa Mị về với
tiếng sáo của những mùa xuân trong quá khứ. Tiếng sáo hay chính là tiếng lòng,
là nỗi ám ảnh không nguôi về quá khứ của Mị? Mị nhớ về tiếng sáo hay chính là
hành trình đi tìm thời gian đã mất ?
3.3. Kể một lần cái điều xảy ra nhiều lần
Tô Hoài kể về thói quen trở dậy hơ tay sưởi lửa về đêm của Mị:
Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi kia
thì Mị cũng chết héo. Mỗi đêm Mị đã dậy ra thổi lửa, hơ tay, hơ lửa không biết bao
nhiêu lần.
16
Tô Hoài muốn khẳng định việc dậy sưởi lửa mỗi đêm của Mị là thói quen
thường ngày và đêm Mị cởi trói cho A Phủ ban đầu Mị cũng chỉ trở dậy như mọi
đêm, chưa hề có ý định cứu A Phủ. Từ đó, nhà văn lý giải hành động cởi trói cho A
Phủ là tự nhiên, bất ngờ, không có chủ ý trước của Mị.
3.4. Lặp lại thái độ:
Thái độ vô cảm của Mị được lặp đi lặp lại: Sự vô cảm của Mị
(Cảnh trong phim”Vợ chồng A Phủ”)
Vô cảm về thời gian: Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào
cô không nhớ, cũng không ai nhớ…
Vô cảm về thời gian: Ở cái buồng mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ
2. Từ việc nghiên cứu trên, chúng tôi đã áp dụng để giảng dạy thử nghiệm tại
các lớp ban C, D của trường THPT Yên Lạc và đem lại kết quả tốt: học sinh hứng
thú, hiểu tác phẩm sâu hơn, hiểu ý đồ của nhà văn khi sáng tác…
3. Theo đánh giá chủ quan của chúng tôi, chuyên đề đã mở ra một hướng tiếp
cận khá mới mẻ và khoa học khi tìm hiểu thời gian trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ.
Từ đó có thể vận dụng các bình diện thời gian như đã phân tích ở trên để khảo sát các
tác phẩm văn học đặc biệt là văn xuôi khác, khi mà việc tìm hiểu tác phẩm văn
18
chương đi từ khám phá nghệ thuật nói chung và thời gian nghệ thuật nói riêng vẫn là
một thách thức không nhỏ đối với người đọc nhất là học sinh phổ thông.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Sách giáo khoa Văn học 12, tập 1, NXBGD, năm 2000.
2. Chuẩn kiến thức kỹ năng Ngữ văn 12, NXBGD, năm 2010
3. Hà Minh Đức (chủ biên), Lý luận văn học, NXBGD, năm 2001.
4. Phương Lựu (chủ biên), Lý luận văn học, NXBGD, năm 2003.
5. Đào Duy Hiệp Thơ và truyện và cuộc đời, NXBHNV.
6. Đặng Anh Đào, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại,
NXBĐHQG, năm 2011
7. Đào Duy Hiệp, Phê bình văn học từ lý thuyết đến hiện đại, NXBGD, năm
2008.
8. Một số tài liệu tham khảo khác.
________________________________________________________
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hưng (Phòng CTHSSV-Sở GD&ĐT)