Chuyên đề:
các lớp thời gian trong vợ chồng A phủ của
Tô hoài
Lời giới thiệu
Đây là chuyên đề nghiên cứu về thời gian nh một công cụ nghệ thuật
hữu hiệu đợc Tô Hoài sử dụng khi viết
Vợ chồng A Phủ.
Có thể vận dụng chuyên đề trong việc tìm hiểu nghệ thuật sử dụng
thời gian trong các tác phẩm văn học nói chung và các tác phẩm giảng dạy
trong nhà trờng nói riêng.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp đã
giúp đỡ để hoàn thành chuyên đề này !
Rất mong đợc sự góp ý của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp để
chuyên đề của chúng tôi đợc hoàn thiện hơn !
Tác giả
Nguyễn Ngọc Hng
1
Phần mở đầu
1. Lý do chon đề tài:
Mỗi loại hình nghệ thuật chiếm lĩnh hiện thực trong các chiều không gian, thời
gian khác nhau. Hội hoạ, điêu khắc tái hiện sự vật trong sự tĩnh tại, chớp lấy một
khoảnh khắc nhất định của đối tợng và biểu hiện nó trong tơng quan với không gian.
Còn văn học chủ yếu diễn tả quá trình đời sống diễn ra trong thời gian.
Nh vậy, so với các loại hình nghệ thuật nh hội hoạ, điêu khắc thì văn học có
khả năng to lớn trong việc miêu tả đối tợng trong tính vận động, tái tạo dòng thời
gian với những nhịp độ khác nhau. Sự vận động thời gian trong tác phẩm văn học
phản ánh nhịp độ vận động của cuộc sống. Thực chất việc tái hiện thời gian trong
văn học là tái hiện quan niệm của con ngời về sự tồn tại, là sự biểu hiện tâm lý của
con ngời trớc các sự kiện, biến cố đời sống.
Từ xa xa thời gian đã đi vào tác phẩm văn chơng để miêu tả nỗi lòng ngời con
gái phải lấy chồng xa xứ:
Nh thế, Vợ chồng A Phủ đã trở thành một trong những tác phẩm thành công
nhất của văn xuôi hiện đại Việt Nam viết về cuộc sống những ngời dân vùng cao.
Trong nhà trờng, Vợ chồng A Phủ đợc coi là tác phẩm kinh điển đã đợc giảng dạy
trong suốt mấy chục năm qua. Rất nhiều kỳ thi từ nhỏ đến lớn đã sử dụng câu hỏi
liên quan tới tác phẩm này. Tác phẩm đã đợc dựng thành phim. Cũng đã có rất
nhiều những công trình nghiên cứu của giới phê bình về Vợ chồng A Phủ. Tuy
3
nhiên, hầu nh cha có công trình nào nghiên cứu riêng về thời gian trong tác phẩm
này một cách trọn vẹn. Trong khuôn khổ hạn hẹp, bài viết sẽ khảo cứu, nhìn nhận
tác phẩm dới góc độ nghệ thuật sử dụng thời gian với mong muốn mang đến một h-
ớng khám phá mới cho tác phẩm.
Nhà văn Tô Hoài
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát nghệ thuật thời gian trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài để thấy yếu
tố thời gian đợc nhà văn sử dụng nh một công cụ hữu hiệu trong việc thể hiện đề tài,
chủ đề, nội dung t tởng cũng nh các giá trị cơ bản của tác phẩm.
Từ việc khảo sát trên, ứng dụng để tìm hiểu nghệ thuật thời gian trong các tác
phẩm truyện kể nói chung và các tác phẩm đợc giảng dạy trong nhà trờng nói riêng.
3. Đối tợng nghiên cứu
Để hoàn thành công trình này, chúng tôi tiến hành khảo sát các đối tợng sau:
3.1. Một số vấn đề lý thuyết về thời gian.
3.2. Tác phẩm Vợ chồng A Phủ
4. Phơng pháp nghiên cứu.
4
Chúng tôi sử dụng các phơng pháp nh: phân tích, thông kê, sơ đồ hóa, ứng
dụng thực tiễn
5. Kết quả nghiên cứu sẽ trình bày
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chuyên đề sẽ gồm ba phần chính:
- Tìm hiểu trật tự của truyên kể
- So sánh độ lâu của các sự kiện, biến cố với độ dài văn bản.
Tra: cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lý Pá Tra.( Khoảng 1/4 trang)
- B: Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào cô không nhớ, cũng
không ai nhớ .
Đến Tết năm ấy,
Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc
Lần lần mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết. Nhng Mị cũng không còn t-
ởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm
nó còn đợc đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc
làm cả đêm, cả ngày.( khoảng hơn 1,5 trang)
- C: Mỗi ngày Mị càng không nóí, lùi lũi nh con rùa nuôi trong xó của. ở cái
buồng mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. lúc nào trông
ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sơng hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ
ngồi trong cái lỗ vuông ấy bao giờ chết thì thôi.(khoảng 5 dòng)
- D: Trên đầu núi, các nơng ngô, nơng lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các
nhà kho Vừa hết bữa cơm lại tiếp ngay bữa r ợu bên bếp lửa.( Khoảng 3/4 trang)
- E: Ngày Tết, Mị cũng uống rợu Có biết bao nguời mê ngày đêm thổi sáo đi
theo Mị.(khoảng gần 1/4 trang)
6
- F: Rợu đã tan từ lúc nào Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau đứt
từng mảnh thịt.(khoảng gần 2 trang)
- G: Có tiếng xôn xao phía ngoài rồi một đám đông vào nhà . Trong khi vào
rừng tìm lá thuốc, Mị nghe chị dâu nói lại mới biết chuyện A Sử đi chơi bị đánh vỡ
đầu.(khoảng 3/4 trang)
- H: Nửa đêm qua, A Sử vào làng tìm đến đám chơi có tiếng sáo, tiếng khè
Chúng nó xọc ngang cái gậy, khiêng A Phủ mang về ném xuống giữa nhà thống lý.
( khoảng 3/4 trang)
- I: Mị đi hái thuốc lá về, thấy trong nhà còn đông hơn lúc nãy Nhng A Phủ
cũng chẳng muốn trở về làm gì bên ấy nữa.(khoảng hơn 2 trang)
- K: A Phủ cũng không phải ngời làng bên ấy
Vì thế mà sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài.(khoảng nửa trang)
- A, B, C : Ký hiệu đoạn văn.
- 1, 2, 3 : Thứ tự thời gian sự kiện.
Ta có sơ đồ về trật tự niên biểu nh sau:
A B C D E F G H I K M N P Q
2 1 3 4 5 6 8 7 9 1 10 11 12 13
Qua sự phân chia lớp truyện và sơ đồ trật tự niên biêu trên, ta có nhận xét nh
sau:
- Câu chuyện thực chất là kể về cuộc đời và số phận hai nhân vật Mị và A Phủ,
có thể tách ra thành hai câu chuyện nhỏ. Đoạn B và K cùng một trât tự thời gian vì
đó là hai đoạn kể về lai lịch của Mị và A Phủ.
- Lớp truyện A: Mở đầu bằng việc đa thời gian hiện tại lên trớc khi giới thiệu
nhân vật Mị: Mị luôn tồn tại trong một t thế bất biến, lúc nào cũng cúi mặt, mặt
buồn rời rợi. Đó là hiện thực vĩnh hằng. Cách vào truyện bằng cách đa hiện tại lên
đầu tác phẩm đầy dụng ý nghệ thuật của Tô Hoài nhằm gây ấn tợng mạnh, sâu sắc
8
với ngời đọc ngay từ ban đầu. Đó là ấn tợng về cô Mị mang thân phận éo le, đau
khổ chứ không phải ấn tợng về cô Mị trong quá khứ: Ngày trớc, Mị thổi sáo giỏi.
Mùa xuân này Mị uống rơu bên bếp lửa và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi
lá cũng hay nh thổi sáo. Có biết bao nhiêu ngời mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo
Mị
- Lớp truyện B: Quay ngợc: Thực chất là tạo ra truyện kể thứ hai. Đó là câu
chuyện về bố mẹ Mị: Ngày xa bố Mị lấy mẹ Mị không có đủ tiền cới, phải đến vay
nhà thống lý, bố của thống lý Pá Tra bây giờ. Mỗi năm đem nộp lãi cho chủ nợ một
nơng ngô. Đến tận khi hai vợ chồng về già rồi mà vẫn cha trả đợc nợ. Ngời vợ chết
cũng cha trả hết nợ.
Sự quay ngợc thời gian đã lý giải kiếp làm dâu gạt nợ của Mị là do gánh chịu
hậu quả từ đời cha mẹ để lại. Mặt khác ta thấy thân phận éo le của Mị là thân phận
éo le truyền kiếp. Từ đó, ngời đọc cảm nhận sâu sắc hơn về giá trị hiện thực và giá
trị tố cáo của tác phẩm.
- Lớp truyện E: Ngoái lại, tìm thời gian đã mất.Cụ thể: Tết đến sớm ở Hồng
t nhiên nhng nhiều khi nhà văn lại miêu tả thời gian ngợc chiều từ hiện tại trở về quá
khứ rồi từ quá khứ đi tới tơng lại. Đây cũng chính là u thê trong khả năng chiếm lĩnh
đời sống của văn học so với các loại hình nghệ thuật khác.
2. Tìm hiểu độ lâu của sự kiện và độ dài văn bản
Vì miêu tả thời gian trong ý thức, trong sự cảm thụ của con ngời mà văn học
có thể kéo căng thời gian bằng cách miêu tả hàng loạt sự kiện dồn dập trong một
khoảnh khắc nhất định và ngợc lại có thẻ dồn nénthời gian hàng trăm năm trong
một dòng trần thuật ngắn.
2.1. Thời gian cốt truyện:
Một điều đặc biệt trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ là thời gian cốt truyện khó
có thể xác định cụ thể. Chúng ta có những dấu hiệu xác định thời gian nh:
Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào cô không nhớ, cũng
không ai nhớ .
Đến Tết năm ấy,
Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc
Lần lần mấy năm qua, mấy năm sau,
Thì cũng đã mấy ngày A Phủ phải trói đứng trong góc nhà
Cách thể hiện thời gian của Tô Hoài rõ ràng đầy dụng ý nghệ thuật. Thời gian
không xác định tạo cho ngời đọc cảm giác dài đẵng đẵng. Không thể biết đợc Mị và
A Phủ đã làm tôi tớ cho nhà Pá Tra bao lâu, chỉ biết là đã lâu lắm, lâu đến mức
chính bản thân Mị cũng không thể nhớ nổi nữa. Do đó tính bi đát cho số phận của
nhân vật đợc tô đậm thêm rất nhiều.
2.2. Thời gian, độ dài của tác phẩm
Tác phẩm chủ yếu tập trung miêu tả cảnh đời của Mị và A Phủ (11/12 trang tác
phẩm). Thực chất đó la hai câu chuyện về cuộc đời hai nhân vật Mị và A Phủ Chi
tiết Mị cởi trói và chạy theo A Phủ cũng chính là tình huống gặp gỡ đầu tiên của hai
11
nhân vật này. Từ suy nghĩ đến hành động đợc diễn ra rất nhanh, hầu nh chỉ trong
một khoảnh khắc, cũng chỉ chiếm một trang văn bản. Điều đó cho thấy quyết định
của Mị diễn ra nhanh chóng, có phần tự phát, mở ra bớc ngoặt cho tác phẩm, khép
Đám trẻ đợi Tết,
ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm cái sân chơi chung ngày Tết
Cả nhà thống lý Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm Tết cúng ma
Ngày Tết, Mị cũng uống rợu
. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết Đã từ nãy Mị thấy phơi phới trở
lại, trong lòng đột nhiên vui sớng nh những đêm Tết ngày trớc Bao nhiêu ngời có
chồng cũng đi chơi ngày Tết.
13
Rất nhiều sự kiện nhằm tô đậm thời gian: Tết. Tô Hoài muốn đem đến cho mùa
xuân năm ấy ở Hồng Ngài có một sự khác biệt. Nó vừa là sự đối lập với cuộc sống
nô lệ của Mị vừa là tác nhân đa đến những thay đổi trong tâm hồn Mị.
3.2. Chi tiết tiếng sáo cũng đợc trở đi trở lại:
Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng
sáo vọng lại thiết tha, bổi hổi
Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trớc, Mị thổi sáo giỏi.
Mùa xuân này Mị uống rợu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá
cũng hay nh thổi sáo. Có biết bao ngời mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị.
Nhớ lại chỉ thấy nớc mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay
ngoài đờng:
Anh ném pao, em không bắt
Em không yêu, quả pao rơi rồi
Hơi rợu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đa Mị đi theo những cuộc
chơi, những đám chơi. Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu ng ời nào, em bắt
pao nào Mị không nghe tiếng sáo nữa
Lúc lại nồng nàn thiết tha nhớ. Hơi rợu toả. Tiếng sáo
Đó là tiếng sáo thi gian. Ting sáo của mùa xuân hiện tại đã đa Mị về với
tiếng sáo của những mùa xuân trong quá khứ. Tiếng sáo hay chính là tiếng lòng,
là nỗi ám ảnh không nguôi về quá khứ của Mị? Mị nhớ về tiếng sáo hay chính là
hành trình đi tìm thời gian đã mất ?
3.3. Kể một lần cái điều xảy ra nhiều lần
Kết luận
1. Thời gian cốt truyện và thời gian sự kiện trong Vợ chồng A Phủ đều không
xác định đợc rõ. Cũng nh chúng ta không thể biết đợc khi nào chúng ta mới thôi
đọc nó. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua mà tác phẩm vẫn còn nguyên ý nghĩa và giá trị.
Nó đem lại cho ngơi đọc những ám ảnh về nỗi đau của kiếp ngòi nô lệ. Nó còn ám
ảnh chúng ta bởi sức sống tiềm tàng mãnh liệt và khả năng đứng lên tự giải pháng
cho mình của con ngời ngay trong những hoàn cảnh hà khắc, phi nhân tính nhất.
Hơn hết, nó giúp chúng ta hiểu ra một chân lý vững bền của cuộc sống: Sự sống nảy
sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời
này không có con đờng cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức
mạnh để bớc qua những ranh giới ấy.( Nguyễn Khải).
2. Từ việc nghiên cứu trên, chúng tôi đã áp dụng để giảng dạy thử nghiệm tại
các lớp ban C, D của trờng THPT Yên Lạc và đem lại kết quả tốt: học sinh hứng
thú, hiểu tác phẩm sâu hơn, hiểu ý đồ của nhà văn khi sáng tác
3. Theo đánh giá chủ quan của chúng tôi, chuyên đề đã mở ra một hớng tiếp cận
khá mới mẻ và khoa học khi tìm hiểu thời gian trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ. Từ đó
có thể vận dụng các bình diện thời gian nh đã phân tích ở trên để khảo sát các tác
phẩm văn học đặc biệt là văn xuôi khác, khi mà việc tìm hiểu tác phẩm văn chơng đi từ
khám phá nghệ thuật nói chung và thời gian nghệ thuật nói riêng vẫn là một thách thức
không nhỏ đối với ngời đọc nhất là học sinh phổ thông.
Danh mục tài liệu tham khảo
16
1. Sách giáo khoa Văn học 12, tập 1, NXBGD, năm 2000.
2. Chuẩn kiến thức kỹ năng Ngữ văn 12, NXBGD, năm 2010
3. Hà Minh Đức (chủ biên), Lý luận văn học, NXBGD, năm 2001.
4. Phơng Lựu (chủ biên), Lý luận văn học, NXBGD, năm 2003.
5. Đào Duy Hiệp Thơ và truyện và cuộc đời, NXBHNV.
6. Đặng Anh Đào, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phơng Tây hiện đại,
NXBĐHQG, năm 2011
7. Đào Duy Hiệp, Phê bình văn học từ lý thuyết đến hiện đại, NXBGD, năm