Tên đề tài: : PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỔ CHỨC HỢP TÁC TRONG DẠY
HỌC TRUYỆN NGẮN “VỢ CHỒNG A PHỦ" CỦA TÔ HOÀI Ở TRUNG
TÂM GDTX TỈNH…..
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 29NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI cũng xác định: “Đối với giáo dục
phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực
công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học
sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng,
truyền thống, đạo đức, lối sống, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập
suốt đời”. Và để thực hiện những yêu cầu trên, toàn ngành Giáo dục – Đào tạo
cần: “Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học,
các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người
học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy
cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và
đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp
sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,
nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
trong dạy và học”.
1.2. Dạy học hợp tác là kiểu dạy học bám sát với đặc trưng bộ môn phát
huy được tính chủ động tích cực của người học. Nó đem lại hiệu quả làm việc
tốt hơn so với cách dạy thông thường; đặc biệt với bài học đòi hỏi kỹ năng, sự
đánh giá, kinh nghiệm phức tạp. Nhóm hợp tác là cách tốt hơn để khai thác năng
Thụ. Trong hơn 60 năm viết, ông thuộc số người hiếm hoi có khả năng thâm
nhập rất nhanh và rất sâu vào những vùng đất mới. Vì thế ông đã để lại nhiều tác
phẩm viết về vùng Tây Bắc vô cùng đặc sắc. Nó như cái chất yêu đời, yêu người
của ông nhưng lại cũng vì yêu cầu của công chúng, của cách mạng.
1.5. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” được đưa vào giảng dạy ở
chương trình Ngữ văn lớp 12 là tác phẩm độc đáo về nội dung và nghệ thuật,
tiêu biểu cho phong cách nhà văn Tô Hoài. “Vợ chồng A Phủ” là một truyện
ngắn được rút ra từ tập “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài viết vào năm 1953 ngay
sau chuyến thâm nhập thực tế của tác giả. Truyện đã được tặng giải nhất của Hội
Văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955. Đấy là truyện ngắn đặc sắc nhất của Tô Hoài
nói riêng và của văn xuôi chống Pháp nói chung, tác phẩm là một bức tranh
chân thực về cuộc sống và thân phận khổ đau của những người nông dân nghèo
miền núi dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, đồng thời là bài ca
về phẩm chất, sức sống, khát vọng tự do của con người lao động miền núi, là
hình ảnh con đường giải phóng và sự đổi đời của họ.
1.6. Đối tượng học viên ở trung tâm GDTX tỉnh …..rất đa dạng: tỉ lệ
học viên là dân tộc miền núi chiếm đa số (dân tộc Thái, H.Mông, Kinh), độ
tuổi không đồng đều, trình độ nhận thức của nhiều em còn hạn chế. Các giờ
học văn hầu như mang tính thụ động. Do vậy, cần phải có một phương pháp
dạy học tích cực nhằm thay đổi thực trạng này. Dạy học hợp tác là một giải
pháp khả thi trong số đó.
Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học
“Phát triển năng lực tổ chức hợp tác trong dạy học truyện ngắn “Vợ chồng A
Phủ” của Tô Hoài ở trung tâm GDTX tỉnh…” nhằm nâng cao chất lượng
giảng dạy và góp phần thêm vào công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo theo Nghị Quyết số 29 – NQ/TW.
2. Lịch sử vấn đề
Vận dụng hình thức dạy học hợp tác vào giờ dạy học Ngữ văn là một vấn
nghiên cứu một cách cụ thể về hoạt động hợp tác trong dạy học tác phẩm “Vợ
chồng A Phủ”
Thứ hai, chúng ta xét về việc nghiên cứu tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”.
Tác phẩm được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 12, vì thế có rất nhiều bài
viết, sách nghiên cứu nói về nó song chỉ dừng lại ở bài viết dành cho học sinh
với kiến thức cơ bản. Việc nghiên cứu chuyên sâu đa số đan lồng vào việc nhận
định cả về sự nghiệp và phong cách sáng tác của Tô Hoài. Người đầu tiên
nghiên cứu văn chương Tô Hoài là nhà nghiên cứu phê bình Vũ Ngọc Phan.
Trong cuốn Nhà văn hiện đại, khi giới thiệu về Tô Hoài, Vũ Ngọc Phan đã có
những đánh giá rất thiết thực và ý nghĩa về phong cách viết tiểu thuyết của Tô
Hoài. Sau năm 1945, Tô Hoài đã cho ra đời nhiều tác phẩm. Số lượng công trình
nghiên cứu văn chương Tô Hoài cũng không ngừng gia tăng. Những nhà phê
bình có tên tuổi yêu thích văn chương Tô Hoài như: Phong Lê, Nguyễn Đăng
Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Vân Thanh, Nguyễn Văn Long, Vương Trí
Nhàn, Trần Hữu Tá, Nguyễn Đăng Điệp… đã có những đánh giá thật tinh tế
khách quan về các tác phẩm và văn chương của ông.
Có thể nói, nhìn chung, các tác giả nói trên đã chỉ ra những nghiên cứu rõ
ràng , cụ thể về hoạt động hợp tác trong dạy học. Trong đó có cả nghiên cứu
chung về phương pháp này và cả nghiên cứu riêng về cách dạy này trong một
bài học, một tác giả, tác phẩm cụ thể. Bên cạnh đó, tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”
cũng như tác giả Tô Hoài cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới. Tuy
nhiên, hầu hết những công trình này vẫn nghiêng về truyền đạt kiến thức như thế
nào cho tốt. Còn phát triển năng lực tổ chức hợp tác trong dạy học truyện ngắn
này thì chưa có. Nhất là ở miền núi hay ở Trung tâm GDTX tỉnh ….. thì càng
vắng. Do vậy, chúng tôi muốn hoàn thành luận văn như góp thêm một sáng kiến
giúp nâng cao chất lượng dạy Ngữ văn ở trung tâm GDTX tỉnh ….và để tìm
hiểu sâu hơn về tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xin ý kiến các chuyên gia để xây dựng công cụ điều tra và khẳng định giá
trị của các giải pháp nâng cao hiệu quả học tập nhóm trong sinh viên.
4.2.4. Phương pháp hỗ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm phân tích thực trạng vấn đề
nghiên cứu.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển năng lực tổ chức hợp tác trong dạy học truyện ngắn
“Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài ở trung tâm GDTX tỉnh…
5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: biện pháp phát triển năng lực tổ chức hợp tác
trong dạy học truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài ở trung tâm
GDTX tỉnh…”
- Địa điểm: Trung tâm GDTX tỉnh…..
- Thời gian nghiên cứu: tháng 12/2014 đến tháng 4/2015
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Biện pháp tổ chức hoạt động hợp tác trong dạy học
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Hoạt động hợp tác trong giáo dục
1.1.1.1. Cơ sở khoa học của hoạt động hợp tác
a. Quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm
- Giảng dạy chủ yếu bằng
- Các hoạt động học tập được cá
cách giáo viên thuyết trình cho
nhân tiến hành hoặc được thực
cả lớp.
hiện trong các nhóm nhỏ.
- Sách giáo khoa là tài liệu
- Sử dụng nhiều loại tài liệu
học tập chủ yếu.
trong dạy học và cho phép học
- Giáo viên quyết định quy
trình dạy học.
sinh sử dụng các tài liệu này một
cách độc lập hay theo nhóm.
- Học sinh đưa ra ý kiến của cá
nhân, của nhóm về bài học thông
qua sự hướng dẫn của giáo viên.
những điều đã học vào giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Học sinh tiếp
thu bài học không chỉ qua việc nghe giảng mà còn qua hoạt động thực tế. Cần
coi hoạt động của học sinh là trung tâm của quá trình học. Trong quá trình học
tập “hành” có tính chất toàn diện với mức độ khác nhau. Đó là sự vận dụng
những hiểu biết để giải quyết bài tập , thực hành trong phòng thí nghiệm, ở vườn
trường, thảo luận, trao đổi bài học,… Dựa vào thực tế của trường và các mối
quan hệ với gia đình, và cộng đồng xã hội mà chúng ta xác định nội dung nào sẽ
được tổ chức phối hợp. Hoạt động này không những nâng cao hiệu quả giảng
dạy mà còn có ý nghĩa trong cuộc sống nhằm nâng cao ý thức, thái độ và kỹ
năng sống cho học sinh.
1.1.1.2. Hoạt động hợp tác
a. Khái niệm:
Hợp tác nghĩa là tất cả mọi người cùng hợp sức để tìm ra cách giải quyết
vấn đề chung một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất; cùng nhau chia sẻ các ý
tưởng và đem lợi thế của từng cá nhân nhằm phục vụ cho mục đích chung của
nhóm với trách nhiệm tập thể và sự hợp tác qua lại giữa các thành viên. Hoạt
động hợp tác có thể hình thành trong quá trình học tập và rèn luyện. Nó cần có
những năng lực để hoàn thành mục tiêu chung của một tập hợp người một cách
hiệu quả nhất.
Còn trong giáo trình “Tổ chức hoạt động hợp tác trong dạy học Ngữ văn”
- (Nguyễn Thị Hồng Nam - Cần Thơ - 2002), tác giả cho rằng hình thức học tập
hợp tác “yêu cầu sự tham gia, đóng góp trực tiếp của học sinh vào quá trình học
tập, đồng thời yêu cầu HS phải làm việc cùng nhau để đạt được kết quả học
tập chung. Trong quá trình hợp tác, mỗi cá nhân tìm thấy lợi ích cho chính
mình và cho tất cả các thành viên trong nhóm” [tr1]. Và trong quá trình hợp
tác, học sinh học bằng cách làm chứ không phải bằng cách nghe giáo viên
giảng. Trong hình thức học hợp tác này, việc tổ chức cho HS thảo luận nhóm
đóng vai trò then chốt. Nếu mức độ tham gia thảo luận của HS càng lớn thì
chung của cả nhóm.
- Sự đóng góp của cả nhóm được đánh giá và ghi nhận bởi các cấp lớn hơn.
Có tinh thần nhiệt huyết trong công việc
- Mỗi thành viên luôn tự tin và hăng hái trước những nỗ lực của nhóm và quyết
tâm đạt được mục tiêu.
- Mọi người trong nhóm luôn tin tưởng và hỗ trợ lẫn nhau.
- Các thành viên phát huy tốt mối quan hệ hỗ trợ và quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau.
Có một trưởng nhóm có năng lực
- Trưởng nhóm là người định hướng cho nhóm đó hoạt động và đạt được mục
đích. Trưởng nhóm có năng lực sẽ giúp nhóm hoạt động hiệu quả và đạt được
các mục đích.
c. Cấu trúc của hoạt động hợp tác
Hoạt động hợp tác này có cấu trúc tương tự như mọi hoạt động khác song
phần hoạt động của học sinh là trung tâm và quan trọng nhất. Tất cả các yếu tố,
hoạt động khác phải hướng tới hoạt động này. Thường cấu trúc của hoạt động
hợp tác bao gồm nhiều thành tố như : mục đích và nhiệm vụ bài tập, nội dung
bài tập, phương thức thực hiện: giáo viên hướng dẫn, học sinh học tập và giúp
đỡ lẫn nhau trong quá trình thực hiện bài tập do giáo viên đề ra.
Mục đích và nhiệm vụ bài tập là những yêu cầu cần đạt được về kiến thức
và kĩ năng sau khi hoàn thành nhiệm vụ học tập. Thường với hoạt động học tập
hợp tác, ngoài yêu cầu đạt chuẩn kiến thức, học sinh còn phải tăng cường thêm
kĩ năng làm việc nhóm, tăng cường tinh thần đoàn kết. Phần mục đích này được
thể hiện rõ trong giáo án của giáo viên.
Tiếp theo là nội dung bài tập. Nó có sự gắn bó chặt với kiến thức đang
được học. Với hoạt động hợp tác, nội dung nên có sự phân chia cụ thể cho từng
nhóm trong lớp, chứ không nên chung chung cho cả lớp.
giữa các thành viên trong học tập hợp tác nhóm sẽ tạo điều kiện cho các
thông tin xuất hiện nhiều lần, được nói ra, được giải thích, được tích hợp và
được cung cấp hợp tác. Những thông tin được nhắc đi nhắc lại nhiều lần sẽ
được lưu giữ trong trí nhớ lâu dài.
- Giúp phát triển tư duy độc lập và trao đổi lẫn nhau trong nhóm bởi các
thành viên được đưa ra quan điểm riêng của mình về chủ đề thảo luận. Tăng
cường khả năng tư duy phê phán vì HS phải nắm bắt, kiểm tra, đánh giá
thông tin một cách hợp lí, áp dụng chúng một cách phù hợp và sáng tạo. Học
hợp tác nâng cao khả năng tần số thực hành các thao tác tư duy cao hơn nhiều
so với các phương pháp khác.
- Tăng cường khả năng hòa nhập, tinh thần học hỏi, hợp tác, sự lắng nghe
cũng như khả năng phản biện thông qua phần trình bày của mình và phản hồi
của thành viên khác.
- Giúp phát triển các kỹ năng khác như: kỹ năng thuyết trình trước đám
đông, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức các buổi họp,... ; tạo tiền đề cho làm
việc trong môi trường tập thể đạt hiệu quả.
- Phát huy được tính sáng tạo cao từ sự phối hợp các bộ óc sáng tạo của
nhóm.
- Giúp cho bản thân hoàn thành nhiệm vụ nhanh hơn và hiệu quả hơn so
với việc giải quyết nhiệm vụ một mình.
Có thể nói, việc thể hiện được khả năng hợp tác theo nhóm là vấn đề rất
quan trọng. HS s ẽ đ ư ợ c cùng nhau làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên,
giải quyết các bài tập hiệu quả hơn. Từ đó, tìm hiểu và chiếm lĩnh một cách
vững vàng tri thức, hoàn thiện khả năng bản thân, đáp ứng tốt những yêu cầu
của công việc.
1.1.1.3. Quy trình tổ chức hoạt động dạy học hợp tác
a. Chuẩn bị:
a1. Mục đích hợp tác nhóm:
đạt được các yêu cầu:
- Vấn đề nêu trong bài tập nên thú vị, ẩn chứa những thách thức đối với
HS, buộc HS phải tư duy và cùng nhau hợp tác để tìm tòi cách giải quyết. Chỉ
khi bài tập có tính chất thách thức đối với HS, một HS không thể hoàn
thành được thì mới có thể buộc HS hợp tác, giúp HS có nhiều cơ hội học tập,
mở rộng tầm nhìn, hiểu kiến thức sâu sắc và có khả năng vận dụng tri thức linh
hoạt. Có như vậy mới phát huy được tối đa năng lực, trí tuệ và khả năng sáng
tạo của HS và giúp HS hiểu vấn đề được sâu sắc.
Nếu GV ra các bài tập, vấn đề có sẵn câu trả lời trong SGK thì việc tổ
chức thảo luận nhóm thất bại. HS không cần suy nghĩ, h ợ p t á c thì không
thể phát huy được năng lực trí tuệ của HS.
- Tuy nhiên, độ khó của bài tập không nên vượt quá tầm trình độ của HS.
Để giúp HS thuận tiện trong việc tiến hành thảo luận theo đúng định hướng
của GV, tránh được những băn khoăn không cần thiết; các câu hỏi giao cho HS
thảo luận phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu để HS nắm được yêu cầu của bài tập
trước khi thảo luận.
- Để kết quả của thảo luận nhóm thực sự có ý nghĩa, b ài tập thảo luận
nhóm phải bàn về những vấn đề trọng tâm và phải có tính hệ thống trong mối
quan hệ gắn bó với nội dung của bài học.
a3. Xác định loại hình nhóm hợp tác
Ngay trong thiết kế giáo án của GV, GV đã phải hình dung trước nhóm
hợp tác của HS. Nhóm phải phù hợp với số học sinh, nội udng bài học, thời
gian,…
Có t h ể s ử d ụ n g c á c loại nhóm cơ bản sau: đó là nhóm cố định và
nhóm không cố định.
- Nhóm cố định là loại hình gồm những HS được chia nhóm cố định trong
khoảng thời gian từ một tuần đến vài tuần lễ để cùng nhau hoàn thành một bài
tập lớn, phức tạp.
HS cần phải nhớ các định nghĩa, khái niệm, công thức,… đã học trong một
chương.
+ Nhóm hoạt động trà trộn: Trong hình thức này, tất cả các HS trong lớp
phải đứng dậy và di chuyển trong lớp để thu thập thông tin từ các thành viên
khác, giống như các khách mời trong một buổi tiệc đứng gặp gỡ, tiếp xúc với
nhau. Sự di chuyển khỏi chỗ ngồi cố định làm cho các HS cảm thấy thích thú,
năng động hơn. Đối với HS trung bình hoặc kém thì đây là cơ hội cho họ hỏi
nhiều người khác nhau cùng một câu hỏi mà không cảm thấy xấu hổ. [Nguyễn
Thuần, Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào dạy Ngữ văn lớp 10P ở
trường THPT chuyên Lý Tự Trọng - Thành phố Cần Thơ, ĐH Cần Thơ, 2008,
tr20-21]
b. Tiến hành
b1. Hình thành nhóm
Khi hình thành nhóm, GV cần lưu ý cách chia nhóm và sự phát triển của các
nhóm
* GV cần lưu ý về cách chia nhóm:
+ Thành viên trong mỗi nhóm gồm các HS giỏi, khá, trung bình, yếu, có
cả HS nam và nữ.
+ Việc sử dụng loại nhóm nào tùy thuộc vào nội dung bài học, vào thời
lượng của tiết học.
+ Để bảo đảm thời gian của tiết học, GV phải xác định rõ lượt thời gian
cho mỗi lần thảo luận. Thời gian thảo luận ngắn thì số lượng HS trong nhóm
phải ít, nội dung bài tập đơn giản.
+ Mỗi thành viên trong nhóm phải được phân công nhiệm vụ rõ ràng và
phải cùng hợp tác để giải quyết nhiệm vụ chung của cả nhóm.
+ Không nên lạm dụng quá nhiều việc thảo luận nhóm mà chỉ nên cho HS
thảo luận những vấn đề phức tạp.
+ GV cần sắp xếp các thành viên khác nhau về tính cách và năng lực vào
nhóm cần có nhiệm vụ, vai trò rõ ràng. Sau mỗi lần hoạt động nhóm, các thành
viên cần thay đổi vị trí cho nhau, tránh tình trạng mỗi thành viên đóng một vai
trò trong thời gian quá lâu. Nhiệm vụ của các thành viên trong một nhóm có
thể bao gồm:
. Điều khiển nhóm có nhiệm vụ hướng dẫn các thành viên tham gia vào
hoạt động, giải thích rõ nhiệm vụ hoạt động của nhóm, tóm tắt, kiểm tra lại
xem mọi thành viên đã hiểu vấn đề chưa, thống nhất ý kiến của nhóm, giải
quyết các “mâu thuẫn” trong quá trình hoạt động nhóm. Với vai trò này, HS
cần có nhiều năng lực hơn, đặc biệt là năng lực quản lí, giám sát và hướng
dẫn bạn.
. Thư kí ghi chép mọi ý kiến, biên tập, tóm tắt các ý kiến.
. Người báo cáo thay mặt nhóm báo cáo kết quả.
. Khuyến khích động viên mọi thành viên tham gia, nhắc nhở những thành
viên “lắm lời” trong nhóm, bảo đảm trong quá trình trao đổi, mọi thành viên
phải có quyền và nghĩa vụ đóng góp vào bài học.
. Người theo dõi đánh giá sự tham gia của mọi thành viên.
. Phân bố thời gian theo dõi và thông báo thời gian cho hoạt động nhóm,
cùng các thành viên trong nhóm phân phối thời gian thích hợp cho từng vấn
đề, tránh hiện tượng “cháy thời gian”.
* GV lưu ý về quá trình làm việc, phát triển của một nhóm
Nó có thể chia ra 5 giai đoạn:
Giai đoạn hình thành.
- Giai đoạn này các thành viên nhóm bắt đầu tập hợp lại, nhóm có nhiều điểm
khác biệt nhau từ tính cách đến cách làm việc, kiến thức và kỹ năng.
- Tâm lý thường thấy là các thành viên còn rụt rè, và tìm kiếm những vị trí của
mình trong nhóm, chưa bộc lộ nhu cầu cũng như năng lực cá nhân
Giai đoạn hỗn loạn.
- Các thành viên trong nhóm làm việc đã bắt đầu hiểu rõ về nhau hơn.
b2. Giải thích mục tiêu và giao bài tập cho nhóm thảo luận
- GV giải thích để HS rõ về mục tiêu và nhiệm vụ học tập được giao. Trong
quá trình giải thích, GV cần lưu ý một số điểm dưới đây:
+ Giải thích mục tiêu và nhiệm vụ của bài học cần phải dựa trên những
kiến thức và thông tin HS đã được học, đã trải nghiệm trước đó.
+ Giải thích tiến trình cần tuân thủ, đưa ra các ví dụ giúp HS hiểu kiến
thức, kĩ năng phải học và thực hành để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
+ Giao nhiệm vụ sao cho HS hiểu rõ việc mình phải làm.
+ Cần có những câu hỏi phụ để kiểm tra xem HS đã hiểu nhiệm vụ được
giao chưa.
- Giao bài tập cho nhóm thảo luận:
Công việc này tưởng chừng như đơn giản nhưng nó đòi hỏi người GV cần
phải biết cách thực hiện để đảm bảo độ nhanh và tính chính xác. Đối với
những bài tập ngắn, GV đọc đi đọc lại 2 lần hoặc ghi lên bảng cho HS chép.
Đối với những bài tập dài, GV chuẩn bị trước ở bảng phụ hoặc photo phát cho
từng nhóm. Ngoài ra, GV cần nêu rõ các chuẩn mực cần đạt của bài tập nhóm
giúp HS xác định được đích cần đạt trước khi tiến hành thảo luận nhóm.
Các loại hình bài tập dành cho nhóm rấ t đa dạ ng. Có t hể ví dụ m ột
s ố lo ạ i bà i tậ p sa u :
+ Bài tập cho hoạt động trao đổi: Trong hoạt động trao đổi, mỗi nhóm
giải quyết một vấn đề khác nhau (nhưng cùng một chủ đề), sau đó trao đổi
vấn đề và cách giải quyết vấn đề của nhóm mình với các nhóm khác. Loại
hoạt động trao đổi thường được sử dụng cho những bài học có dung lượng
kiến thức lớn mà thời gian trên lớp lại hạn hẹp.
+ Bài tập cho hoạt động so sánh: Trong hoạt động so sánh, tất cả các
nhóm cùng giải quyết một vấn đề, sau đó so sánh cách giải quyết khác nhau
giữa các nhóm. Loại hoạt động so sánh thường dành cho những bài học có
dung lượng kiến thức không lớn.