1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
ĐẶNG THANH HỒNG
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CỦA
CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN KỸ NĂNG
Y KHOA ĐỐI VỚI SINH VIÊN Y KHOA,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ THỊ PHƯƠNG ANH
1.1.3. Đáp ứng chương trình huấn luyện kỹ năng y khoa 8
1.2. Sự phát triển và những nghiên cứu đánh giá về kỹ năng y khoa 8
1.2.1. Trong nước 8
1.2.2. Ngoài nước 15
1.2.3. Giả thuyết nghiên cứu 28
Chương 2 BỐI CẢNH ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Bối cảnh địa bàn nghiên cứu 30
2.1.1. Vài nét về Trường Đại học Y Dược Cần Thơ 30
2.1.2. Mô hình tổ chức của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ 31 ii
2.1.3. Quy mô đào tạo của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ 32
2.1.4. Công tác nghiên cứu, đánh giá đào tạo của Trường Đại học Y Dược
Cần Thơ 32
2.1.5. Khung lý thuyết của nghiên cứu 33
2.2. Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1. Câu hỏi nghiên cứu 35
2.2.2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 35
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.4. Phạm vi, thời gian khảo sát 36
2.2.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 37
2.2.6. Nội dung phiếu điều tra khảo sát (Phụ lục 6) 37
2.2.7. Phương pháp tiến hành nghiên cứu 38
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1. Khảo sát bộ câu hỏi theo mô hình RASCH 40
3.1.1. Khảo sát độ giá trị của bộ câu hỏi 40
3.1.2. Phân tích sự phân bố các item 41
3.1.3. Số liệu thống kê tổng quan 43
Phụ lục 4: Mối tương quan giữa mức độ năng lực học tập kỹ năng y khoa của
sinh viên theo năm học, KQHT, nguyện vọng nơi công tác với ngưỡng 75%
(56 điểm)
Phụ lục 5: Bộ câu hỏi điều tra
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chương trình huấn luyện kỹ năng y khoa trang bị cho
sinh viên (SV) các kỹ năng cơ bản: kỹ năng giao tiếp (KNGT),
kỹ năng thăm khám (KNTK), kỹ năng thủ thuật (KNTT) và kỹ
năng xét nghiệm (KNXN). Chương trình giảng dạy kỹ năng y
khoa của trường ĐHYDCT đã được thực hiện gần 13 năm, nội
dung giảng dạy cho SV có nhiều điều chỉnh, cập nhật nội dung.
Chương trình được các giảng viên trong trường đánh giá tốt và
phù hợp với mục đích tăng mức độ an toàn cho sinh viên trước
khi đi thực hành tại bệnh viện và cũng nhận được sự hài lòng
của các sinh viên. Tuy nhiên, hiện nay có một số ý kiến phản
ánh về công tác thực hành kỹ năng y khoa của SV về kỹ năng
thăm khám như: đo huyết áp, nghe tiếng tim, thao tác khám
bụng Do vậy, cần có một cách đánh giá tổng quan về chương
trình đào tạo kỹ năng y khoa về mức độ đáp ứng của chương
trình để hiệu quả giảng dạy sẽ được nâng cao hơn, chất lượng
đào tạo đáp ứng được tốt hơn trước nhu cầu xã hội.
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn của chất lượng giáo
dục và đào tạo trong lĩnh vực y khoa, tác giả chọn đề tài nghiên
cứu “Đánh giá mức độ đáp ứng của chương trình huấn luyện
kỹ năng y khoa đối với sinh viên y khoa, Trường Đại học Y
Dược Cần Thơ”
nghiên cứu cho thấy sinh viên thực hiện kỹ năng y khoa thường
có sự căng thẳng liên quan đến những thiếu sót của mình, họ lo
sợ phải đối mặt với thất bại hoặc với các lỗi sai sót khi làm
[10],[20],[11]; 4) Thực hiện được các kỹ thuật phức tạp trước
khi thực hành tại bệnh viện. Sinh viên tự tin hơn khi thực hiện
5
kỹ năng này một mình trong quá trình học [9]; 5) Chất lượng về
giao tiếp giữa bệnh nhân-bác sỹ được cải thiện. Kỹ năng giao
tiếp ngày càng trở nên hữu ích hơn, chuyên nghiệp hơn trong
việc chăm sóc sức khỏe [7]; 6) Các kỹ năng y khoa được huấn
luyện phải được hợp nhất đóng vai trò quan trọng nhất của
chương trình đào tạo kỹ năng y khoa.
Hiệu quả của chương trình huấn luyện kỹ năng y khoa
đối với sinh viên trong quá trình đào tạo [12]: (1) Xây dựng mối
quan hệ thân thiết giữa bệnh nhân và thầy thuốc thông qua các
kỹ năng giao tiếp chuyên nghiệp trong việc thu thập thông tin
và cho các lời khuyên với bệnh nhân; (2) Thực hiện sự tổng hợp
và hệ thống từ việc hỏi tiền sử đến bệnh lý của người bệnh theo
từng hệ thống khác nhau của con người; (3) Xây dựng kỹ năng
thăm khám tất cả các cơ quan, hệ thống trên cơ thể bằng việc sử
dụng các kỹ thuật và phương pháp chuẩn; (4) Đánh giá được
chức năng và cấu trúc bình thường cơ thể để từ đó nhận biết
được các trường hợp bệnh lý; (5) Phân tích các triệu chứng và
thực hiện các kỹ năng thăm khám, tổng hợp các giả thiết chẩn
đoán liên quan đến bệnh để có thể xác định và tìm hiểu nguyên
nhân gây bệnh; (6) Trình bày được quy trình chẩn đoán và điều
trị với đồng nghiệp và có thể thực hiện được trường hợp cấp
cứu bệnh nhân trong bất kỳ điều kiện nào.
Các kiến thức về lý thuyết và kỹ năng lâm sàng là hai
tiêu học tập cho SV y khoa [
16]. Có các kỹ năng đối với GV
được cho là quan trọng, nhưng đối với bác sỹ khi thực hành thì
có thể không hoặc hiếm khi vận dụng kỹ năng đó [15]. Trong
đánh giá về chương trình đào tạo, cần phải có sự khảo sát tình
trạng việc làm và đi học tiếp sau khi tốt nghiệp, mức độ nhà
tuyển dụng hài lòng với các phẩm chất của SV tốt nghiệp để
7
đánh giá chất lượng của chương trình đào tạo [1],[4]. Đồng
thời, cần lấy lấy ý kiến đóng góp của nhà tuyển dụng trong quá
trình xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo
[2],[5]. Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu đánh giá chương
trình HLKNYK, chưa có đề tài đánh giá mức độ đáp ứng
chương trình HLKNYK. Các tác giả có các công trình nghiên
cứu điển hình như: Đoàn Thị Tuyết Ngân (2005), Lưu Ngọc
hoạt và Đỗ Văn Dũng (2007, 2008).
1.1.3. Giả thuyết nghiên cứu
1. Giả thuyết H1: Có sự đáp ứng chương trình huấn
luyện kỹ năng y khoa đối với sinh viên năm thứ năm và năm
thứ sáu.
2. Giả thuyết H2: Có sự liên quan thuận giữa cảm nhận
của SV và năng lực học tập kỹ năng y khoa của sinh viên: SV
có cảm nhận tốt cũng là những SV sẽ có năng lực học tập kỹ
năng y khoa tốt và ngược lại.
3. Giả thuyết H3: Các yếu tố: năm học, KQHT, nguyện
vọng nơi công tác ảnh hưởng đến năng lực học tập kỹ năng đối
với sự đáp ứng chương trình huấn luyện kỹ năng y khoa của
sinh viên; và các yếu tố năm học, KQHT, nguyện vọng nơi
công tác có ảnh hưởng đến cảm nhận của sinh viên.
Kỹ năng là khả năng làm thuần thục được một việc gì đó.
Kỹ năng thường là đạt được hoặc học được trong cuộc sống,
không mang tính bẩm sinh. Kỹ năng y khoa là kỹ năng đặc thù
của ngành khoa học sức khỏe, được đĩnh nghĩa là những kỹ
năng được dạy và học trên các dấu hiệu thực tế từ giường bệnh
của bệnh nhân.
Đáp ứng là sự đáp lại theo đúng như đòi hỏi, yêu cầu
9
[3]. Theo từ điển Lạc Việt: Đáp ứng là thỏa mãn sự đòi hỏi,
yêu cầu [6]. Đáp ứng với chương trình HLKNYK được hiểu là
sự đáp lại những đòi hỏi, yêu cầu đặc thù của chuyên môn trong
lĩnh vực y tế, được thể hiện qua việc hoàn thành bài kiểm tra về
năng lực học tập kỹ năng y khoa.
Chương 2: BỐI CẢNH ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1. Vài nét về Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Trường ĐHYDCT được thành lập theo Quyết định số
184/2002/TT-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2002 trên cơ sở khoa
Y-Nha-Dược thuộc Đại học Cần Thơ.
2.2. Mô hình tổ chức Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Trường hiện có 6 khoa, 1 đơn vị trực thuộc và 2 Trung tâm,
bao gồm: Khoa Y, Khoa Răng Hàm Mặt, Khoa Dược, Khoa Y
Tế Công Cộng, Khoa khoa học Cơ bản, Khoa Điều dưỡng và kỹ
thuật y học, Đơn vị huấn luyện kỹ năng, Trung tâm Khảo thí,
Trung tâm Công nghệ thông tin. Tổng số cán bộ giảng dạy của
trường có hơn 400 cán bộ với hơn 4000 SV đang theo học.
2.3. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi thứ nhất: Năng lực thực hiện kỹ năng y khoa
của sinh viên như thế nào?
Năng lực của SV đối với KNTK; 3) Năng lực của SV đối với
KNTT; 4) Năng lực của SV đối với KNXN.
Do vậy, trong các câu hỏi về năng lực thực hành kỹ
năng của SV, tác giả xây dựng các câu hỏi bao hàm luôn cả bốn
nhóm kỹ năng trên. Tác giả quy định các câu hỏi về thể hiện
năng lực của từng loại kỹ năng y khoa trong phiếu điều tra gồm
11
các nhóm câu hỏi như sau: 1) Nhóm câu hỏi đánh giá năng lực
về KNGT: 5, 6, 7, 8, 9, 10, 20, 21, 22, 23; 2) Nhóm câu hỏi
đánh giá năng lực về KNTK: 11, 12, 13, 14; 3) Nhóm câu hỏi
đánh giá năng lực về KNTT: 15, 16, 17; 4) Nhóm câu hỏi đánh
giá năng lực về KNXN: 18, 19. Mức độ đáp ứng của chương
trình HLKNYK được đánh giá dựa trên năng lực học tập của
sinh viên, kết quả được trình bày trong bảng 3.2.
Do chưa có đề tài đánh giá mức độ đáp ứng chương
trình huấn luyện kỹ năng y khoa nào trước khi tác giả thực hiện
đề tài này, do đó không có chỉ số về mức độ năng lực của sinh
viên với chương trình HLKNYK để tác giả tiến hành đánh giá,
so sánh với mức độ năng lực của sinh viên với chương trình
HLKNYK trong nghiên cứu. Do đó, tác giả xác định chỉ số ước
lượng mức độ năng lực của sinh viên với chương trình
HLKNYK dựa trên tổng điểm trả lời của sinh viên bằng cách
chọn mức độ năng lực của sinh viên là 75% việc hoàn thành
mức độ cao của 19 câu hỏi (tương đương với tổng điểm đạt
được là (18x4 + 1x3) x 75%= 56 điểm) và thực hiện bằng kiểm
định T một mẫu. Mức độ đáp ứng của chương trình HLKNYK
được đánh giá dựa trên năng lực học tập của sinh viên, kết quả
được trình bày trong bảng 3.2.
Bảng 3.2. Bảng biểu hiện mức độ năng lực của sinh viên đối với
Trong bảng 3.2 đánh giá mức độ đáp ứng của chương
trình HLKNYK đối với từng nhóm sinh viên Y5 và Y6. Cả hai
nhóm đều có giá trị p<0.001 khẳng định sự đáp ứng của từng
đối tượng SV Y5, SV Y6 với chương trình HLKNYK có ý
nghĩa thống kê. Kiểm định Anova cho giá trị p=0.031<0.05
khẳng định sự ảnh hưởng của từng yếu tố SV Y5 và Y6 có sự
khác biệt nhau và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.3. Bảng mức độ đáp ứng sinh viên với năng lực học tập kỹ
năng y khoa
Yếu tố
Năng lực học tập kỹ năng y khoa
p
Đáp ứng thấp
Đáp ứng cao
SV Y5
30 (13.4%)
194 (86.6%)
0.978
SV Y6
31 (13.3%)
202 (86.7%)
Toàn bộ
61 (13.3%)
396 (86.7%)
Theo kết quả trình bày trong bảng 3.3, sự đáp ứng cao năng lực
học tập kỹ năng y khoa của SV Y5 và Y6 đều ở mức 86.6-
86.7%, khẳng định SV Y5 và Y6 đều có đáp ứng cao với năng
lực học tập kỹ năng y khoa. Xét p=0.978>0.05, nên không có sự
13
<0.001
75.89±7.90
MD=1.89>1 với ngưỡng giá trị so sánh là 74, cho thấy có sự
cảm nhận tốt của sinh viên đối với năng lực học tập kỹ năng y
khoa. Nhận thấy p<0.001, cho thấy mức độ cảm nhận của SV ở
mức độ tốt có ý nghĩa thống kê. P
Y5
=0.021<0.05 và P
Y6
<0.001
nên cả hai đối tượng Y5 và Y6 đều có mức độ cảm nhận tốt về
kỹ năng y khoa và mức độ cảm nhận này có ý nghĩa thống kê.
Kiểm định Anova, giá trị p=0.085>0.05, kết luận không có sự
khác biệt giữa SV Y5 và Y6 về mức độ cảm nhận.
Bảng 3.5. Bảng mức độ cảm nhận sinh viên theo năm học
14
Yếu tố
Cảm nhận của sinh viên
p
Không tốt
Tốt
SV Y5
85 (37.4%)
142 (62.6%)
0.505
SV Y6
81 (34.5%)
154 (65.5%)
Mối liên quan giữa sự cảm nhận của SV và năng lực học
tập kỹ năng y khoa ở ngưỡng 75% của cả hai biến camnhan1 và
nangluca. Dựa trên sự phân chia thành hai biến camnhan1 và
nangluca, ta thấy SV có cảm nhận tốt hay không tốt đều cho
mức độ đáp ứng cao khoảng 84.8% đến 87.7% về năng lực học
tập kỹ năng y khoa. Giá trị p=0.373>0.05, khẳng định không có
sự khác biệt về mức độ cảm nhận của SV với mức độ đáp ứng
của năng lực học tập kỹ năng y khoa. Kết luận sự đáp ứng về
15
năng lực học tập kỹ năng y khoa không bị ảnh hưởng bởi cảm
nhận của SV.
3.2.2. Mối liên hệ giữa cảm nhận của sinh viên và kết quả
học tập
Bảng 3.7. Bảng mức độ cảm nhận sinh viên theo kết quả học tập
Yếu tố
Cảm nhận của sinh viên
p
Không tốt
Tốt
Khá-Giỏi
111 (34.2%)
214 (65.8%)
0.220
TB-Yếu
55 (40.1%)
82 (59.9%)
Toàn bộ
166 (35.9%)
16
p=0.005<0.05, khẳng định có sự khác nhau của SV tuyến tỉnh
và tuyến huyện về mức độ cảm nhận và có ý nghĩa thống kê.
3.3. Đánh giá mối liên hệ giữa năng lực học tập kỹ năng y
khoa và kết quả học tập của sinh viên
Bảng 3.9. Mối liên hệ năng lực học tập và kết quả học tập kỹ năng
Yếu tố
Năng lực học tập kỹ năng y khoa
p
Đáp ứng thấp
Đáp ứng cao
Khá-Giỏi
31 (9.7%)
290 (90.3%)
<0.001
TB-Yếu
30 (22.1%)
106 (77.9%)
Toàn bộ
61 (13.3%)
396 (86.7%) Nhận thấy SV thuộc nhóm “Khá-Giỏi” cho tỷ lệ đáp
ứng cao về năng lực học tập kỹ năng y khoa rất cao 90.3%, SV
thuộc nhóm “TB-Yếu” có tỷ lệ đáp ứng cao là 77.9%, khẳng
định có sự đáp ứng năng lực học tập kỹ năng y khoa ở mức cao.
Đồng thời, giá trị p<0.001 khẳng định có sự khác biệt giữa hai
nhóm có KQHT “Khá-Giỏi” và nhóm “TB-Yếu”, sự khác biệt
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Về kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 462 SV Y5 và Y6 của
trường Đại học Y Dược Cần Thơ (đạt 99.3% phiếu thu) thực
hiện trả lời 41 câu hỏi, trong đó có 19 câu hỏi về năng lực học
tập kỹ năng y khoa để đánh giá mức độ đáp ứng chương trình
huấn luyện kỹ năng y khoa và 22 câu hỏi còn lại để đánh giá
cảm nhận của sinh viên. Độ tin cậy của bộ câu hỏi được tính
bằng Quest cho giá trị là 0.76 (thuộc khoảng 0.7-1.0) đạt giá trị
độ tin cậy để tiến hành đánh giá mức độ đáp ứng của chương
trình HLKNYK và mối tương quan cũng như các yếu tố ảnh
hưởng đến mức độ đáp ứng này.
Kết quả nghiên cứu của luận văn bác bỏ giả thuyết H1:
Có sự đáp ứng thấp chương trình huấn luyện kỹ năng y khoa
đối với sinh viên y khoa. Với p<0.001 (Kiểm định T một mẫu),
khẳng định có sự đáp ứng cao của chương trình HLKNYK đối
với SV với mức ý nghĩa 99.9% và sự đáp ứng này có ý nghĩa
thống kê. Tại ngưỡng mong đợi 75%, từng đối tượng SV Y5
(p<0.001)và Y6 (p<0.001) nên mỗi đối tượng đều có sự đáp
18
ứng cao với chương trình HLKNYK, sự đáp ứng của từng đối
tượng là khác nhau và có ý nghĩa thống kê (p=0.031).
Nghiên cứu của luận văn bác bỏ giả thuyết H2: Sự cảm
nhận của sinh viên y khoa với chương trình huấn luyện kỹ năng
y khoa ở mức độ thấp. Với p<0.001 (Kiểm định T một mẫu),
khẳng định có sự cảm nhận tốt của sinh viên đối với năng lực
học tập kỹ năng y khoa với mức ý nghĩa 99.9% và sự cảm nhận
này có ý nghĩa thống kê. Tại ngưỡng mong đợi 75%, từng đối
năng lực học tập kỹ năng y khoa ở mức 86.6-86.7%, giá trị
p=0.978>0.05 nên không có sự khác biệt về sự đáp ứng của SV
về năng lực học tập kỹ năng y khoa. Kết luận sự đáp ứng của
SV Y5 và Y6 về năng lực học tập kỹ năng y khoa ở mức cao và
giống nhau giữa hai nhóm.
+ Yếu tố KQHT: SV thuộc nhóm “Khá-Giỏi” cho tỷ lệ
đáp ứng cao về năng lực học tập kỹ năng y khoa rất cao 90.3%,
SV thuộc nhóm “TB-Yếu” cho tỷ lệ đáp ứng cao là 77.9%, giá
trị p<0.001 khẳng định có sự khác biệt giữa hai nhóm có KQHT
“Khá-Giỏi” và nhóm “TB-Yếu”, sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê
+ Yếu tố nơi công tác sau tốt nghiệp: SV lựa chọn nơi công tác
tại “tuyến tỉnh” sau khi tốt nghiệp cho tỷ lệ đáp ứng cao năng
lực học tập kỹ năng y khoa là 87.4%, SV lựa chọn nơi công tác
tại “tuyến huyện” sau khi tốt nghiệp cho tỷ lệ đáp ứng cao năng
lực học tập kỹ năng y khoa là 82.9%, giá trị p=0.291 khẳng định
sự khác biệt giữa hai nhóm dự định nơi công tác tại “tuyến tỉnh”
và “tuyến huyện” không có ý nghĩa thống kê.
20
2. Kiến nghị
*. Đối với Bộ chủ quản (Bộ y tế):
1. Bộ Y tế nên ban hành các chuẩn về kỹ năng y khoa
đối với SV trước khi đi thực hành tại bệnh viện và thống nhất
tại các trường y trong cả nước, các kỹ năng tối thiểu và mức độ
đạt được.
2. Các trường đại học y nên hoàn thiện và chuẩn hóa
chương trình HLKNYK trong cả nước, được thẩm định về nội
dung, phương pháp giảng dạy và chuẩn đánh giá kết thúc môn
học.
ứng về kỹ năng chưa cao, GV cần tiếp xúc, gần gũi, trao đổi
trực tiếp với SV một các cởi mở nhằm tạo cho SV tính chủ
động, hứng thú, tự tin hơn trong việc học và vận dụng kỹ năng
y khoa.
2. SV phải được tự mình kiểm tra KQHT của từng năm
hoặc từng thời điểm; phải được biết kết quả thi kỹ năng của
mình một cách chi tiết, những điểm mình còn thiếu sót, điểm
chưa đạt, mức độ yêu cầu của kỹ năng cần phải đạt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt:
1 Trần Khánh Đức (2004), Quản lý và kiểm định chất
lượng đào tạo nhân lực theo ISO và TQM. NXB Giáo dục, Hà
Nội.
2 Lê Đức Ngọc (2001), "Đổi mới tư duy để phát triển
giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng
cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá". Báo cáo tại
Hội thảo Nâng cao chất lượng đào tạo, Đà Lạt.
3 Soha Tra từ. (2009). http://tratu.vn/dict/vn_vn. Công ty
cổ phần Truyền thông Việt Nam, from
22
http://tratu.vn/dict/vn_vn/%C4%90%C3%A1p_%E1%BB%A9
ng
4 Phạm Xuân Thanh (2005), Giáo dục đại học: Chất
lượng và đánh giá. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5 Lâm Quang Thiệp (2000), "Về cách các tiếp cận để
thiết lập một hệ thống đảm bảo chất lượng ở Việt Nam". Báo
cáo tại Hội thảo Đảm bảo chất lượng đào tạo ở Việt Nam, Đà
Lạt.
14 Lamberts h, H, B., (eds)., W. H. J. (1987), "Reason for
Encounter-, Episode- and Process-Oriented Standard Output
from the Transition Project. Department of General Practice,
University of Amsterdam, Amsterdam.".
15 Luu Ngoc Hoat, Do Van Dung, and E Pamela Wright
(2007), "Practicing doctors' perceptions on new learning
objectives for Vietnamese medical schools". BMC Medical
Education, 7(19), 1-12.
16 Luu Ngoc Hoat, Nguyen Minh Son, and E Pamela
Wright (2008), "Perceptions of graduating students from eight
medical schools in Vietnam on acquisition of key skills
identified by teachers". BMC Medical Education, 8(5), 1-10.
17 Monica McParland, Lorraine M Noble, Gill Livingston,
McManus., C. (2003), "The effect of a psychiatric attachment
on students’ attitudes to and intention to pursue psychiatry as a
career". Medical Education, 37, 447-454.
18 Patrick J (1992), "Training: Research and Practice".
Academic Press, London, 19-71.
19 Paul Bradley, John Bligh (2005), "Clinical skills
centres: where are we going?". MEDICAL EDUCATION, 39,
649–650.
20 Philip Woodrow (1994), "Mentorship: perceptions and
pitfalls for nursing practice". Journal of Advanced Nursing, 19,
812-818.
21 Walter Mischel (1968), Personality and Assessment.
New York: John Wiley & Son, Inc.