ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN VỐN (CAR) CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM - Pdf 11

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

BÀI TIỂU LUẬN
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN
VỐN (CAR) CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI
VIỆT NAM

GV: Th. Nguyễn Thị Hai Hằng
Lớp: K09404A
Nhóm 1:
1. Võ Thị Như K094040583
2. Lê Thị Quy K094040593
3. Nguyễn Thị Tươi K094040633
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 4 năm 2013
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 3
1. Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam 3
2. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hiện nay (bối cảnh tái cơ cấu kinh tế) 3
CHƢƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ƢỚC BASEL VÀ VIỆT NAM VỀ AN
TOÀN VỐN (CAR) 8
1. Các quy định của hiệp ước Basel về an toàn vốn (CAR) 8
1.1. Quá trình ra đời của hiệp ước Basel 8
1.2. Những đặc điểm của hiệp ước Basel 9
2. Các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về an toàn vốn 18
2.1. Những tiến bộ so với Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN 18
2.2. Những điểm tích cực trong Thông tư 13 và các thông tư sửa đổi liên quan 19
2.3. Một vài bất cập 21
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN
VỐN CỦA CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM 26

Hệ thống ngân hàng được coi là “huyết mạch” của nền kinh tế, đóng vai trò quan
trọng nhất trong hệ thống trung gian tài chính. Bởi vậy, hoạt động ngân hàng cần phải
luôn thông suốt, hiệu quả và an toàn để duy trì sự vận hành trôi chảy các hoạt động trong
nền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.
Quy mô vốn tự có là một trong nhưng tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ an
toàn trong hoạt động dinh doanh ngân hàng theo thông lệ quốc tế. Tại Việt Nam, sự tăng
trưởng vốn của ngân hàng luôn được sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản trị ngân hàng
trong các mục tiêu, chiến lược, kế hoạch thực hiện. Các tổ chức như Cơ quan thanh tra
giám sát Ngân hàng, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cũng như Bảo hiểm tiền gửi Việt
Nam luôn đưa ra nhiều cơ chế, chính sách đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng,
trong đó nhấn mạnh việc tăng vốn tự có để đảm bảo an toàn hệ thống tài chính. Đối với tỷ
lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), quy định cụ thể liên quan đến quyết định đầu tiên là
Quyết định 297/1999/QĐ-NHNN5 quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động
của Ngân hàng thương mại (NHTM). Tại quy định này, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được
xác định là 8% nhưng phương pháp tính đơn giản và chưa phản ánh chính xác tinh thần
Basel I. Đến năm 2005, NHNN đã ban hành Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN với tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8% nhưng phương pháp tính toán đã tiếp cận tương đối toàn
diện Basel I. Năm 2010, NHNN ban hành Thông tư số 13/TT-NHNN thay thế Quyết định
457/2005/QĐ-NHNN, nâng tỷ lệ an toàn tối thiểu lên 9% và phương pháp tính toán đã
từng bước tiếp cận Basel II. Như vậy, quản lý nhà nước đối với mức độ đủ vốn của các
NHTM luôn hướng theo chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, thực trạng việc quản lý an toàn
vốn xét cả góc độ cơ quan quản lý vĩ mô cũng như từ góc độ quản trị công ty của các
NHTM đã cho thấy nhiều tồn tại cần giải quyết để đảm bảo một hệ thống ngân hàng an
toàn và lành mạnh.
Bài tiểu luận này hướng tới giải quyết 3 vấn đề chính: một là, giới thiệu sơ qua về
quy định mức an toàn vốn tối thiểu của hiệp ước Basel và của NHNN Việt Nam; hai là,
đánh giá mức độ đáp ứng quy định về an toàn vốn tối thiểu của các NHTM tại Việt Nam
2

theo từng giai đoạn; cuối cùng là đưa ra giải pháp nhằm áp dụng tốt quy định về an toàn

phi ngân hàng và các tổ chức khác. Điều này hàm ý, tổng tài sản đã bị tăng ảo mạnh và
quy mô bảng tổng kết tài sản thường bị “thổi phồng”.
- Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của hệ thống diễn biến theo chiều hướng xấu đi,
khi mà hoạt động lõi của các ngân hàng - huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức
kinh tế và dân cư để cho vay ra nền kinh tế, ngày càng chiếm tỷ trọng giảm dần tương
ứng so tổng nguồn vốn và tổng tài sản. Nguồn vốn của nhiều TCTD giờ đây phụ thuộc
4

nặng nề hơn vào thị trường liên ngân hàng và các nguồn vay mượn khác (từ nước ngoài,
từ NHNN,…). Hệ số đòn bẩy tài chính gia tăng những năm gần đây cũng chỉ ra quy mô
vốn chủ sở hữu đang giảm sút tương đối so tổng tài sản. Bên vế sử dụng vốn, tỷ trọng đầu
tư vốn trên thị trường, đầu tư giấy tờ có giá, góp vốn, mua cổ phần cũng tăng đáng kể qua
các năm. Điều này đưa đến câu hỏi: phải chăng các NHTM Việt Nam đang sao nhãng
dần bản chất “thương mại” vốn có của nó? liệu có cần các quy định nhằm tách bạch giữa
hai hoạt động ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư, khi mà trình độ quản lý của
các cơ quan điều tiết và giám sát thường không theo kịp thị trường?
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng thường rất cao trong những năm trước đây, đã suy
giảm mạnh trong các năm 2010 và 2011(Từ mức 40% năm 2009, xuống 29% năm 2010
và còn 13% năm 2011, rồi -2.1% cuối Quý I-2012) và thậm chí chuyển sang âm trong
suốt 5 tháng đầu năm 2012, đi kèm theo là tỷ lệ nợ xấu gia tăng nhanh, đạt mức 10% theo
công bố của Thống đốc tại kỳ họp 3 Quốc hội khóa XIII. Tốc độ tăng trưởng tín dụng còn
có thể thấp hơn nữa nếu loại bỏ hư số do hiện tượng tiền ảo hay do nhiều ngân hàng cố ý
“làm đẹp” số liệu kế toán cuối các năm tài chính gần đây. Đồng thời, con số tăng trưởng
này cũng có thể sẽ tăng lên đáng kể khi hiện tượng các TCTD “lách” hạn mức tín dụng
phi sản suất hoặc “che đậy” tài sản kém chất lượng bằng cách biến tướng các khoản thực
chất là cho vay thành đầu tư vào chứng khoán nợ của các tổ chức kinh tế, hay dưới dạng
ủy thác đầu tư, phải thu khác, đặt cọc, ký quỹ,… Nợ xấu ngày càng đáng quan ngại
không chỉ ở quy mô gia tăng nhanh, mà còn ở việc nợ nghi ngờ và nợ có nguy cơ mất vốn
chiếm tỷ trọng cao. Nợ cần chú ý cũng chiếm tỷ trọng lớn, tuy chưa phải tính vào nợ xấu,
nhưng rõ ràng ẩn chứa nguy cơ nhanh chóng trở thành nợ xấu nếu tình hình kinh tế tiếp

- Chất lượng tài sản suy giảm nhanh nhưng mức trích lập dự phòng rủi ro
(DPRR) đạt thấp. Theo các số liệu báo cáo, số dư quỹ DPRR tín dụng đều thấp so với
tổng nợ xấu theo sổ sách. Điều này hàm ý mức độ an toàn hoạt động của hệ thống ngân
hàng sẽ bị đe dọa khi rủi ro diễn ra.
- Các tỷ lệ an toàn hoạt động theo quy định thực chất không bảo đảm. Tình trạng
cho vay quá mức dẫn đến hệ số sử dụng vốn (tỷ lệ cho vay trên huy động) của các TCTD
rất cao và vượt mức an toàn. Toàn hệ thống luôn trong trạng thái mất cân đối nghiêm
6

trọng cả về kỳ hạn lẫn đồng tiền giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Các tỷ lệ an toàn chi trả
đạt mức thấp và hệ số an toàn vốn (CAR) thực chất cũng ở mức dưới thông lệ và cả so
với yêu cầu (một số TCTD thậm chí có CAR ≤ 0 tức, xét về mặt kỹ thuật, đã mất khả
năng thanh toán/phá sản nhưng vẫn tạo vỏ bọc bên ngoài là chỉ bị khó khăn về thanh
khoản.
- Kết quả kinh doanh không thực chất; lợi nhuận ngành ngân hàng có khả năng
sẽ suy giảm nhanh trong thời gian tới. Cơ cấu thu nhập của hệ thống TCTD chỉ ra, lãi
của hầu hết các ngân hàng chủ yếu đến từ hoạt động tín dụng. Thế nhưng, trong bối cảnh
nợ xấu gia tăng và tín dụng tăng trưởng âm thì nhiều ngân hàng chắc chắn sẽ phải đối
mặt với nguy cơ thua lỗ. Đó là chưa kể, nếu thực hiện phân loại nợ và trích lập DPRR
đúng, đủ và/hoặc tuân thủ thông lệ quốc tế, đồng thời hạch toán theo chuẩn mực kế toán
quốc tế, thì hiệu quả kinh doanh của các TCTD Việt Nam còn thấp hơn nữa.
Những phân tích, đánh giá, nhận định trên đây cho thấy, hầu hết các TCTD hiện
đang hoạt động kém an toàn, kém lành mạnh hơn và nguy cơ đổ vỡ hệ thống sẽ hiện hữu
nếu bối cảnh kinh tế vĩ mô diễn biến xấu bởi sẽ làm trầm trọng thêm các yếu kém, dễ bị
tổn thương tích tụ qua nhiều năm của ngành ngân hàng. Nợ xấu ngân hàng gia tăng nhanh
thực sự là điều đáng lo ngại. Chính vì vậy, cần phải khẩn trương tiến hành tái cơ cấu hệ
thống các TCTD trong bối cảnh tái cơ cấu chung của nền kinh tế.
Có thể nói, những yếu kém hiện nay của một bộ phận các TCTD nếu không
được xử lý kịp thời có thể tác động bất lợi đến ổn định kinh tế vĩ mô và hệ thống tài
chính quốc gia. Một hệ thống ngân hàng yếu kém sẽ không thể huy động và phân bổ một

của nó nên cộng đồng các tổ chức tài chính, ngân hàng của hơn 100 nước khác cùng
hưởng ứng. Để phù hợp với những thay đổi lớn của thị trường, Basel đã được cải tiến và
sửa đổi lần thứ hai (Basel II) vào năm 2001 và có hiệu lực vào năm 2006. Ủy ban Basel
bao gồm Thống đốc Ngân hàng Trung ương của nhóm G10 và một số nước có hệ thồng
ngân hàng lớn mạnh hàng đầu thế giới bao gồm Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Itaia, Nhật,
Luxembua, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ đã kí Hiệp ước Basel (Basel
Accord), một cơ quan gọi là Hội đồng Basel về giám sát ngân hàng quốc tế cũng đã được
chính thức thành lập để theo dõi và chỉ đạo việc thực thi Hiệp ước. Ngoài ra, hệ thống
ngân hàng của nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đã biểu thị đồng thuận tham gia
tuân thủ Hiệp ước.
Ủy ban Basel tổ chức họp thường niên tại trụ sở Ngân hàng thanh toán quốc tế
(BIS) tại Washington hoặc tại Thành phố Basel (còn gọi la Basle) – Thụy Sĩ. Ban thư kí
thường trực của Ủy ban này cũng có trụ sở làm việc tại Washington DC – Mỹ.
9

Quan điểm của Ủy ban Basel là sự yếu kém trong hê thống Ngân hàng của một quốc gia
dù là phát triển hay đang phát triển, đều có thể đe dọa không chỉ đến sự ổn định về tài
chính của quốc gia đó mà còn cả trên phạm vi toàn thế giới. Ủy ban Basel thường xuyên
tổ chức các cuộc thảo luận về vấn đề xoay quanh sự hợp tác quốc tế để giảm bớt khoảng
cách trong công tác giám sát ngân hàng, nâng cao chất lượng công tác giám sát hoạt động
ngân hàng trên toàn thế giới. Để làm được điều này, Ủy ban Basel đã cố gắng tìm hiểu và
thực hiện được 3 điều cơ bản:
1.
Trao đổi thông tin về hoạt động giám sát cấp quốc gia.

2. Cải thiện hiệu quả kỹ thuật giám sát hoạt động ngân hàng quốc tế.
3. Đặt ra những tiêu chuẩn giám sát tối thiểu trong những lĩnh vực ma Ủy ban
thực sự quan tâm.
1.2. Những đặc điểm của hiệp ƣớc Basel
1.2.1. Basel I

(Tài sản ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro)
Từ ngày 1/10/2010 theo thông tư 13/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của NHNN thì tỉ
lệ CAR này sẽ được điều chỉnh từ 8% lên 9%. Ngoài ra, hiệp ước Basel I còn xác định
các hệ số rủi ro trong các loại rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động.

Hạn chế:

Thứ nhất, việc phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản cho vay. Hệ số rủi ro
chưa chi tiết cho rủi ro theo đối tác (ví dụ như khả năng tài chính của khách hàng)
hoặc theo đặc điểm của khoản tín dụng (ví dụ như theo thời hạn). Điều này chỉ ra rằng có
thể các ngân hàng có cùng tỷ lệ an toàn vốn nhưng có thể đối mặt với các loại rủi ro khác
nhau, ở mức độ khác nhau.
Thứ hai, Basel I chưa tính đến lợi ích của đa dạng hóa hoạt động. Các lí thuyết
về
đầu tư chỉ ra rủi ro sẽ giảm thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư. Theo Basel I, quy
định về vốn tối thiểu không khác biệt giữa một ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa
dạng (ít rủi ro hơn) và một ngân hàng kinh doanh tập trung (nhiều rủi ro hơn).
Thứ ba, Basel I chỉ đề cập đến những rủi ro về tín dụng chứ chưa đề cập đến
các rủi ro khác như rủi ro quốc gia, rủi ro ngoại tệ, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động,
Thứ tƣ, một số quy tắc do Basel I đưa ra chỉ có thể vận dụng trong trường hợp
ngân hàng hoạt động theo kiểu ngân hàng đơn, không dựa trên một sự sáp nhập hay hoạt
động theo kiểu tập đoàn ngân hàng, ngân hàng mẹ, ngân hàng – chi nhánh,
11

Thứ năm, một số quy định trong Basel I đã không còn phù hợp khi các ngân

hàng dần dần sáp nhập với nhau để tạo thành những tập đoàn lớn có khả năng cạnh tranh
cao và có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, các ngân hàng không còn chỉ hoạt động
trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà luôn vươn ra tầm quốc tế.
1.2.2. Basel II

không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập
tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu.
 Nguyên tắc thứ ba: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích
đáng theo nguyên tắc thị trường (Cột trụ 3). Với cột trụ này, Basel II đưa ra một danh
sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ
cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của
ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro tác nghiệp và quy trình đánh giá
của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này.
Như vậy, với quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này
đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách
minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ
giảm thiểu được rủi ro.
Bảng 2.1: Trọng số rủi ro theo loại tài sản

Trọng số rủi ro
Phân loại tài sản
0%
Tiền mặt và vàng nằm trong ngân hàng.
Các nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và Bộ Tài chính.
20%
Các khoản trả nợ của ngân hàng có quy mô lớn
Chứng khoán phát hành bởi các cơ quan Nhà nước
50%
Các khoản vay thế chấp nhà ở,…
13

100%
Tất cả các khoản vay khác như trái phiếu của doanh
nghiệp, các khoản nợ từ các nước kém phát triển, các
khoản vay thế cấp cổ phiếu, bất động sản,…

- Việc kiểm soát và hạn chế rủi ro hệ thống vẫn còn những điểm chưa chặt chẽ.
- Basel II thiếu các quy định về thanh khoản toàn cầu.
 Basel II bị cáo buộc là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn
tại Hoa Kỳ, từ đó lan rộng thành khủng hoảng tài chính toàn cầu.
1.2.3. Basel III
Hiệp ước Basel III được phát triển để đối phó với những thiếu sót trong các qui
định về tài chính bị bộc lộ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Basel III tăng cường
yêu cầu về vốn của ngân hàng và giới thiệu các yêu cầu mới quy định về tính thanh
khoản ngân hàng và đòn bẩy ngân hàng. Tổ chức OECD ước tính rằng việc thực hiện
Basel III sẽ giảm tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm khoảng 0,05%-0,15%
Để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính gần đây, Ủy ban Basel về Giám sát
Ngân hàng (BCBS) đã đưa ra các điều chỉnh trong hướng dẫn đối với các quy định về
vốn và hoạt động các ngân hàng như sau:
 Basel III trình bày các kiến nghị của Ủy ban Basel để tăng cường vốn toàn cầu và
các quy định về tính thanh khoản với mục tiêu thúc đẩy khu vực ngân hàng trở nên linh
hoạt hơn. Mục tiêu gói cải cách của Ủy ban Basel là nhằm cải thiện khả năng của
lĩnh vực ngân hàng để hấp thụ những cú sốc phát sinh từ sự căng thẳng tài chính và
kinh tế, bất kể nguồn gốc, do đó giảm nguy cơ khủng hoàng tràn từ khu vực tài chính
cho các nền kinh tế hiện tại.
 Basel III với nhiều đề xuất mới về vốn, đòn bẩy và các tiêu chuẩn về tính thanh
khoản để củng cố các quy định, giám sát và quản lý rủi ro của ngành ngân hàng. Các tiêu
chuẩn vốn và các vùng đệm vốn mới sẽ đòi hỏi các ngân hàng giữ vốn nhiều hơn và chất
lượng cao hơn so với mức vốn theo quy định hiện hành Basel II. Các đòn bẩy mới và tỷ
lệ tính thanh khoản giới thiệu một biện pháp phi rủi ro nhằm bổ sung các yêu cầu về vốn
15

tối thiểu dựa trên rủi ro và các biện pháp để đảm bảo đủ kinh phí được duy trì trong
trường hợp xảy ra khủng hoảng.
 Tóm tắt các thay đổi đƣợc đề xuất trong Basel III
- Chất lượng, tính nhất quán, và tính minh bạch của nguồn vốn cơ sở sẽ được

ngân hàng để giải quyết những tình trạng căng thẳng về vốn khi cần.
 Đạt được mục tiêu rộng lớn hơn là chính sách thận trọng vĩ mô nhằm bảo vệ khu
vực ngân hàng trong thời kỳ tăng trưởng tín dụng quá mức:
+ Yêu cầu sử dụng các khoản đầu tư dài hạn để ước lương trước xác suất vỡ nợ.
+ Dư toán suy thoái do các khoản lỗ tín dụng gây nên, được đề nghị trong Basel
II, để trở thành bắt buộc.
+ Cải thiện hiệu chuẩn các chức năng rủi ro, mà chuyển đổi ước tính thiệt hại vào
vốn pháp quy theo yêu cầu.
+ Ngân hàng phải tiến hành các cuộc kiểm tra bao gồm tăng trưởng tín dụng lan
rộng trong các kịch bản suy thoái.
 Tăng mạnh mẽ hơn nữa tỷ lệ trích lập dự phòng:
Ủng hộ sự thay đổi trong các tiêu chuẩn kế toán đối với một khoản tổn thất dự
kiến (EL) phương pháp tiếp cận. Thông thường, số tiền EL = LGD* PD * EAD
Trong đó:
EL : Là khoản tổn thất dự kiến
LGD : Là khoản tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra
PD : Xác suất mặc định
EAD : Rủi ro mặc định đối với khách hàng
- Ủy ban đang triển khai một tiêu chuẩn quốc tế về tính thanh khoản tối thiểu
cho hoạt động ngân hàng quốc tế bao gồm một yêu cầu tỷ lệ thanh khoản đảm bảo
trong 30 ngày được củng cố bằng một tỷ lệ cấu trúc thanh khoản dài hạn được gọi
là Tỷ lệ dự phòng bình ổn.
Uỷ ban cũng đang xem xét lại nhu cầu vốn bổ sung, thanh khoản hoặc các biện pháp
giám sát khác để làm giảm yếu tố ngoại tác được tạo ra bởi các tổ chức quan trọng được
17

thành lập có hệ thống.
Vào tháng 9/2010, Basel III định mức yêu cầu tỷ lệ là: 7-9,5% (4,5% 2,5% (bảo tồn vùng
đệm) + 0-2,5% (theo thời kỳ đệm) cho cổ phần phổ thông và 8,5-11% cho Vốn cấp 1 và
10,5-13 cho tổng số vốn.


Vốn đệm ngược
chu kỳ
Không có
= 2.5%
Vốn đệm ngược chu kỳ trước năm 2006 = 0%
01/01/2006 = 0.625% 01/01/2007 = 1.25%
01/01/2008 = 1.1875% 01/01/2009 = 2.5%
Mục đích của bộ đệm vốn ngược chu kỳ là để
đảm bảo rằng các NH có đủ khả năng tài chính
đối đầu với các sự kiện ngược chu kỳ kinh tế.
Vốn cho các NH
quan trọng trong
hệ thống
Không có


2. Các quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam về an toàn vốn
Thông tư 13/2010/TT-NHNN (Gọi tắt là Thông tư 13) quy định về các tỷ lệ đảm
bảo an toàn trong hoạt động của TCTD được ban hành ngày 20/05/2010, có hiệu lực từ
ngày 01/10/2010. Thông tư gồm 22 điều, đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến mức độ
an toàn của các TCTD. Sau đó, vào ngày 27/9/2010, Thông tư số 19/2010/TT-NHNN đã
sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 13. Tiếp đó, ngày 30/8/2011, Thông tư số
22/2011/TT-NHNN đã hủy bỏ tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động quy định tại
Thông tư 13, được sửa đổi bổ sung tại Thông tư 19. Thông tư 22, cũng điều chỉnh hệ số
rủi ro đối với một số tài sản có bằng ngoại tệ khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.
Về cơ bản, Thông tư 13 và các thông tư sửa đổi có liên quan được các chuyên gia
kinh tế đánh giá là một bước chuyển biến tích cực trong quá trình phát triển hệ thống tài
chính Việt Nam. Mặt khác, quá trình thực hiện các thông tư trên đã có sự phản hồi từ
nhiều phía xuất phát từ những bất cập.


lẽ, cùng với Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng
Phát triển Việt Nam là các tổ chức trung gian hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
Thứ hai, quy định về tỷ lệ tối đa nguồn vốn huy động được cấp tín dụng tại Ðiều
18, tuy vẫn có những tranh cãi và điểm không rõ ràng khi tính toán và quy định tỷ lệ này,
nhưng đây là một trong những giới hạn được NHNN đặt ra nhằm tránh việc các TCTD
rơi vào tình trạng mất thanh khoản khi sử dụng vốn quá mức, nhất là việc sử dụng các
nguồn vốn ngắn hạn và không ổn định (vốn trên thị trường cấp II) để cho vay hay đầu tư
dài hạn.
Thứ ba, Thông tư 13 đã giới hạn khá chặt chẽ việc tham gia vào các hoạt động
kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản của các NHTM, nhằm tách biệt rõ
hoạt động của một ngân hàng đơn năng và đa năng, đồng thời hạn chế việc các ngân hàng
tham gia vào các hoạt động mang tính rủi ro cao trong khi khả năng quản trị rủi ro của
nhiều TCTD Việt Nam đang ở mức thấp.
Thứ tƣ, về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, Ðiều 4 của Thông tư 13 nêu rõ, nâng tỷ lệ
an toàn vốn từ 8% lên 9% cùng với quy định về vốn pháp định tối thiểu theo Nghị định
141/2006/NÐ-CP (3.000 tỷ đồng) là cơ sở hết sức quan trọng để nâng cao tiềm lực tài
chính của các ngân hàng.
Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ =
Vốn tự có
Tổng tài sản "Có" rủi ro

Cũng theo Ðiều 4 Thông tư 13, các TCTD phải thực hiện báo cáo tài chính hợp
nhất theo quy định của pháp luật, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ theo quy
định nói trên, phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở hợp nhất
vốn, tài sản của TCTD và công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất).
Tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất =
Vốn tự có hợp nh ất
Tổng tài sản "Có" rủi ro hợp nhất



Thứ hai, một hệ thống tài chính an toàn yêu cầu các ngân hàng có hệ số an toàn
vốn tối thiểu (CAR- capital adequacy ratio) đạt mức yêu cầu. Hệ số này phụ thuộc vào
hai yếu tố, vốn tự có và tổng tài sản có rủi ro. Việc NHNN yêu cầu các ngân hàng tăng
vốn điều lệ lên tối thiểu lên 3.000 tỉ đồng và tăng CAR lên 9% có thể coi là một vế của kế
hoạch tăng hệ số an toàn vốn cho toàn hệ thống, nhưng chỉ yêu cầu tăng vốn điều lệ và
CAR tối thiểu là không đủ, thậm chí có thể còn làm phát sinh thêm những rủi ro. Nếu
ngân hàng tăng vốn điều lệ, đồng thời tổng tài sản có rủi ro tăng lên theo thì hệ số an toàn
vốn có thể không tăng. Ðây là khả năng rất dễ xảy ra vì một ngân hàng khi thuyết phục
các cổ đông thông qua kế hoạch tăng vốn điều lệ và thực sự bỏ tiền để tăng vốn, họ
không thể nói tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng này sẽ giảm, vì như
thế, việc phát hành cổ phiếu của ngân hàng rất có thể bị thất bại. Ðể ROE không giảm
trong khi hệ số an toàn vốn tăng, ngân hàng buộc phải tăng tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài
sản- một điều không dễ trong hoàn cảnh hoạt động ngân hàng ở Việt Nam còn rất khó
khăn như hiện nay. Ðể thu hút nhà đầu tư, các ngân hàng sẽ phải tăng hệ số đòn bẩy tài
chính bằng cách mở rộng đầu tư, tín dụng…, qua đó làm giảm bớt hệ số an toàn vốn.
Ðiều này có nghĩa là tăng vốn điều lệ chỉ có tác dụng làm tăng hệ số CAR trong ngắn
hạn, còn trong dài hạn, hệ số này sẽ không thể duy trì ở mức cao. Khi các ngân hàng
không đáp ứng đủ điều kiện về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, chúng buộc phải tiếp tục tăng
thêm vốn hoặc sáp nhập với một ngân hàng khác. Việc tăng vốn trong bối cảnh thị trường
chứng khoán suy giảm trong một thời gian dài và đang phục hồi từ đầu năm 2012 không
hẳn là điều dễ dàng. Còn nếu sáp nhập, về mặt số học, đây là giải pháp sai lầm vì hai
ngân hàng có hệ số an toàn vốn thấp sau khi sáp nhập, hệ số này không thể tăng dù vốn
điều lệ tăng. Ngoài ra, việc tăng vốn nhằm nâng cao CAR, nếu thành công, khiến cho
tổng tài sản phải tăng lên để đáp ứng mức sinh lời kì vọng, sẽ dẫn tới các ngân hàng
không đủ khả năng quản lý, dẫn tới những rủi ro hoạt động sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt
động của họ.
Về việc tính vốn tự có, tại Ðiều 5 Thông tư 13 qui định, vốn cấp 1 bao gồm lợi
nhuận không chia được quy định tại Ðiều 2, nhưng không nhắc đến phần lợi nhuận không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status