ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG QUY ĐỊNH
VỀ AN TOÀN VỐN (CAR) CỦA CÁC NHTM
TẠI VIỆT NAM
CHƯƠNG 1: TỈ LỆ AN TOÀN VỐN TỐI THIỂU
(CAPITAL ADEQUACY RATIO)
Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn vốn của ngân
hàng. Nó được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp 1 và vốn cấp
2 so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng.
CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II) / (Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100%
Khi tính toán tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, người ta xét đến hai loại vốn: vốn cấp
I(vốn nòng cốt) và vốn cấp II(vốn bổ sung), trong đó vốn cấp I được coi là có độ
tin cậy và an toàn cao hơn. Ngoài yêu cầu đảm bảo cho CAR từ 8% trở lên, các
ngân hàng còn phải đảm bảo tổng vốn cấp II không được vượt quá 100% vốn
cấp I.
Vốn cấp I
Tier 1 capital
•
Tỉ lệ an toàn vốn cấp 1 = Vốn cấp 1 / Tổng tài sản điều
chỉnh rủi ro
•
Vốn cấp 1 là thước đo chủ yếu đánh giá sức mạnh,
tiềm lực tài chính của một ngân hàng từ quan điểm của
cơ quan quản lý, được định nghĩa trong Basel.
•
Vốn cấp 1 bao gồm các loại nguồn lực tài chính có độ
tin cậy cao nhất và có tính thanh khoản tốt nhất, chủ
yếu đề cập đến vốn cổ đông. Các ví dụ về vốn cấp 1 có
thể kể đến: cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi không
hoàn lại và không tích luỹ, lợi nhuận giữ lại. Theo nghĩa
này, vốn cấp 1 không hoàn toàn giống nhưng có liên
quan mật thiết đến khái niệm vốn cổ đông, đây là phần
So với vốn cấp 1, vốn cấp 2 được coi là có độ tin cậy,
an toàn thấp hơn. Cơ quan quản lý của hầu hết các
quốc gia, kể cả ban thống đốc của FED, đều áp dụng
tiêu chuẩn về vốn này trong hệ thống pháp lý của mình
Tier 2 capital
Hiệp ước tín dụng quốc tế Basel
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel
Committee on Banking supervision - BCBS) được
thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các ngân
hàng Trung ương và cơ quan giám sát của các nước
phát triển (GIO) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm
tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các
ngân hàng vào thập kỷ 80.
•
Vào năm 1988, ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó được đề
cập như hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I.
•
Đến ngày 26/6/2004, bàn Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức
được ban hành và có hiệu lực vào tháng 1/2007.
•
Và vào ngày 12-9-2010 các nhà quàn lý ngân hàng các nước thuộc ủy ban Basel về giám
sát ngân hàng đã đồng thuận một quy định mới có tính lịch sử về quản lý ngân hàng
nhằm xây dụng hệ thống tài chính toàn cầu ổn định hơn. Quy định mới, gọi là Hiệp định
Basel III.
Basel 1
Mục đích Tiêu chuẩn
•
Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân
hàng quốc tế; thiết lập một hệ thống ngân hàng
quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh
lý rủi ro.
Mục tiêu
Tiêu chuẩn
•
Sử dụng khái niệm"Ba trụ cột":
•
Trụ cột thứ 1: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc.
•
Trụ cột thứ 2: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân
hàng, trì trên mức tối thiểu.
•
Trụ cột thứ 3: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một
cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường.
BASEL II
•
Trên cơ sở kế thừa Basel I, trụ cột thứ nhất của Basel II cũng yêu cầu CAR >=
8%. Ngoài ra, Basel II có những điểm mới so với Basel I:
•
Thêm vào vốn cấp 3 (Short-term subordinated debt covering market) là các
khoản vay ngắn hạn.
•
Bổ sung phương pháp đo lường rủi ro thị trường (phương pháp chuẩn hóa và
phương pháp mô hình nội bộ).
•
Bên cạnh rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường, Basel II bổ sung thêm rủi ro hoạt
động (rủi ro vận hành) với các phương pháp đo lường: phương pháp chỉ số cơ
bản, phương pháp chuẩn hóa, phương pháp nâng cao.
•
Việc xác định hệ số rủi ro của tài sản có sự thay đổi: thay vì quy định hệ số rủi ro
có 4 mức là 0%, 20%, 50%, 100% và ưu đãi hơn với các nước thuộc OECD, Basel
so với Basel I:
Về cấu trúc và nội dung: Basel I
tập trung vào một giải pháp
quản lý rủi ro duy nhất là "yêu
cầu vốn tối thiểu". Trong khi,
Basel II tập trung nhiều hơn vào
các phương pháp nội bộ của
chính ngân hàng, đánh giá hoạt
động thanh tra, giám sát và kỷ
luật trên nguyên tắc thị trường.
Do đó, quyền lực của các nhà
quản lý quốc gia được tăng lên
Về tính linh động của ứng dụng:
Basel I quy định chung một chọn
lựa cho tất cả các ngân hàng.
Basel II linh hoạt hơn với một
danh sách các phương pháp, các
biện pháp khuyến khích để các
nhà quản lý quốc gia và các ngân
hàng chọn lựa.
Về tính nhạy cảm với rủi ro:
Basel I đo đạc rủi ro quá sơ bộ.
Basel II nhạy cảm hơn với rủi ro
thông qua độ nhạy cảm của yêu
cầu vốn đối với mức độ rủi ro
tăng lên và sự công khai bắt
buộc một cách chi tiết về độ
nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi
ro.
Về trọng số rủi ro: Basel I quy
BASEL
Theo chuẩn mực việt nam
Áp dụng Quyết định
297/1999/QÐ-NHNN5
Thực hiện Quyết định
457/2005/QÐ-NHNN
Thực hiện Thông tư số
13/2010/TT-NHNN
Tình hình thực hiện chia làm 3
giai đoạn :
Áp dụng Quyết định
297/1999/QÐ-NHNN5
Thời kỳ này, khối NHTM Nhà nước không đảm bảo
được mức an toàn vốn tối thiểu. Tại thời điểm năm
2000, trước thực trạng tỷ lệ nợ xấu quá cao, có nguy cơ
dẫn đến sự phá sản của các NHTM Nhà nước, Chính
phủ đã trực tiếp cấp 12.000 tỷ đồng dưới dạng cấp trái
phiếu đặc biệt thời với hạn 20 năm để tăng vốn tự có
cho 4 NHTM Nhà nước đưa tổng mức vốn tự có của
khối này lên mức hơn 18.000 tỷ VND, chiếm 51% vốn
tự có của toàn hệ thống. (Xem Bảng 1)
STT Tên ngân hàng Tổng TS có Vốn tự có CAR (%)
1 VCB
136.721 4.279 7,32
2 Vietinbank
116.373 3.405 5,35
3 BIDV
121.404 3.971 5,51
4 Agribank
179.281 6.411 4,79
thấy nhiều NHTM đạt được yêu cầu về hệ số an
toàn vốn 8%.
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
VCB 9.57 12.6 9.2 8.9 8.11 9 11.14 14.83
Agribank 0.41 4.9 7.2 7.9 4.86 6 8 9.49
Vietinbank 6.07 5.18 11.62
12.02 8.06 8.02 10.57 10.33
BIDV 3.36 5.5 6.67 8.94 7.55 9.32 11.7
Techcomban
k 15.72 17.28 14.3 13.99 9.6 13.11 11.4 12.6
ACB
12.1 10.89 16.19 12.44 9.97 9 9.25 13
Bảng 3: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một số NHTM
Thực hiện Quyết định
457/2005/QÐ-NHNN
theo Nghị định 141/2006/NÐ-CP (ngày 22/11/2006),
thì đến cuối năm 2010, các NHTMCP phải đạt mức
vốn pháp định tối thiểu là 3.000 tỷ VND. Một số ngân
hàng đã thực hiện tăng mức vốn pháp định theo qui
định để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Nhưng
còn nhiều ngân hàng vẫn đang trong quá trình triển
khai kế hoạch tăng vốn pháp định. Do đó, tỷ lệ an
toàn vốn tối thiểu của toàn hệ thống ngân hàng có
tăng lên, nhưng vẫn chưa đảm bảo mức tăng theo
tiêu chuẩn tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Vấn đề đáng
lưu ý ở giai đoạn này là do tác động của chính sách
kích cầu cũng như việc thực hiện nới lỏng tiền tệ của
NHNN nên tín dụng tại các NHTM đã tăng đột biến.
Ðiều này dẫn đến hệ lụy tổng tài sản rủi ro của các
NHTM tăng lên và kết quả là các NHTM trong nhóm