Tiểu luận Chế độ quản lý nhà nước về Kinh tế
1. CƠ SỞ HIẾN ĐỊNH
Điều 21:
Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản
xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô hoạt
động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh. Kinh tế gia đình được
khuyến khích phát triển.
Điều 25:Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn,
công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc
tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn,tài sản và các quyền lợi khác của các
tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc
hữu hoá.
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam định cư ở
nước ngoài đầu tư về nước.
Điều 26:
Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch,
chính sách; phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý Nhà nước giữa các ngành,
các cấp; kết hợp lợi ích của cá nhân, của tập thể với lợi ích của Nhà nước.
Ðề: Đề tài 10: Chế độ quản lý nhà nước về Kinh tế
Phần 2. Nội dung
I. Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng chính sách, kế
hoạch, pháp luật.
1. Nhà nước quản lý kinh tế bằng chính sách.
1.1. Khái niệm chính sách kinh tế.
1
a. Khái niệm chính sách:
- Theo nghĩa rộng: Chính sách kinh tế là toàn bộ quan điểm, tư tưởng phát triển,
những mục tiêu tổng quát và những phương thức cơ bản để thực hiện mục tiêu phát
triển kinh tế của đất nước.
- Theo nghĩa hẹp: Chính sách kinh tế là tổng thể các quan điểm, chuẩn mực, biện
pháp, thủ thuật mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể
tế thị trường.
- Chính sách là hành động can thiệp của Nhà nước nhằm giải quyết một hoặc
một số vấn đề chính sách chín muồi. Đó là những vấn đề lớn, có tầm ảnh hưởng rộng,
mang tính bức xúc trong đời sống kinh tế.
- Chính sách giải quyết những mục tiêu bộ phận, có thể mang tính dài hạn, trung
hạn hoặc ngắn hạn, nhưng phải hướng vào việc thực hiện mục tiêu chung, mang tính
tối cao của đất nước.
- Chính sách không chỉ thể hiện kế hoạch của các nhà hoạch định chính sách, mà
còn bao gồm những hành vi thực hiện những kế hoạch trên.
- Chính sách được Nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của nhiều người
hoặc của xã hội.
3
Như vậy, ở Việt Nam, đường lối do Đảng Cộng Sản Việt Nam- lực lượng chính
trị lãnh đạo Nhà nước và xã hội xây dựng. Các quan điểm, tư tưởng phát triển của đất
nước là nguyên tắc thể hiện bản chất của chế độ xã hội, được dùng làm cơ sở xem xét
mọi vấn đề trong tiến trình xây dựng đất nước. Đánh mất nó Nhà nước và xã hội sẽ
biến chất. Hành động không quan điểm là múa rối, liên kết hội nhập không quan
điểm là đầu cơ, nhượng bộ không quan điểm là đầu hàng, thủ đoạn không quan điểm
là phá hoại. Các quan điểm còn là kim chỉ nam cho hoạt động của tất cả các phân hệ
trong xã hội (lĩnh vực, ngành, địa phương). Nó là chuẩn mực lựa chọn các mục tiêu
bộ phận và các mục tiêu ưu tiên cho từng giai đoạn phát triển, đảm bảo không gây tổn
hại tới mục tiêu chung, lợi ích chung của đất nước.
Sự phát triển kinh tế của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các mục tiêu mà
chúng ta đặt ra và lựa chọn các chính sách kinh tế vĩ mơ để đạt được các mục tiêu đĩ.
Các mục tiêu lại đòi hỏi lựa chọn các chính sách kinh tế vĩ mơ phù hợp. Vì vậy, lựa
chọn chính sách kinh tế vĩ mơ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn, trung
hạn và dài hạn cần thận trọng, dựa trên những căn cứ khoa học và thực tiễn.
5 giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô
Nền kinh tế Việt Nam đang nóng. Bằng chứng là lạm phát vẫn tiếp tục gia
tăng, thâm hụt ngân sách và thương mại ngày càng lớn, và bong bóng giá bất
Một thông điệp chính được các chuyên gia kinh tế đưa ra là: "Để có thể duy trì
sự nhất quán và ổn định trong hệ thống chính sách vĩ mô, Việt Nam cần tập trung
thẩm quyền hoạch định chính sách trong tay một cơ quan duy nhất." Từ đó, các
chuyên gia đề nghị thành lập một "siêu bộ" hay một cơ quan hoạch định chính sách
5
chung cho ba mảng (đầu tư công, tài trợ đầu tư và chính sách tiền tệ) trực thuộc Thủ
tướng và có quyền hạn lớn, cao hơn các bộ, ban ngành, chính quyền địa phương, và
tất nhiên là cả các tập đoàn kinh tế nhà nước.
Trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, cơ quan này có quyền đình chỉ hay cắt
giảm những dự án đầu tư công chưa thực sự cần thiết hay lãng phí. Thành viên của cơ
quan này phải được lựa chọn dựa theo năng lực, có mức lương tương đương với
những chức vụ quản trị ở khu vực tư. Cơ quan này sẽ báo cáo trực tiếp cho Thủ tướng
Chính phủ và phải được bảo vệ khỏi sức ép chính trị và sự tác động của các nhóm đặc
quyền đặc lợi.
3. Tăng cường năng lực và tính độc lập cho Ngân hàng Nhà nước
Theo đánh giá của các chuyên gia thì hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
không đủ thẩm quyền và công cụ chính sách, đồng thời cấu trúc quản lý lại bất cập để
có thể vận hành như một ngân hàng trung ương thực thụ. Chính vì vậy, các nhà kinh
tế của trường Havard khuyến nghị Chính phủ cần có kế hoạch tổ chức lại Ngân hàng
Nhà nước theo hướng tăng cường tính độc lập (đặc biệt là độc lập về mục tiêu và
công cụ) và khả năng sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong một nền kinh
tế thị trường hiện đại.
Điều này đòi hỏi sự góp ý và tư vấn của các chuyên gia về ngân hàng trung
ương, bao gồm một số thống đốc ngân hàng trung ương trong khu vực và một số
chuyên gia kỹ thuật quốc tế đã từng làm việc tại các nước Đông Nam Á. Mặc dù việc
thuê chuyên gia nước ngoài khá đắt nhưng vẫn còn rẻ hơn rất nhiều so với cái giá
phải trả khi xây dựng một ngân hàng trung ương mà không có sự dẫn dắt của các
chuyên gia giàu kinh nghiệm. Để tránh xung đột lợi ích và đảm bảo tính bảo mật và
làm chủ chính sách khi thuê chuyên gia nước ngoài, Chính phủ Việt Nam nên tự
mình lựa chọn và trả lương cho chuyên gia chứ không nên dựa vào nguồn tài trợ của
TS Võ Trí Thành - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu, quản lý kinh tế
Trung ương (CIEM) cho rằng: “Một chính sách không nên thực hiện một lần,
nhưng cũng không nên lặp lại nhiều lần”. Đồng tình với quan điểm này,
PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn - Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích, mỗi công cụ
chính sách chỉ giải quyết được một mục tiêu nên không nhất thiết phải kéo quá
dài. Mặt khác, sự thiếu cân bằng trong nền kinh tế cần đến sự can thiệp của
chính sách không mang tính bền vững mà là vấn đề thời điểm nên cần được
điều chỉnh phù hợp. Tuy nhiên, cần xem xét chi phí của mỗi phương án điều
chỉnh để không gây lãng phí.
Theo TS Nguyễn Đình Cung - Phó Viện trưởng CIEM, các chính sách
kinh tế của Việt Nam nên chú trọng vào các vấn đề vi mô, từ đó giúp cải thiện
các vấn đề vĩ mô. Cụ thể như việc bãi bỏ các chính sách bao cấp, trợ cấp, bảo
hộ, lấy những quy tắc chuẩn của thế giới để áp dụng vào Việt Nam. Những
thay đổi như vậy được kỳ vọng sẽ giúp kiểm soát lạm phát tốt hơn, từ đó ổn
định các cân đối vĩ mô.
Cũng theo TS Nguyễn Đình Cung, Việt Nam không nên quay lại quản lý
nền kinh tế bằng các biện pháp hành chính, bởi như vậy khó theo kịp những
diễn biến của thị trường và gây lãng phí. Ông Cung ví dụ, trong vòng 4 năm, từ
2005-2008, Việt Nam đã ban hành 17.000 văn bản pháp lý liên quan đến điều
hành kinh tế, trong đó có 50% là công văn hướng dẫn thi hành. Số công văn
này bằng tổng số văn bản của 18 năm trước đó! Điều này thể hiện sự lạc hậu
của cơ chế so với sự phát triển của thị trường.
8
Tuy nhiên, theo nhận định của TS Võ Trí Thành và TS Nguyễn Đình
Cung, nhiều khả năng, Nhà nước sẽ dùng thêm các biện pháp hành chính để
quản lý nền kinh tế. Điều này sẽ đặt kinh tế nước ta vào “thế” khó hơn mà
nhãn tiền đã thấy, trong 2 năm qua, các biện pháp hành chính quản lý kinh tế
buộc Việt Nam phải đặt ra trần lãi suất, trần thâm hụt ngân sách… khiến các
mất cân đối có xu hướng tăng lên.
2. Nhà nước quản lý kinh tế bằng kế hoạch.
để thực hiện một ý đồ lớn, một mục đích nhất định nào đó của Nhà nước. Chương
trình thường gắn với ngân sách cần thiết.
+ Kế hoạch năm: là sự cụ thể hóa nhiệm vụ phát triển kinh tế căn cứ vào định
hướng mục tiêu chiến lược vào kế hoạch trung hạn, kết quả nghiên cứu để điều chỉnh
các căn cứ xây dựng kế hoạch cho phù hợp với điều kiện của năm kế hoạch.
+ Dự án: tổng thể các hoạt động, nguồn lực, các chi phí được bố trí chặt chẹ
theo thời gian và không gian nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội cụ thể.
+ Ngân sách: là bảng tường trình các con số sự huy động và phân bổ các nguồn
lực cho các chương trình và dự án trong một giai đoạn nhất định.
- Đặc trưng của kế hoạch:
Trong cơ chế thị trường, Nhà nước thực hiện công tác kế hạch nhằm định hướng
kinh tế xã hội, lự chọn mô hình tăng trưởng, lựa chọn các mục tiêu chủ yếu, xây dựng
10
các chính sách kinh tế và cung cấp thường xuyên thông tin đã được xử lý nhằm định
hướng, điều tiết hoạt động của thị trường.
Quản lý nền kinh tế bằng kế hoạch có tiền đè khách quan từ bản thân nền kinh
tế. tuy nhiên trong cơ chế thị trường tính chất của các kế hoạch nhà nước đã thay đổi
và mang những đặc trưng cơ bản như sau:
+ Tính định hướng và tổng quát
+ Điều tiết gián tiếp thông qua hệ thống đòn bẩy và khuyến khích kinh tế
+ Hướng vào hiệu quả kinh tế.
+ Kết hợp kế hoạch kinh tế với kế hoạch xã hội.
3. Quan niệm về vai trò nhà nước, kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế thấy rằng: một trong những nội dung
quan trọng mà các nhà kinh tế bàn đến là vai trò của nhân tố thị trường và nhân tố
Nhà nước trong điều hành quản lý nền kinh tế. Bởi lẽ, vấn đề nhà nước và thị trường
là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế trong nhiều thập kỷ qua,
không những ở nước ta mà ở cả nhiều nước trên thế giới, vì muốn tìm tòi mô hình
quản lý kinh tế vĩ mô thích hợp và có hiệu quả hơn.
công cụ vừa là một đối tượng của kế hoạch hóa".
Sự phát triển nền kinh tế hiện nay lệ thuộc rất nhiều vào những yếu tố môi
trường, chứ không chỉ lệ thuộc vào sự điều hành và mong muốn của Chính phủ. Ví
12
dụ như môi trường khu vực, môi trường quốc tế, môi trường địa kinh tế, môi trường
thiên nhiên v.v Vì thế, các mục tiêu trong kế hoạch chỉ mang tính dự báo, tính định
hướng và kế hoạch không bao gồm kế hoạch sản xuất - kinh doanh của các doanh
nghiệp.
Thứ ba, Thị trường là khách quan, kế hoạch là sản phẩm chủ quan của Nhà
nước, của ngành, của địa phương Vậy thì xử lý mối quan hệ giữa cái khách quan và
cái chủ quan ở đây như thế nào cho phù hợp trong một cơ chế để phát huy tác dụng
cao nhất ?
Nói tạo "một sân chơi bình đẳng" cho các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau, vậy Nhà nước điều khiển "sân chơi" đó như thế nào để vừa không
hạn chế sự thi thố tài năng của các chủ thể kinh doanh, lại vừa không làm chệch
hướng XHCN của nền kinh tế, đảm bảo sự thỏa đáng giữa tăng trưởng, phát triển
kinh tế với công bằng xã hội ?
Nhìn nhận kế hoạch hóa và thị trường với tư cách là công cụ điều tiết kinh tế vĩ
mô của nhà nước, thì thực chất của vấn đề KHH và cơ chế thị trường được coi là sự
kết hợp giữa điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch hóa và điều khiển gián tiếp thông qua
cơ chế thị trường đối với các hoạt động trên thị trường cũng như đối với các hoạt
động kinh tế trong xã hội.
4. Đổi mới công tác kế hoạch trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta.
Với cách đặt vấn đề như trên, cần thấy rằng: Kế hoạch hóa là một trong
những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng của Nhà nước nhằm đạt tăng
trưởng lâu bền và đảm bảo định hướng XHCN. Vì thế đổi mới công tác kế
hoạch từ tư duy, quan điểm định hướng, nội dung, quy trình lập và điều hành
cho đến cơ cấu tổ chức và cách thức chỉ đạo kế hoạch là một nội dung cơ bản
13
thích sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển Về mặt tiêu cực : trên thị trường
chứa đựng tính tự phát, chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, mất cân đối. Vì chạy theo lợi
nhuận, các nhà sản xuất, kinh doanh có thể gây nhiều hậu quả xấu: môi trường bị hủy
hoại, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, phá sản, thất nghiệp, phân hóa xã hội
cao, lợi ích công cộng bị coi nhẹ, các vấn đề công bằng xã hội không được bảo đảm,
tệ nạn xã hội gia tăng, thậm chí có người làm ăn bất hợp pháp, trốn lậu thuế, làm
hàng giả. Cũng vì mục tiêu lợi nhuận mà các nhà sản xuất, kinh doanh không làm
những ngành nghề ít lợi nhuận. Để hạn chế những khuyết tật đó, đòi hỏi Nhà nước
phải quản lý nền KTTT. Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường bằng pháp luật, quy
hoạch, kế hoạch định hướng, bằng các công cụ, chính sách, biện pháp kinh tế
CCTT chịu sự tác động rất mạnh của các quy luật kinh tế thị trường, do đó sự can
thiệp vĩ mô của nhà nước phải phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế thị
trường.
Tình hình đó đặt ra cho nền KTTT định hướng XHCN phải xử lý hài hòa 3 vấn
đề sau đây: Một là, giải quyết tốt vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội, sao cho vừa
đảm bảo cho các chủ thể KTTT có được lợi nhuận cao, vừa tạo được điều kiện chính
trị - xã hội bình thường cho sự phát triển kinh tế. Hai là, kết hợp những nguyên tắc
phân phối của CNXH và nguyên tắc của KTTT, như: phân phối theo lao động, theo
vốn, theo tài năng, phân phối qua quỹ phúc lợi xã hội Trong đó, nguyên tắc phân
phối theo lao động là chính. Thứ ba, điều tiết phân phối thu nhập, một mặt, đòi hỏi
nhà nước phải có chính sách sao cho giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa lớp
người giàu và lớp người nghèo ; mặt khác, phải có chính sách, biện pháp nâng cao
thu nhập chính đáng của người giàu, người nghèo và của toàn xã hội.
15
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, do vậy nội dung kế hoạch không được
phép chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực kinh tế nhà nước mà phải mang tính tổng
thể toàn nền kinh tế. Việc đổi mới này sẽ tác động một cách sâu sắc đến tính dân chủ
và công khai của kế hoạch. Ngay từ lúc dự thảo nội dung kế hoạch, các mục tiêu và
biện pháp không nên và không cần phải giữ bí mật. Nhà nước cần tăng cường khung
khổ pháp lý, hạn chế tối đa mọi can thiệp mang tính áp đặt, trực tiếp và chuyển sang
khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia thực hiện quy hoạch. Quy hoạch phát
triển của các ngành khác có sản phẩm và dịch vụ mang tính thương mại, phụ thuộc
vào biến động thị trường trong nước và thế giới, tiến bộ khoa học kỹ thuật chỉ nên
dừng ở mức độ định hướng, dự báo, hạn chế tối đa việc sử dụng nguồn ngân sách để
đầu tư cho các dự án ở những lĩnh vực này. Cần có quy chế công bố công khai các
quy hoạch để các thành phần kinh tế đóng góp ý kiến, tham khảo và tích cực thực
hiện.
Xu thế phân cấp trong quản lý ngày càng tỏ ra có hiệu quả trong thực tế. Cần
phân cấp quản lý nhà nước theo nguyên tắc "những hoạt động gắn liền với quyền lợi
người dân do chính quyền cấp gần dân nhất chăm lo, chính quyền cấp trên chỉ thực
hiện những nhiệm vụ có quy mô lớn mà cấp dưới không thực hiện được hoặc những
việc mang tính liên vùng".
Việc xác định mục tiêu trong lập kế hoạch ở cả Trung ương lẫn địa phương theo
kiểu năm sau phải cao hơn năm trước, mục tiêu nào cũng đều muốn đạt mức cao
trong khi tiềm lực có hạn cần được thay đổi một cách cơ bản. Kế hoạch phải căn cứ
vào hiện thực, phân tích quan hệ cung - cầu và khả năng cạnh tranh trên thị trường
(trong nước và quốc tế) để tính tốc độ tăng trưởng, từ đó xác định mục tiêu. Việc xác
định các mục tiêu phải đi kèm với xác định thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu, nghĩa là
17
phải có sự "trả giá", có khi phải hạ thấp yêu cầu mục tiêu này cho việc đạt mục tiêu
khác cao hơn.
Việt Nam đã gia nhập ASEAN, AFTA, ký kết Hiệp định Thương mại với Mỹ,
quá trình toàn cầu hóa đang ngày càng gia tăng trên toàn thế giới, sự liên kết giữa thị
trường trong nước và thị trường thế giới ngày càng gắn bó, nền kinh tế tri thức và
cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra sức ép ngày càng cao đối với mọi quốc
gia, mọi doanh nghiệp. Việc nhận thức đầy đủ những vấn đề này sẽ buộc những nhà
hoạch định chính sách phải đặt ra những mục tiêu kế hoạch trong bối cảnh chung,
trong môi trường "động" và "mở cửa". Không chấp nhận những thách thức này, chắc
chắn nền kinh tế sẽ không tránh khỏi nguy cơ tụt hậu, dẫn đến bất ổn định trong xã
hội.
nước và quan trọng hơn cả là một hệ thống cơ chế chính sách. Chính vì vậy, việc xây
dựng kế hoạch 5 năm cần được thực hiện theo một quy trình mới với sự phối hợp
chặt chẽ và phân công cụ thể giữa các cấp, giữa các bộ và có sự tham gia của các tầng
lớp và tổ chức trong xã hội.
Hệ thống kế hoạch 5 năm của toàn nền kinh tế bao gồm kế hoạch cấp quận
huyện, cấp tỉnh và cấp quốc gia.
Hệ thống kế hoạch hàng năm ở tầng vĩ mô: Kế hoạch hàng năm vừa là bộ phận
vừa là công cụ để điều hành thực hiện kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội
5 năm. Trong mối quan hệ với kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm chủ yếu chỉ mang
nội dung phân bổ các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài chính để thực hiện một
phần mục tiêu của kế hoạch 5 năm, do vậy kế hoạch hàng năm không nên đưa ra mục
tiêu mang tính tổng quát.
19
Về nguyên tắc, hệ thống kế hoạch kinh tế quốc dân trong nền kinh tế thị trường
không bao gồm kế hoạch sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên trong
quá trình chuyển đổi, Nhà nước còn nắm vị trí độc quyền hoặc chủ đạo ở một số
ngành then chốt, vì thế kế hoạch kinh tế quốc dân trong giai đoạn này vẫn có mối
quan hệ gắn bó với kế hoạch của những Tổng công ty chủ chốt ở những ngành này
(ví dụ: Dầu khí, Điện lực, Bưu chính viễn thông ). Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng
thương mại của Việt Nam tiếp tục giữ một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự
ổn định cho nền kinh tế trong thời gian tới và cũng sẽ có tác động rất lớn đến việc
tính toán trong xây dựng và điều hành kế hoạch. Do vậy, các ngân hàng thương mại
lớn và những Tổng công ty này cần phải định kỳ báo cáo về kế hoạch và tình hình
sản xuất kinh doanh của mình để Chính phủ có những thông tin cần thiết phục vụ cho
việc lập và điều hành kế hoạch. Điều hành kế hoạch cần dựa trên cơ sở thông tin báo
cáo và mô hình phân tích dự báo hàng quý. Phối hợp kết quả này với ý kiến chuyên
gia sẽ cho phép Nhà nước, các cấp xác định thời điểm, mức độ, phạm vi và cách thức
can thiệp một cách hợp lý vào nền kinh tế.
Đổi mới công tác kế hoạch hóa ở địa phương và ở các ngành. Nội dung kế hoạch
của các địa phương cần phản ánh đúng sự phân cấp quản lý nhà nước về kinh tế. Kế
của những nhà doanh nghiệp, những nhà khoa học. Việc điều hành thực hiện kế
hoạch không phải là công việc riêng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoặc một Bộ nào
khác mà nó phải được thực hiện thông qua sự phối hợp một cách thống nhất và tương
hợp giữa các bộ, ngành và các địa phương, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng
Chính phủ.
21
Ðề: Đề tài 10: Chế độ quản lý nhà nước về Kinh tế
3. Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật Nếu không có các nguyên
tắc cơ bản của trật tự xã hội với các thể chế làm trụ cột thì thị trường không thể
hoạt động được. Với chức năng, nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật, Nhà
nước là nhân tố sống còn trong việc đặt nền móng thể chế cho các thị trường.
Tại những nước đang phát triển, ưu tiên số một của Nhà nước là thiết lập
những nền tảng ban đầu của pháp luật trong điều kiện thị trường, đó là:
a. Bảo vệ đời sống và tài sản, chống lại những hành vi tội phạm.
b. Hạn chế các hành động độc đoán của các quan chức Nhà nước- kể từ
việc ban hành những điều tiết phi thể thức và những khoản thuế, phí không
lường trước được, đến tham nhũng, đó vốn là nhân tố làm rối loạn công việc
kinh doanh.
c. Xây dựng hệ thống tư pháp trung thực và có thể lường trước được.
Một khi đã có một nền tảng pháp luật phù hợp với sự phát triển kinh tế,
toàn diện và đầy đủ thì trọng tâm của vấn đề sẽ được chuyển sang những điều
tiết phức tạp hơn nhằm mở rộng thông tin và tăng cường hợp tác.
Phạm vi của pháp luật rất rộng lớn, từ việc cấp giấy phép kinh doanh đến
việc quản lý thị trường Tuy nhiên cải cách trong những lĩnh vực này sẽ chỉ có
kết quả ở những nơi có năng lực thể chế mạnh.
* Vai trò của pháp luật trong việc phát triển kinh tế một cách bền vững
1. “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện
tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ
tương lai”.
Đây là định nghĩa do Ủy ban Liên hợp quốc về môi trường và phát triển đưa ra.
nhiều nước hiện nay đang mắc phải.
• Tính bền vững về xã hội thể hiện ở việc giảm đói nghèo, đảm bảo công bằng
xã hội, đảm bảo cho đại đa số người dân được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khỏe,
được tiếp cận với giáo dục, duy trì sự ổn định về an ninh, nâng cao mức hưởng thụ
của người dân về văn hóa, tinh thần…
• Tính bên vững về môi trường thể hiện ở việc sử dụng hợp lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, bảo tồn được sự đa dạng sinh học, hạn chế ô nhiễm môi trường,
từng bước cải thiện môi trường sinh thái…
2. Phát triển bền vững là con đường tất yếu của Việt Nam.
Phát triển suy cho cùng là nhằm nâng cao phúc lợi của con người cả về vật chất
lẫn tinh thần. Mục tiêu phát triển ở nước ta là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ và văn minh” đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra. Chỉ có phát triển
bền vững trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường,
trong đó phát triển kinh tế vẫn phải được coi là trọng tâm trong giai đoạn hiện nay,
mới có thể đạt được mục tiêu cao nhất này.
Trong phát triển kinh tế thì hệ thống pháp luật về kinh tế luôn có vai trò vô cùng
to lớn. Nhận thức được tầm quan trọng này, từ cuối những năm 1980 đến nay, việc
không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật về kinh tế luôn là
mối quan tâm lớn, thường xuyên và là một trong những chủ trương quan trọng của
Đảng và Nhà nước ta. Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định phải “đổi mới
và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục
hành chính để phát huy tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho sản xuất, kinh
doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau” (Đảng Cộng
sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc
gia, trang 188).
24
Lĩnh vực pháp luật dân sự – kinh tế được Nhà nước đặc biệt quan tâm, cả
về số lượng văn bản cũng như nội dung thể hiện. Những sửa đổi cơ bản về chế
độ kinh tế trong Hiến pháp 1992, sự ra đời của Bộ luật Dân sự với 838 điều
cùng với các văn bản pháp luật quan trọng khác như Luật Doanh nghiệp nhà