1
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
KHOA: NÔNG NGHIỆP
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Chuyên đề:
NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM NUÔI THƯƠNG PHẨM LƯƠN
(Monopterus albus Zuiew,1793) Người hướng dẫn: TS BÙI QUANG TỀ
Sinh viên thực hiện: Phạm Văn Quỳnh
Lớp: ntts-k10.
Bắc Ninh tháng 10 năm 2013
2
2
LỜI CẢM ƠN!
Lời đầu tiên, tôi xin được trân thành cảm ơn quý thầy Ts.Bùi Quang Tề, địa
chỉ khu phố Chùa Dận- phường Đình Bảng- thị xã Từ Sơn- tỉnh Bắc Ninh,cùng
phương
Nhiều nước trên thế giới đã và đang là thị trường tiêu thụ luơn khá lớn làm
thực phẩm như Trung Quốc, Hồng Kong, Mỹ, Nhật.
ở nước ta hiện nay nhu cầu về lươn thực phẩm cũng rất lớn. Tuy nhiên
nguồn lươn tựnhiên đã giảm nhanh chóng và ngày càng khan hiếm do khai thác
bừa bãi, không có sự bảo vệ hay phục hồi. Việc sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ
thực vật không kiểm soát đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống tự
nhiên của lươn, đến cơ sở thức ăn tự nhiên (giun, côn trùng…) hoặc đã trực tiếp
hủy hoại chúng.
Nuôi lươn thương phẩm đang có xu hướng phát triển mạnh ở nhiều địa
phương. Tuy nhiên nguồn lươn giống vẫn còn phụ thuộc vào tự nhiên, lươn giống
nhân tạo chưa nhiều và chưa đáp ứng đủ nhu cầu nuôi hiện nay.
Trong những năm 1994-1997, ở miền Bắc đã có phong trào nuôi lươn trong
bể nhưng không duy trì được lâu dài. Hiện nay nuôi lươn thương phẩm lại đang
phát triển ở nhiều địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long. Có thể nuôi lươn thịt
trong bể ximăng, bể đất, trong ao, mương, ruộng. Kinh nghiệm nuôi ở các địa
4
4
phương cho thấy: có thể nuôi trong bểxi măng hoặc bể đất, chuồng lợn cũ… diện
tích 20-50m
2
, mực nước sâu 0,2-0,3m. Trong bể nên để giá thể bằng dây nylon cho
lươn trú ẩn thay cho ụ đất. Mật độthả50-60 con/m
2
, cỡ lươn 70-150 con/kg. Thức
ăn cho lươn là cá tạp, ruột ốc bươu vàng. Năng suất đạt từ
1- ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LƯƠN ĐỒNG
1.1. Vị trí phân loại
Theo W. Rainboth 1996, vị trí phân loại của lươn đồng như sau:
Bộ mang liền Synbranchiformes
Họ mang liền Synbranchidae
Giống Monopterus
Loài Monopterus albus, Zuiew 1793
Hình 1.1: Lươn đồng (Monopterus albusZuiew 1793)
6
6
Năm 1793, lần đầu tiên Zuiew đã mô tả và đặt tên khoa học cho loài lươn là
Monopterus albus, về sau các tác giả khác còn định danh lươn với tên đồng danh là
Fluta alba. Cho đến nay vẫn chỉ thấy có một loài lươn duy nhất trong tất cả các
mẫu lươn được mô tả trên khắp các lục địa. Do có 2 tên khoa học đồng danh gọi
chung một loài và có nhiều biến dị địa lý trong loài nên một số người vẫn cho rằng
có 2 loài lươn khác nhau. Tuy nhiên vẫn có thể tồn tại 2 hoặc nhiều loài phụ do rất
khác nhau về kích cỡ và cùng tồn tại trong một vùng địa lý. Ở nước ta hiện nay cả
hai miền Bắc và Nam đều tồn tại một loài lươn, nhưng do có những biến dị địa lý
trong loài mà nhiều người vẫn nghĩnhầm là có hai loài. Nhưng theo Nguyễn Mộng
Hùng (1998), có thể phân thành hai loài phụ do rất khác nhau về kích cỡ và cùng
tồn tại ở hai vùng địa lý khác nhau.
1.2. Đặc điểm hình thái, tập tính sống
Lươn là một loại cá hình rắn, thân hình dài dạng ống, da trơn, xương sọ
rắn… nên dễ chui rúc trong bùn. Lươn là một loài cá sống ở nhiều vùng nước khác
nhau ở sông, hồ, ao, đầm, ruộng, cống, mương rãnh…, ưa sống ở đáy những vùng
đất sét, đất pha bùn, nơi nước tĩnh, chịu đựng được các điều kiện khắc nghiệt của
môi trường sống, thậm chí cả những nơi nước bùn, thối, bẩn, hầu như thiếu oxy,
mương, hang vừa là nơi trú ẩn vừa làm nơi đẻ trứng. Lươn có cơ quan hô hấp phụ
nằm trong xoang miệng với các vi huyết quản nhỏ, dày đặc và cả ở da nên có thể
sống trên cạn với thời gian dài và chỉ cần giữ cho da luôn được ẩm.
Lươn là động vật có xương sống biến nhiệt, nhiệt độ cơ thể biến đổi theo
nhiệt độ môi trường. Lươn ưa nhiệt độ cao, nhiệt độ thích hợp từ 25-28
0
C, lươn có
thể sống ở nhiệt độ dưới 3
0
C đến 32
0
C, nhiệt độ quá cao (trên 32
0
C) hay quá thấp
(5
0
C) lươn sống không bình thường, giảm ăn, chui rúc trong bùn…. Nước có pH
từ7 đến 8 thích hợp cho lươn nhưng lươn có thể sống ở pH dưới 6. Chúng có thể
sống ở điều kiện hàm lượng oxy thấp dưới 2 mg/l, nhờ có các cơ quan hô hấp ở
8
8
xoang hầu, tuyến da và mang. Cơ quan hô hấp chính là xoang hầu và tuyến da.
Lươn có thểhô hấp trực tiếp khí trời qua hai lỗ mũi khi môi trường nước thiếu
dưỡng khí. Nếu trong ao nuôi nay đủ khí oxy hòa tan thì xoang hàm miệng của
lươn cũng có thể hấp thu được oxy trong nước. Khi nước dơ bẩn, thiếu oxy, lươn
thường ngôi đầu khỏi mặt nước để thở bằng khí trời. Tuy nhiên nếu tình trạng thiếu
oxy kéo dài thì lươn phát triển chậm, dễ nhiễm bệnh. Lươn có thể sống trên cạn
chế biến, thức ăn viên công nghiệp dành cho gia súc, gia cầm và cá. Khi khan hiếm
thức ăn nguồn gốc động vật, chúng ăn cả chất bột như lúa, gạo, cám nấu chín, rau
bèo và củ, quả.
Khi thiếu thức ăn lươn có thể ăn thịt lẫn nhau. Lươn tìm thức ăn nhờ vào
khứu giác là chủyếu. Khứu giác của lươn phát triển hơn thị giác (mắt) nên chúng
nhận biết mồi rất nhạy và nhanh chóng tìm đến đúng chỗ có mùi đã hấp dẫn chúng.
Vào mùa sinh sản, chúng hầu như không ăn. Nhiệt độ thích hợp cho chúng từ23-
28
0
C. Khi nhiệt độxuống thấp dưới 10
0
C thì lươn ngừng kiếm ăn và đào hang sâu
để qua đông. Lươn ăn mạnh nhất vào tháng 5 đến tháng 7. Lươn béo mập nhất vào
mùa thu và mùa xuân trước khi lươn đẻ.
Theo Phạm văn Trang và Phạm Báu (2004), lươn có hai hình thức bắt mồi
như sau:
- Bắt mồi thụ động: lươn không chủ động đi tìm mồi mà nhô đầu lên miệng
hang, chờ mồi bơi đến miệng rồi đớp lấy.
- Bắt mồi chủ động: lươn chủ động đi tìm mồi. Lươn rúc vào bùn tìm bắt
động vật nhỏ như: giun nước, ấu trùng côn trùng, tôm, tép, cá con, ốc, hến….
10
10
Lươn kiếm mồi bất kỳthời gian nào trong ngày, nhưng thường bắt mồi nhiều
vào ban đêm. Những người khai thác lươn dựa vào tập tính này và tập trung đánh
bắt lươn vào ban đêm là chủ yếu.
1.4. Đặc tính sinh trưởng
Lươn đồng có kích thước trung bình, cỡ lớn nhất được ghi nhận có