1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
KHOA: NÔNG NGHIỆP
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Chuyên đề:
NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM NUÔI THƯƠNG PHẨM LƯƠN
(Monopterus albus Zuiew,1793)
Người hướng dẫn: TS BÙI QUANG TỀ
Sinh viên thực hiện: Phạm Văn Quỳnh
Lớp: ntts-k10.
Bắc Ninh tháng 10 năm 2013
1
2
LỜI CẢM ƠN!
Lời đầu tiên, tôi xin được trân thành cảm ơn quý thầy Ts.Bùi Quang Tề, địa
chỉ khu phố Chùa Dận- phường Đình Bảng- thị xã Từ Sơn- tỉnh Bắc Ninh,cùng
toàn thể gia đình quý thầy cô đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện
tốt nhất về học tập,sinh hoạt để tôi hoàn thành tốt nhất bài báo cáo này.
Tôi xin cảm ơn Công ty TNHN sản xuất và dịch vụ Quang Dương đã tạo cơ
sở vật chất, vật liệu để tôi làm thí nghiệm.
Tôi xin cảm ơn quý giảng viên Khoa Nông nghiệp Trường đại học Hải
phòng đã tận tình chỉ dẫn tôi để tôi thực hiện tốt chuyên đề này.
Nhân đây tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến các bạn sinh viên trường Đại học Hải
Phòng, các bạn sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã cùng tôi làm việc
và giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập này.
Cuối cùng tôi xin gửi tới những người than trong gia đình, bạn bè đã giúp
đỡ ,động viên trong suất thời gian học tập.
Tôi xin cảm ơn với cả tấm chân tình!
Bắc Ninh tháng 10 năm 2013
Người thực hiện chuyên đề.
PHẠM VĂN QUỲNH
2
, cỡ lươn 70-150 con/kg. Thức
ăn cho lươn là cá tạp, ruột ốc bươu vàng. Năng suất đạt từ
10-15kg/m
2
bể với tỷ lệ
sống từ 60-80%. Tỷ lệ sống thấp do nguồn giống tự nhiên chất lượng kém vì đánh
bắt bằng các hình thức nguy hại như rà điện, dùng hóa chất, thuốc nhử độc…
Lươn là đối tượng thủy sản dễ nuôi, hình thức nuôi đa dạng, có thể tận dụng
những cơ sở vật chất đơn giản ở nông hộ để phát triển nuôi. Nuôi lươn ở quy mô
hộ gia đình sẽ tận dụng được lao động nhàn rỗi, thức ăn dư thừa của gia đình và
thích hợp cho những gia đình có nguồn vốn eo hẹp. Vì thế lươn là đối tượng để xóa
đói giảm nghèo, giúp cho nhiều bà con vươn lên làm giầu từ đối tượng này,góp
phần đưa nghề nuôi đối tượng này phát triển, đo đó tôi chọn chuyên đề “NGHIÊN
CỨU THỬ NGHIỆM NUÔI THƯƠNG PHẨM LƯƠN.(Monopterus albus
Zuiew,1793)
2. Mục đích của đề tài
Đánh gia ảnh hưởng của môi trường đến quá trình nuôi lươn.
Đánh giá tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng của lươn nuôi thương phẩm tại Bắc
Ninh nhằm thúc đẩy nghề nuôi lươn phát triển đem lại nguồn thu nhập nhằm xóa
đói, giảm nghèo.
3. Nội dung.
4
5
PHẦN 2. TỔNG QUAN
1- ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LƯƠN ĐỒNG
1.1. Vị trí phân loại
Theo W. Rainboth 1996, vị trí phân loại của lươn đồng như sau:
Bộ mang liền Synbranchiformes
mồi hoặc chạy trốn, một cửa hang cao hơn mặt nước để lấy oxy cho lươn hô hấp.
Theo các tác giả nghiên cứu như Trương thủ Khoa (1993), Mai Đình Yên
(1983), W. Rainboth (1996), Chavalit Vidthayanon (2008), lươn thuộc bộ cá mang
liền, khe mang nằm ở mặt dưới của đầu, hai khe mang liền lại thành một kẽ ngang.
Mang thoái hoá, hô hấp chủ yếu nhờ da, xoang bụng, ruột. Ở lươn không có bóng
hơi. Các vây thoái hoá để thích nghi với điều kiện sống chui rúc trong bùn (Lê
Hoàng Yến, 2006). Lươn có thân tròn dài và dẹp ở phía đuôi, đầu tròn tương đối
lớn và cao hơn thân. Mõm ngắn, miệng bé, rạch miệng hơi cong. Vây ngực và vây
bụng thoái hoá. Các vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi có tia vây không rõ ràng
và 3 vây này gần như dính liền nhau. Mặt trên thân có màu vàng nhạt hoặc nâu
sẫm tùy theo vùng sinh sống của lươn. Phía lưng thường đậm hơn, bụng trắng nhạt
hoặc có những chấm đen.
Lươn thích tối, tránh ánh sáng, quen sống dưới đáy nên mắt thoái hóa và rất
nhỏ, thường ngủ vào ban ngày và đêm mới hoạt động tìm mồi. Lươn có xúc giác
và khứu giác khá phát triển giúp cho việc phát hiện con mồi và kẻ thù từ khoảng
cách xa. Lươn sống phổ biến ở nhiều loại hình thủy vực nước tĩnh hoặc nước chảy
7
8
như ao, sông, hồ, ruộng, kênh mương. Chúng thường ưa sống tầng bùn đáy nhiều
hữu cơ và sinh vật đáy hoặc ở trong hang. Đôi khi gặp lươn chui rúc trong các
đống cỏ, rơm rạ trong ruộng hoặc ao, kênh mương. Mùa khô chúng có thể nằm vùi
dưới hang sâu trong bùn tới 1,5m. Cũng thường gặp lươn đào hang ven bờ ao,
mương, hang vừa là nơi trú ẩn vừa làm nơi đẻ trứng. Lươn có cơ quan hô hấp phụ
nằm trong xoang miệng với các vi huyết quản nhỏ, dày đặc và cả ở da nên có thể
sống trên cạn với thời gian dài và chỉ cần giữ cho da luôn được ẩm.
Lươn là động vật có xương sống biến nhiệt, nhiệt độ cơ thể biến đổi theo
nhiệt độ môi trường. Lươn ưa nhiệt độ cao, nhiệt độ thích hợp từ 25-28
0
C, lươn có
thể sống ở nhiệt độ dưới 3
Trương Thủ Khoa cho rằng lươn ăn động vật. Theo Rainboth, lươn là loài địch hại,
chúng thích ăn giáp xác, nhuyễn thể. Theo Ngô Trọng Lư (2007), thì lươn là loài
ăn tạp nhưng thích ăn động vật có mùi tanh. Khi còn nhỏ, lươn ăn sinh vật phù du,
giai đoạn tiếp ăn côn trùng, trùn chỉ, bọ gậy, ấu trùng chuồn chuồn, ăn cả mùn bã,
mảnh vụn hữu cơ. Lươn lớn ăn giun, ốc, tôm, tép, cá con, nòng nọc và những động
vật trên cạn gần mép nước… Ngoài ra lươn còn có khả năng chịu nhịn đói từ1-2
tuần và trọng lượng có thể bị giảm đi một nửa.
Những người khai thác lươn ở nước ta nhận thấy lươn rất thích những thức
ăn động vật và có mùi tanh như giun (trùn), giáp xác, nhuyễn thể, nòng nọc, cua,
ốc, tôm tép và cá con, nên thường sử dụng những loại mồi đó (để sống, đập nát
hoặc có thể nướng chín cho có mùi thơm) đặt trong ống trúm để nhử lươn chui
vào. Lươn cũng có thể sử dụng nhiều loại thức ăn phụ khác như phụ phẩm lò mổ
và xí nghiệp chế biến thủy sản, đồ phế thải của nhà bếp, thịt trai, ốc, nhộng tằm,
tiết gia súc gia cầm. Ngoài ra chúng còn ăn thức ăn
chế biến, thức ăn viên công nghiệp dành cho gia súc, gia cầm và cá. Khi khan hiếm
thức ăn nguồn gốc động vật, chúng ăn cả chất bột như lúa, gạo, cám nấu chín, rau
bèo và củ, quả.
Khi thiếu thức ăn lươn có thể ăn thịt lẫn nhau. Lươn tìm thức ăn nhờ vào
khứu giác là chủyếu. Khứu giác của lươn phát triển hơn thị giác (mắt) nên chúng
9
10
nhận biết mồi rất nhạy và nhanh chóng tìm đến đúng chỗ có mùi đã hấp dẫn chúng.
Vào mùa sinh sản, chúng hầu như không ăn. Nhiệt độ thích hợp cho chúng từ23-
28
0
C. Khi nhiệt độxuống thấp dưới 10
0
C thì lươn ngừng kiếm ăn và đào hang sâu
để qua đông. Lươn ăn mạnh nhất vào tháng 5 đến tháng 7. Lươn béo mập nhất vào
mùa thu và mùa xuân trước khi lươn đẻ.
+
) là 38-40
cm và ba tuổi cộng (3
+
) có thể đạt tới 55 cm. Ở các tỉnh phía Bắc hiện nay hiếm
khi bắt được lươn có trọng lượng trên 200gam mà chủ yếu là lươn kích thước nhỏ,
bằng ngón tay hoặc lớn hơn giun (trùn đất) đôi chút (Nguyễn Mộng Hùng, 1998).
Ở miền Nam lươn còn khá nhiều nhưng không còn phong phú như trước đây. Sản
lượng khai thác tự
nhiên ngày càng giảm nhiều, kích cỡ cũng nhỏ dần vì nguồn lợi
lươn tự nhiên không kịp bù đắp. Tình trạng khai thác bừa bãi, quá mức cũng như
việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật tràn lan, không kiểm soát trên đồng ruộng và
dư lượng thuốc đi vào các thủy vực đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường
sống cũng như sinh sản của lươn.
11
12
2. KỸTHUÂT NUÔI LƯƠN THƯƠNG PHẨM
2.1. Chuẩn bị bể nuôi lươn
Nuôi lươn thịt không khó và đã phát triển đa dạng nhiều hình thức nuôi. Ơ
các tỉnh Nam bộ, tùy theo điều kiện của từng nông hộ và từng cơ sở, có thể nuôi
lươn trong ao đất, trong ruộng lúa mương vườn, trong bể đất lót bạt cao su, trong
bể ximăng, đôi khi cải tạo lại chuồng heo cũ là có được bể nuôi lươn khá tốt. Có
nơi do thiếu điều kiện, lươn còn được nuôi trong khạp hoặc vại lớn. Tùy điều kiện
kinh tế, đất đai và hiểu biết kỹ thuật của nông hộ mà lựa chọn hình thức nuôi phù
hợp. Hiện nay hình thức nuôi trong bể là phổ biến, vì điều kiện nuôi trong lươn
trong bể dễ quản lý, theo dõi và kiểm soát thuận tiện hơn nuôi dưới ao, mương,
đồng thời đạt năng suất cao hơn, thu hoạch cũng dễ dàng hơn.
Có hai kiểu bể nuôi: (1) bể đáy phủ thêm đất và (2) bểxi măng và bể lót bạt
cao su. Hiện nay đa các hộ ưa thích nuôi lươn trong bể ximăng và bể lót bạt cao su
khoảng 1/3 diện tích bể (đểtạo chỗ trú bám vào và dễ ngoi lên mặt nước để thơ).
Nuôi lươn với mật độ khá cao, sẽ có tình trạng thiếu oxy trong bể nuôi, do
đó nên cho máy sục khí và bố trí dàn ống dẫn khí để sử dụng khi cần thiết.
13
14
Hình 2.1: Bể ximăng nuôi lươn có giá thể là bèo lục bình
Hình 2.2. Bể nuôi lươn có giá thể xơ nilon.
2.2. Lươn giống thả nuôi
Giống lươn nhân tạo chưa sản xuất nhiều, nên nguồn lươn giống để nuôi
hiện nay chủyếu đánh bắt từ tự nhiên. Để đáp ứng nhu cầu giống chất lượng nhiều
cơ sở sản xuất giống và nông hộ nuôi cũng đã chủ động sản xuất giống nhân tạo.
14
15
Người thu bắt lươn giống thường có các phương pháp đặt ống tre, câu, tát
ao, hoặc xúc mô. Hiện nay còn còn có tinh trạng thu bắt mang tính hủy diệt như
rà điện và nhử mồi thuốc. Khi sử dụng lươn giống trong tự nhiên, cần quan sát kỹ
để đánh giá chính xác chất lượng và tình trạng sức khỏe, tránh bị nhầm với lươn bị
đánh bắt bằng rà điện hoặc dùng thuốc mồi nhử có độc tố. Thậm chí khi thả
chung, chất thải từ lươn đã bị nhiễm mồi thuốc cũng làm cho lươn bình thường bị
lây nhiễm và chết từ từ sau 1-2 tuần. Lươn bị rà điện thì yếu và chậm lớn, có thể
chết sau vài tháng.
Lươn giống trong tự nhiên có nhiều kích cỡ và có gần như quanh năm,
nhưng mùa lươn giống tập trung nhiều nhất là tháng 6-8, giữa đến cuối mùa mưa.
Kích cỡ lươn giống thu bắt để nuôi khoảng 12-15cm, nặng từ 20-25g/con hoặc có
cỡ lươn lớn 35-40g/con (1kg lươn giống lớn khoảng 25-30con). Chọn lươn giống
bằng cách quan sát ngoại hình, lươn khỏe, đều cỡ, có màu sắc sáng đặc trưng của
loài, thân màu vàng có chấm rõ, không bị sây sát, không bị mất nhớt, vận động co
trườn nhanh nhẹn. Những con lươn có màu nhợt nhạt, có khi màu vàng xanh hoặc
xám tro thì yếu và khó nuôi, sẽ tăng trưởng chậm. Khi để lươn vào thau chậu có
nước, lươn yếu thường ngoi đầu lên cao, mang phình to, thường đã bị mất nhớt.
bằm nhỏ vừa cỡ miệng lươn. Thức ăn chế biến gồm các thành phần gốc động vật
(cá tạp, bột cá…) trộn với cám gạo, bột đậu nành, tấm, bột bắp và một số chất bổ
sung như premix khoáng, vitamin… và nấu chín để hạn chế sự ô nhiễm nước bể
nuôi.
Bảng 1: Tỷ lệ, thành phần thức ăn tươi sống, thức ăn chế biến và khẩu phần
ăn
16
17
Lươn có tập tính rất ham ăn và ăn nhiều vào lúc tối và ban đêm. Cho thức ăn
vào sàn treo vào bể vừa ngập trong nước để lươn rút thức qua kẽ sàn hoặc bò vào
sàn ăn. Kiểm tra và rửa sạch sàn ăn mỗi lần cho ăn thức ăn mới. Đặt sàn ăn hoặc
thả thức ăn cho lươn gần với cống rút nước để khi lươn ăn xong sẽ rút bỏngay
nước dơ bẩn và thay nước mới.
Nguồn nước thay mới phải sạch không bị ô nhiễm hóa chất độc hại. Không
cho thức ăn đã bị hư, ôi thiu làm hỏng môi trường nuôi, dễ gây bệnh cho lươn.
Hàng ngày theo dõi mức độ ăn của lươn để điều chỉnh phù hợp, nên cho ăn vừa đủ.
Hằng ngày phải vét sạch thức ăn dư trong bể, dưới đáy bể sau mỗi lần cho ăn.
Không để lươn bị đói nhưng cũng không cho thức ăn dư thừa sẽ gây ô nhiễm nước
trong bể hoặc lươn ăn quá nhiều quá dễ bị bội thực và chết. Trong giai đoạn đầu
mới nuôi, cho lươn ăn với mức khẩu phần thấp hơn khi lươn đã lớn.
17
18
2.4. Quản lý môi trường và sức khỏe lươn nuôi
2.4.1. Quản lý môi trường nước
- Quản lý nước nuôi: mức nước trung bình 15-20cm là thích hợp để lươn dể
dàng chủ động hô hấp khí trời. Do bể nuôi có diện tích giới hạn, mực nước trong
bể thấp, nên rất nhanh bị ô nhiễm từ thức ăn dư thừa hoặc tan toả trong nước và
những chất thải từ hoạt động sống của lươn. Cần phải thay nước bể nuôi hằng ngày
(nên thay nước sau khi lươn ăn 1-2 giờ để cải thiện chất lượng nước, cung cấp đủ
lượng oxy hòa tan và ổn định hiệt độ trong bể nuôi. Lượng nước thay từ 2/3 đến
Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1013
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Lươn đồng (Monopterus albus Zuiew,1793)
19
20
2. BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM
2.1Vật liệu thí nghiệm.
+ 9 hệ thống bể nuôi lươn thương phẩm.
+lươn giống kích thước 20-40 con/kg được lấy từ khu nuôi lươn của Công ty
TNHN sản xuất và dịch vụ Quang Dương.
+ cân, thước do
Hình 3.1 dụng cụ cân đo tốc độ sinh trưởng của lươn.
+ tes do các chỉ số môi trường như ph, DO, nhiệt độ…
20
21
Hình 3.2 bộ test đo các chỉ số môi trường nuôi.
+ phòng thí nghiệm
+ thức ăn nuôi gồm cá tạp say nhỏ, thức ăn công nghiệp hàm lượng đạm 35-
40%. Của Công ty TNHN Cargill Việt Nam. Sản xuất tại Hưng Yên.
21
22
Hình 3.3 thức ăn viên công nghiệp.
22
23
+ Thuốc và chế phẩm sinh học
Hình 3.5 men vi sinh (a) và thuốc dùng cho
thí nghiệm (b).
2.2 Phương pháp nghiên cứu
1
là khối lượng lươn sau và trước thí nghiệm.
- Chiều dài lươn tăng thêm LG ( Length gain)
LG = L
2
– L
1
Trong đó L
2,
L
1
là chiều dài của lươn sau và trước khi thí nghiệm
- Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ADG (average daily growth)
ADG (gam/con/ngày) =(W
2
– W
1
)/ Ngày nuôi
- Tỷ lệ sống (TLS %)
TLS(%) = số lươn còn lại sau thí nghiệm / Số lươn đem thả.
2.3 Phương pháp xử lý số liệu.
Số liệu được xử lý bằng phần mền Excel.
24
25
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. MÔI TRƯỜNG NUÔI TRONG QUÁ TRÌNH LÀM THÍ NGHIỆM.
1.1 Nhiệt độ.
Kết quả theo dõi nhiệt độ trong quá trình làm thí nghiệm được thể hiện trong
các bảng sau:
Bảng 4.1 nhiệt độ môi trường nước.