nghiên cứu hành vi bầy đàn (herding behavior) trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 13


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ THUÝ LAN

NGHIÊN CỨU TÂM LÝ BẦY ĐÀN
(HERDING BEHAVIOR) TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Đà Lạt – 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HÀNH VI BẦY ĐÀN TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN 5
1.1. Mục tiêu của tài chính hành vi 5
1.2. Những nguyên lý cơ bản của tài chính hành vi 5
1.3. Hành vi bầy đàn 7
1.4. Nguyên nhân tạo ra hành vi bầy đàn 11
1.4.1. Các nhân tố hành vi 12
1.4.2. Bất cân xứng thông tin 19
1.5. Tóm tắt chương 1 22
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU HÀNH VI BẦY ĐÀN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM 23
2.1. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt nam từ năm 2007 đến nay 23
2.1.1. Thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn bong bóng đầu cơ 23
2.1.2 Thực trạng thị trường sau “bong bóng đầu cơ” 26
2.2. Cơ sở tạo ra hành vi bầy đàn trên TTCK Việt Nam 33
2.3. Phân tích các kết quả tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt nam.37
2.3.1. Các giả thiết nghiên cứu 37
2.3.2. Lựa chọn mô hình 39
2.3.3. Mô tả dữ liệu 44 2.3.4. Kết quả nghiên cứu 49
2.4. Tóm tắt chương 2 57
CHƯƠNG 3: GỢI Ý NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM ỨNG XỬ TÁC ĐỘNG CỦA
HÀNH VI BẦY ĐÀN 59
NHỮNG HẠN CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 66
KẾT LUẬN 67
PHỤ LỤC 73

Lý thuyết triển vọng cho rằng quyết định của con người không luôn luôn dựa trên sự kỳ vọng hợp lý
mà nó còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố hành vi như cảm xúc, kinh nghiệm, tâm lý xã hội phổ biến.
1.4.1.1. Hành vi bất hợp lý
Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán (Heuristics)
Việc phụ thuộc vào kinh nghiệm khiến con người đưa ra quyết định một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Điều này thỉnh thoảng sẽ dẫn đến những sai lầm trong quyết định, đặc biệt là khi các điều kiện bên ngoài
thay đổi, và thậm chí có thể dẫn đến các quyết định đầu tư nằm dưới điểm tối ưu.
Hối tiếc
Thuyết hối tiếc có thể giải thích được sự thật rằng các nhà đầu tư trì hoãn bán những cổ phiếu đang
giảm giá trong khi đó lại tăng tốc việc bán những cổ phiếu lên giá (Hersh shefrin & Statman, 1985). Lý
thuyết này lý giải rằng các nhà đầu tư tránh việc bán những cổ phiếu đang giảm giá để không bị mắc sai lầm
và theo cách này họ sẽ không cảm thấy hối tiếc.
Tự tin thái quá (Overconfidence)
Sự tự tin quá mức đã dẫn đến những quyết định sai lầm khi nhà đầu tư quá chú trọng đến những thông
tin tốt của các công ty được đánh giá và lờ đi những thông tin xấu, chính điều này làm cho họ tin rằng những
cổ phiếu mà họ đang đầu tư là những cổ phiếu tốt. Và vì thế, họ có xu hướng đầu tư rất nhiều vào một loại
2

chứng khoán quen thuộc hay chứng khoán của chính công ty họ làm việc, và trở nên ít đa dạng hóa danh mục
của mình
Tính toán bất hợp lý (Mental Accounting)
Con người thỉnh thoảng có xu hướng đưa ra các quyết định riêng lẻ mà đáng ra chúng nên được kết
hợp với nhau. Ví dụ, nhiều người đã chia ngân sách gia đình thành hai phần, một phần dành để mua thức ăn
và phần còn lại dành cho tiêu khiển, giải trí.
Theo khuôn mẫu (Framing)
Theo khuôn mẫu là một khái niệm cho thấy nội dung của một vấn đề riêng biệt sẽ được thể hiện như
thế nào. Khái niệm này không phân tích một vấn đề một cách toàn cục, mà bó buộc trong một khuôn khổ hạn
hẹp.Mặc dù kết quả là như nhau nhưng sự khác nhau về khuôn mẫu (cách thức diễn đạt khác nhau) có thể tạo
cho nhà đầu tư có những phản ứng sai lệch về những rủi ro liên quan đến thông tin được truyền đạt.
Lệch lạc do tình huống điển hình (Representativeness)


Bên cạnh thị trường tất yếu điều chỉnh sau một thời gian đi lên, việc "nhà nhà" đồng loạt phát hành
thêm cổ phiếu đã pha loãng giá. Cùng với diễn biến này, còn có thêm hàng loạt các công ty lần lượt lên sàn,
đặc biệt dồn dập vào cuối năm, đã dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu.Từ những nguyên nhân trên đã làm
cho thị trường chứng khoán tụt dốc liên tục. VN-Index đóng cửa vào ngày 31/12/2008 là 315,62 điểm giảm
73,04% so với đỉnh của VN-Index (giá đóng cửa ngày 12/3/2007 với 1170,67 điểm và giảm 65,73% so với
ngày đầu năm 2008.
Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu tháng 2/2009 với những nỗ lực khá lớn của Chính phủ như
giảm 50% thuế VAT cho nhiều ngành hàng, hỗ trợ 4% lãi suất cho doanh nghiệp từ gói hỗ trợ 17.000 tỷ
đồng, lãi suất cơ bản giảm từ 8,5% xuống 7% khiến các ngân hàng thương mại đồng loạt giảm lãi suất cho
vay. Tuy nhiên, trước những tác động quá lớn từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tâm lý nhà đầu tư trong
nước dường như không còn chịu tác động nhiều bởi các chính sách vĩ mô vì nó chưa mang lại kết quả ngay
lập tức cho doanh nghiệp.
Năm 2010 là năm không thành công của TTCK Việt Nam với hoạt động giao dịch kém tích cực hơn so
với các TTCK khác trên thế giới. Kết thúc năm, chỉ số VN-Index giảm 2,04% trong khi chỉ số HNX-Index
giảm khá mạnh 32,07%. Điểm nổi bật của thị trường trong thời gian qua là (1) nguồn cung cổ phiếu tăng
mạnh, (2) lực cầu của nhà đầu tư trong nước yếu trong khi khối ngoại đóng vai trò hỗ trợ thị trường.
Thị trường chứng khoán năm 2011 đã diễn biến gây không ít thất vọng cho nhà đầu tư. Bắt đầu năm
2011, nhiều nhà đầu tư kỳ vọng năm 2011 thị trường chứng khoán sẽ diễn biến khả quan hơn sau một thời
gian dài ảm đạm do Việt Nam sẽ lấy lại tốc độ tăng trưởng cao nhờ vào tình hình kinh tế thế giới đã được cải
thiện. Tuy nhiên, không như kỳ vọng ban đầu, hàng loạt các chính sách vĩ mô nhằm chấn chỉnh lại nền kinh
tế yếu kém đã được đưa ra một cách dồn dập và gây khá sốc cho nhà đầu tư cũng như thị trường chứng
khoán.
Thị trường chứng khoán Việt Nam vào nữa đầu năm 2012 đánh dấu nhiều thăng trầm của nền kinh tế
nói chung cũng như thị trường chứng khoán nói riêng. Con số 488,07 là mốc điểm cao nhất mà Vn-Index đạt
được trong 6 tháng đầu năm nay (xác lập ngày 8/5) và mốc điểm thấp nhất là 336,73 (ngày 6/1).
2.2. Cơ sở tạo ra hành vi bầy đàn trên TTCK Việt Nam
Môi trường pháp luật chưa hoàn chỉnh, thiếu hiệu lực
Trong một thời gian dài, thị trường chứng khoản Việt Nam chỉ chịu sự điều chỉnh của một văn bản
dưới luật – được đánh giá là có nhiều hạn chế, chưa đồng bộ và thiếu đầy đủ. Mãi đến tận ngày 12/7/2006

Giả thiết 1: Hành vi bầy đàn có tồn tại trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Các tác giả(Mcqueen, Pinegar, & Thorley, 1996) đã chứng minh rằng trong khi tất cả các cổ phiếu có
khuynh hướng phản ứng nhanh đối với thông tin vĩ mô xấu, cổ phiếu nhỏ có khuynh hướng thể hiện sự phản
ứng chậm của các nhà đầu tư đối với thông tin vĩ mô tốt. Vì thông tin tốt thường tạo ra sự tăng giá cổ phiếu,
phản ứng chậm mô tả rằng giá của cổ phiếu nhỏ đã thể hiện hết thông tin tốt trong đó. Điều này có thể làm
tăng thêm sự phân tán của lợi nhuận thị trường trong trường hợp thị trường đi lên mà không thể xảy ra khi thị
trường đi xuống. Cũng chính sự phân tán này giải thích vì sao hành vi bầy đàn diễn ra mạnh mẽ đối với thị
trường giảm điểm mà đặc biệt là đối với cổ phiếu nhỏ (Chang, 2000). Đối với quy mô nhỏ của thị trường
chứng khoán Việt Nam, vấn đề này có thể hợp lý và đưa đến giả thiết thứ hai như sau:
Giả thuyết 2: Hành vi bầy đàn được biểu hiện rõ ràng hơn đối với xu hướng thị trường giảm điểm.
Bên cạnh đó, qua quan sát biến động thị trường tác giả nhận thấy có mối quan hệ mật thiết về biến
động giá của hai sàn giao dịch. Cụ thể là xu hướng tăng điểm của sàn HoSE thường kéo theo sự tăng điểm
của HNX và ngược lại, sự giảm điểm của HoSE thường quyết định xu hướng giảm điểm của HNX. Hơn nữa,
nghiên cứu của (Tan, Chiang, Mason, & Nelling, 2008) đã chứng minh được rằng có mối quan hệ thông tin
hai chiều giữa lợi nhuận của cổ phiếu A và cổ phiếu B trên thị trường chứng khoán Trung Quốc. Vì thế, mối
quan hệ giữa mức phân tán lợi nhuận và thông tin giao dịch ở thị trường khác cần được kiểm định ở giả thiết
thứ ba:
Giả thiết 3: Hành vi bầy đàn bị tác động bởi thông tin giao dịch chéo ở thị trường chứng khoán xung
quanh
2.3.2. Lựa chọn mô hình
(Chang, 2000), gọi tắt CCK, đã xây dựng thay thế để kiểm tra hiện tượng tâm lý bầy đàn với toàn bộ
phân phối của lợi nhuận thị trường như sau:
 
2
1 , 2 ,
3
t m t m t t
CSAD R R
   
   

1

dương và có ý nghĩa thống
kê sẽ là một tham số dự báo không thể thiếu đối với mô hình định giá tài sản.Trong mô hình CCK, khi giá trị
tuyệt đối của lợi nhuận trong công thức (4) tăng lên, đồng nghĩa với việc có hiện tượng phân tán lợi nhuận
của các nhà đầu tư.
Hiện tượng tâm lý này làm tăng mối tương quan giữa những kênh tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư
và góp phần làm giảm khả năng tạo lợi nhuận đối với nhân tố lợi nhuận thị trường R
m
. Cũng vì lý do này mà
mô hình có bao gồm nhân tố
2
,mt
R
tạo nên đường cong phi tuyến tính và khi nghiên cứu thực nghiệm nếu kết
quả hệ số
2

là âm thì đồng nghĩa rằng có tồn tại hiện tượng tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng
khoán.Nhằm tránh những hạn chế của phương pháp CH, trong đề tài này tác giả sử dụng cả hai phương pháp
của (Chang, 2000) và (Tan et al., 2008) để kiểm tra hành vi bầy đàn theo mức độ phân tán của lợi nhuận thị
trường.
Để kiểm tra sự ảnh hưởng của hiện tượng bất cân xứng thông tin, tác giả đã sử dụng các phương trình
sau đây:
 
 
 
 
1 , 2
1 , 2

t
CSAD
ở thời điểm t trong trường hợp thị trường tăng giá tương
ứng với
,
UP
mt
R
.
Trong luận văn này tác giả còn sử dụng một số phương pháp kiểm định phần dư của mô hình hồi quy
như các kiểm định Jarque-Bera, Durbin-Wastson, White và kiểm định ARCH nhằm kiểm tra tính phân phối
chuẩn, phương sai thay đổi, tự tương quan và sự tồn tại của tự hồi quy của các sai số trong mô hình.
Các mô hình GARCH sẽ được lựa chọn nếu phát hiện có sự tồn tại của sự tự hồi quy và phương sai
thay đổi (hiệu ứng ARCH), đây cũng là mô hình được đánh giá rất cao để giải thích các đặc điểm của chuỗi
thời gian như độ nhọn vượt chuẩn (leptokurtosis), tính dễ biến động và biến động bất cân xứng.
Để kiểm tra quyết định của nhà đầu tư này phụ thuộc như thế nào đối với quyết định của nhà đầu tư
khác, tác giả sử dụng phương trình hồi quy của (Tan et al., 2008) để kiểm định mối quan hệ giữa mức độ
phân tán của lợi nhuận thị trường với thông tin giao dịch chéo từ thị trường khác. Tại sàn HNX, bằng cách
thêm vào phương phương trình (3) biến bình phương lợi nhuận thị trường HoSE, hệ số hồi quy
3

của biến
này có ý nghĩa thống kê sẽ giúp ta giải thích được mức độ phụ thuộc nhà đầu tư tại sàn HNX đối với nhà đầu
tư tại sàn HoSE và ngược lại. Các phương trình cụ thể như sau:
 
 
22
1 , 2 , 3 ,
22
1 , 2 , 3 ,

)
CSAD
R-UP
a
R-DOWN
b
CSAD-
UP
c
CSAD-
DOWN
d
Mean
-0.000291
0.008264
0.006491
-0.006806
0.008365
0.008167
Median
-0.000300
0.008188
0.005289
-0.005444
0.008406
0.008015
Maximum
0.020416
0.018861
0.020416

3.682297
Jarque-Bera
0.77242
23.3666
***
76.5092
***
94.7730
***
19.0127
***
16.8786
***
Observations
1245
1245
610
635
610
635
Bảng 2.2: Thống kê mô tả của lợi nhuận thị trường hàng ngày và trị tuyệt đối của độ lệch lợi nhuận theo thời điểm (CSAD) từ
1/6/2007 đến 1/6/2012 tại HNX
Chỉ số thống

Lợi nhuận
hàng ngày
(R
m,t
)
CSAD

Minimum
-0.045640
0.000000
0.000000
-0.045639
0.000000
0.002749
Std.Dev
0.010238
0.004197
0.006950
0.006724
0.004111
0.004217
Skewness
0.040930
0.468027
1.430443
-1.766055
0.365994
0.578665
Kurtosis
4.403406
3.214553
5.356252
6.615150
3.616433
3.027211
Jarque-Bera
102.5179

mt
RR
. %.
b
Lợi nhuận thị trường tại thời điểm t khi thị trường giảm điểm
,
( 0)
DOWN
mt
RR
.
c
CSAD tại thời điểm t khi
,
UP
mt
R
.
d
CSAD tại thời điểm t khi
,
DOWN
mt
R

Mức phân tán trung bình của lợi nhuận (cross-sectional absolute deviation-CSAD) của toàn bộ thị
trường là 0.826%/ ngày tại sàn HoSE và 1.113%/ngày tại sàn HNX, với sai số chuẩn lần lượt là 0.307% và
0.42%. Với kết quả ban đầu của CSAD-UP và CSAD-DOWN cho thấy trong thị trường tăng điểm mức độ
phân tán của lợi nhuận thị trường (0.837%) cao hơn so với thị trường giảm điểm (0.817%). Con số này cũng
nhất quán với kết thống kê tại sàn HNX khi CSAD-UP là 1.168% và CSAD-DOWN là 1.069%. Theo lý

Constant
0.0082
***
(44.672)
0.0082
***
(31.907)
0.0080
***
(60.550)
Absolute market return
,mt
R

0.2574
***
(5.0762)
0.2574
***
(3.2775)
0.2493
***
(6.6952)
Square term of market return
2
,mt
R

12.1830
11.9461
Adj. R
2
(%)
12.0416
12.0416
11.5908
F-statistic
86.1525
***
74.5347
***
114.145
***
***
,
**
,
*
Có ý nghĩa thống kê lần lượt ở các mức 1%, 5% và 10%. Phương trình ước lượng được sử dụng trong bảng trên là
2
1 , 2 ,

t m t m t t
CSAD R R
   
   
. Trong đó, CSADt là trị tuyệt đối của độ lệch lợi nhuận ở thời điểm t (cross-sectional absolute
deviation);

(44.745)
Absolute market return
,mt
R

0.3140
***
(7.1700)
0.3140
***
(5.4042)
0.3349
***
(9.7473)
Square term of market return
2
,mt
R

-4.1109
***
(-2.6581)
-4.1109
*
(-1.9412)
-4.4519
***
(-4.2189)
Conditional variance equation


***
115.6195
***
Giá trị âm của hệ số ước lượng biến
2
,mt
R
trong cả 2 bảng (tương ứng với hai sàn chứng khoán) giải
thích rằng hành vi bầy đàn có tồn tại trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
8

Mặc dù phương pháp Newey-West giải quyết vấn đề về sai số chuẩn và làm cho kết quả ước lượng
hợp lý hơn, nhưng trong trường hợp này kết quả của các tham số được ước lượng không thay đổi ý nghĩa so
với kết quả hồi quy trước đó. Có thể do phương pháp ước lượng Newey-West trong trường hợp này chưa đủ
mạnh để khắc phục vi phạm về phần dư
Ở bước tiếp theo tác giả tiếp tục ước lượng phương trình hồi quy bằng mô hình GARCH (1,1), là mô
hình được các nhà khoa học đánh giá khá mạnh trong xử lý các dữ liệu tài chính và chuỗi thời gian. Kết quả
ước lượng một lần nữa cho thấy hệ số hồi quy của biến
2
,mt
R
đạt giá trị âm và có ý nghĩa thống kê ở mức cao
(mức 1%) cho cả hai sàn giao dịch chứng khoán HoSE và HNX.
Điều này có thể khẳng định rằng có sự tồn tại của hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt
Nam, phù hợp với giả thuyết nghiên cứu 1 đã được đưa ra phần trước. Kết quả này cũng nhất quán với các
kết quả nghiên cứu của (Chang, 2000) về hành vi bầy đàn tại thị trường chứng khoán mới nổi như Đài Loan,
Hàn Quốc cũng như các kết quả nghiên cứu tại Việt Nam của (V. Kallinterakis, 2007) và của (My & Truong,
2011).
2.3.4.2. Đánh giá sự bất cân xứng trong hành vi bầy đàn lúc thị tăng và giảm điểm
Kết quả kiểm định sự bất cân xứng của hành vi bầy đàn tại thị trường chứng khoán Việt Nam giữa xu

điểm (phụ lục 7)
Phương pháp OLS có
kết hợp Newey-West
khi thị trường giảm
điểm (phụ lục 8)
Constant
0.0087
***
0.0076
***
Absolute market return
,mt
R

0.2078
**
(2.5332)
0.3435
***
(3.0917)
Square term of market return
2
,mt
R

-23.799
***
(-5.7078)
-23.932
***

,
**
,
*
Có ý nghĩa thống kê lần lượt ở các mức 1%, 5% và 10%. Phương trình ước lượng được sử dụng trong bảng trên là
 
1 , 2
2
,,
if >0
mt
UP UP UP UP UP
t m t t m t
CSAD R R R
   
   

 
1 , 2
2
,,
if <0
mt
DOWN DOWN DOWN DOWN DOWN
t m t t m t
CSAD R R R
   
   
Giá trị trong dấu ngoặc đơn là giá trị thống kê t-statistic
Đối với sàn chứng khoán HNX, hành vi bầy đàn của các nhà đầu tư chỉ được phát hiện lúc thị trường

Constant
0.0096
***
0.0088
***
Absolute market return
,mt
R

0.3716
***
(5.6680)
0.2626
***
(3.7050)
Square term of market return
2
,mt
R

-8.0893
***
(-3.6203)
-0.8706

(-0.3554)
R
2
(%)
9.7475

 
1 , 2
2
,,
if >0
mt
UP UP UP UP UP
t m t t m t
CSAD R R R
   
   

 
1 , 2
2
,,
if <0
mt
DOWN DOWN DOWN DOWN DOWN
t m t t m t
CSAD R R R
   
   
Giá trị trong dấu ngoặc đơn là giá trị thống kê t-statistic
Cho dù có sự khác biệt về hành vi bầy đàn lúc thị trường tăng và giảm, song kết quả kiểm định tại sàn
HNX một lần nữa cho thấy giả thiết nghiên cứu 2 không được chấp nhận.
2.3.4.3. Về mối liên hệ của hành vi bầy đàn với thông tin giao dịch chéo
Bảng 2.8 mô tả kết quả ước lượng về sự tác động của thông tin giao dịch chéo của hai sàn HoSE và
HNX. Trong cả hai sàn giao dịch
2


(8.2676)
2


-24.528
***

(-12.203)
-4.5982
***
(-4.7359)
3


2.2489
***
(8.0568)
6.5335
***
(5.5630)
Conditional variance equation RESID (-1) ^2
0.2134
***

(5.3750)
0.1256


22
1 , 2 , 3 ,HNX HNX t HNX t HoSE t t
CSAD R R R
    
    
. Giá trị trong dấu ngoặc đơn là giá trị thống kê z-statistic
Tuy nhiên, hệ số ước lượng
3

đều có giá trị dương (đạt 2.2489 với t-statistic bằng 8.0568 tại HoSE và
đạt 6.5335 với t-statistic bằng 5.5630 tại HNX). Dù
3

có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, nhưng kết quả dương
của hệ số này diễn ra tại hai sàn cho thấy không có bằng chứng ủng hộ quan điểm cho rằng độ phân tán lợi
nhuận thị trường giảm khi các nhà đầu tư tham khảo thông tin chéo từ thị trường khác. Qua đây ta cũng bác
bỏ giả thiết nghiên cứu 3 được đặt ra ở phần trước cho rằng hành vi bầy đàn bị tác động bởi thông tin giao
dịch ở thị trường chứng khoán xung quanh nó.

CHƢƠNG 3: GỢI Ý NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM ỨNG XỬ TÁC ĐỘNG CỦA HÀNH VI BẦY
ĐÀN
Nhìn chung, việc tạo ra hành vi bầy đàn do ba nhân tố cơ bản chi phối gồm: môi trường chính sách
điều hành thị trường chứng khoán, công bố thông tin và các nhân tố hành vi. Trong phần này, đề tài sẽ đề
xuất một số khuyến nghị để làm giảm tác động của hành vi bầy đàn nhằm làm gia tăng tính hiệu quả của thị
trường.
Thứ nhất, việc minh bạch hóa thông tin là vấn đề tối cần thiết để nâng cao tính hiệu quả thị trường.
Nâng cao hiệu lực của các quy định pháp luật
Mục tiêu của minh bạch hoá thông tin nhằm hướng tới công bằng trong đầu tư giữa những nhà đầu tư
nhỏ lẻ với các tổ chức đầu tư lớn. Đề tài đề xuất mức tối đa khung mức phạt nên bằng với mức tối đa quy

năng xảy ra khi tình trạng tăng (giảm) điểm kịch trần (sàn) kéo dài của những cổ phiếu mới niêm yết hay
những công ty đột ngột có mức lợi nhuận đột biến. Nhưng ở chiều hướng đối lập, việc loại bỏ quy định biên
độ giao dịch, áp dụng nghiệp vụ bán khống có thể khiến thị trường phản ứng thái quá trước thông tin được
công bố, gây ra biến động mạnh của thị trường một cách bất hợp lý.
Do đó, cần nghiên cứu kỹ về vấn đề sử dụng biên độ bao nhiêu % là phù hợp để giúp thị trường có
những điều chỉnh hợp lý hơn. Đồng thời, nghiên cứu về cơ sở pháp lý, điều kiện thị trường, đặc biệt nâng cao
chất lượng hạ tầng thông tin để có thể triển khai nghiệp vụ bán khống trên thị trường vào thời điểm thích hợp.
Thứ tư, Tăng lượng chứng khoán tự do giao dịch và đa dạng hơn các loại hàng hóa.
Với tỷ lệ sở hữu nhà nước trong các công ty niêm yết khá cao như hiện nay, việc giảm sở hữu nhà
nước là một giải pháp để giúp số lượng cổ phiếu tự do giao dịch trên thị trường tăng, làm tăng hàng hóa cho
thị trường. Hơn nữa nhiều nghiên cứu trên thế giới đã kết luận sở hữu nhà nước giảm sẽ gia tăng hiệu quả
quản trị công ty do gia tăng giám sát của các nhà đầu tư chuyên nghiệp bên ngoài, từ đó thông tin tài chính
và tình hình hoạt động của doanh nghiệp sẽ được minh bạch hơn. Ngoài ra cần xem xét đưa ra thị trường
nhiều loại hàng hóa khác đặc biệt là xây dựng lộ trình phát triển thị trường phái sinh để tăng cơ hội đầu tư
cũng như giúp nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro cho danh mục đầu tư của họ.
Thứ năm, xây dựng lộ trình rút ngắn chu kỳ giao dịch T+3 hiện nay.
Rút ngắn chu kỳ giao dịch xuống T+1 ngoài việc giúp tăng thanh khoản cho thị trường còn có nhiều
lợi ích khác như giảm rủi ro hoạt động (do xử lý tự động) và giảm rủi ro tín dụng (do rút ngắn 2/3 thời gian).
Tuy nhiên việc chuyển đổi nên có lộ trình cụ thể, lộ trình này có thể bao gồm ba giai đoạn: giai đoạn đề xuất
dự án; giai đoạn đấu thầu và thực hiện nâng cấp cơ sở hạ tầng ở Sở giao dịch và Trung tâm lưu ký, đây cũng
là giai đoạn để các thành viên đầu tư hạ tầng sẵn sàng cho việc kết nối với hệ thống trung tâm khi chuyển
sang T+1; giai đoạn thử nghiệm hệ thống, giai đoạn này vẫn thực hiện cơ chế giao dịch T+3 để đánh giá mức
độ ổn định trước khi chuyển sang giao dịch theo T+1.
Thứ sáu, cần nâng cao năng lực nhà đầu tư và khuyến khích phát triển nhà đầu tư tổ chức
Sự thiếu hiểu biết hay kém cỏi về năng lực cũng như kiến thức liên quan đến việc đầu tư trên thị
trường chứng khoán cũng là một trở ngại đối với việc hạn chế tâm lý bầy đàn trên thị trường. Một số công ty
chứng khoán cũng tổ chức hướng dẫn cho các nhà đầu tư nhưng vẫn còn sơ xài và chưa hiệu quả. Chủ yếu
vẫn là hướng dẫn về cách thức thực hiện giao dịch trên thị trường mà chưa chú trọng đến các kiến thức về
quản lý danh mục đầu tư. Để khắc phục điều này tất nhiên cần có sự mở rộng về quy mô cũng như chất
lượng đào tạo nhằm cung cấp cho nhà đầu tư được những kiến thức, kỹ năng cần thiết khi hoạt động trên thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status