Luận văn
Đo lường hành vi bầy đàn
trên thị trường chứng khoán
Việt Nam
i
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TÂM LÝ BẦY ĐÀN – NGUYÊN NHÂN CỦA TÂM LÝ BẦY ĐÀN
3
1.1. Tâm lý bầy đàn 3
Tâm lý bầy đàn theo thông tin 5
Tâm lý bầy đàn theo danh tiếng 5
Tâm lý bầy đàn theo thù lao 5
1.2. Nguyên nhân tạo ra tâm lý bầy đàn 7
1.2.1. Các nhân tố hành vi – Lý thuyết tài chính hành vi 8
1.2.1.1. Hành vi bất hợp lý 9
Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán (Heuristics) 9
Tự tin thái quá (Overconfidence) 9
Tính toán bất hợp lý (Mental Accounting) 10
Theo khuôn mẫu (Framing) 10
Lệch lạc do tình huống điển hình (Representativeness) 11
Bảo thủ (Conservatism) 12
1.2.1.2. Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống 12
1.2.1.3. Giới hạn về khả năng kinh doanh chênh lệch giá 13
ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
Bảng biểu:
Bảng 1: Thống kê cơ bản thị trường chứng khoán (HOSE)
Bảng 2: Thống kê cơ bản beta chéo theo từng tháng
Bảng 3: Log (Độ lệch chuẩn của beta chéo)
Bảng 4: Kết quả ước lượng từ các mô hình
Bảng 5: Giá trị ước lượng của h
mt
dựa vào mô hình (10)&(8)
Đồ thị
Đồ thị 1: VN-Index
Đồ thị 2: Khối lượng giao dịch HOSE
Đồ thị 3: Hành vi bầy đàn trên thị trường theo thị trường
Đồ thị 4: Hành vi bầy đàn và độ biến động thị trường
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO NGHIÊN CỨU
Tâm lý (hành vi) bầy đàn
1
là một hiện tượng phổ biến trong thị trường tài chính
nói chung – thị trường chứng khoán nói riêng, bất kể thị trường phát triển hay
đang phát triển. Hành vi bầy đàn nói chung đã góp phần làm giảm tính hiệu quả
của thị trường, và trong nhiều trường hợp dẫn đến những phản ứng quá mức,
2
Xem thêm ở phụ lục 1
2
Những giải pháp nào cần tiến hành để hạn chế hành vi bầy đàn trên thị
trường?
Để giải đáp cho những câu hỏi trên, đề tài này nhằm vào các đối tượng nghiên
cứu cụ thể sau đây:
Tìm hiểu các nghiên cứu về hành vi bầy đàn trên thế giới, về các mặt
nguyên nhân và mô hình đo lường
Xác định những nguyên nhân gây ra hành vi bầy đàn trên TTCK Việt Nam
Xử lý và phân tích dữ liệu về TTCK Việt Nam, sử dụng mô hình của
Hwang & Salmon (2004) để chứng minh sự tồn tại và đo lường mức độ
hành vi bầy đàn trên TTCK Việt Nam
Đề xuất những giải pháp góp phần hạn chế hành vi bầy đàn trên thị trường
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính, định
lượng, thống kê nhằm làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu. Đối với phương pháp
định lượng, đề tài sử dụng phương pháp lọc Kalman để giải quyết mô hình
không gian trạng thái (State-space model) theo đề xuất từ Hwang & Salmon
(2004), từ đó ước lượng các tham số của nhân tố hành vi bầy đàn.
5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Tìm hiểu về tâm lý bầy đàn và những nguyên nhân gây ra tâm lý
bầy đàn trên thị trường.
Chương 2: Phân tích những nguyên nhân gây ra tâm lý bầy đàn trên TTCK
bầy đàn). Hành vi bầy đàn là thuật ngữ dùng để chỉ sự điều chỉnh tương thích
với một phương thức thực hiện và được thể hiện như là “một sự tương đồng
trong hành vi theo sau các quan sát tương tác” về hành động và kết quả phát
sinh từ những hành động này giữa các cá nhân (Hirshleifer và Teoh, 2003).
Trong thị trường chứng khoán, hành vi bầy đàn bao hàm việc các nhà đầu tư có
xu hướng bỏ qua các thông tin riêng mà thiên về các kết quả quan sát
(Bikhchandani và Sharma, 2001) không tương thích với các yếu tố cơ bản, nền
tảng của thị trường (Hwang và Salmon, 2004). Đó là hành vi mà các cá nhân
thiết lập dựa trên việc quan sát hành động của những người khác, hay nói cách
khác đó là hành động bắt chước nhau.
4
“Hành vi bầy đàn – mọi người hành động theo những gì mà những người khác
đang làm, thậm chí ngay cả khi thông tin riêng của họ cho thấy nên hành động
một cách khác đi”. (Banerjee (1992))
Tâm lý bầy đàn thể hiện ở cả nhà đầu tư nhỏ lẻ và cả các nhà đầu tư tổ chức.
Đối với nhà đầu tư nhỏ lẻ, vì những giới hạn trong việc sở hữu thông tin cũng
như những trường hợp xem xét như được đề cập ở trên, những người này dễ
dàng bị cuốn vào các “trò chơi tạo ra xu thế” hay nói một cách đơn giản là các
trò “làm giá” của các tổ chức. Đồng thời, những tin đồn, các thông tin ngoài
luồng với chất lượng thấp đôi khi cũng “được” các nhà đầu tư nhỏ lẻ “tận dụng
một cách triệt để” và kết cục là tạo ra một đám đông hành động giống nhau
theo một cách bất hợp lý. Còn đối với các nhà đầu tư tổ chức, tâm lý bầy đàn
được tạo ra từ những người quản lý, ban điều hành các tổ chức này. Những
người quản lý các tổ chức, các định chế tham gia thị trường không phải với
mục tiêu đưa thị trường về trạng thái hợp lý, hiệu quả thông qua kinh doanh
chênh lệch giá. Mà những người này tham gia thị trường cũng chỉ vì mục đích
kiếm tiền và bảo vệ cho sự an toàn trong nghề nghiệp của chính họ. Vì thành
quả hoạt động của họ bị đánh giá (Sharfstein và Stein, 1990) trên cơ sở so sánh
với thành quả hoạt động của những người có vị trí tương tự và vì trình độ cũng
Tâm lý bầy đàn theo danh tiếng
Một giả thuyết khác là hành vi bầy đàn theo danh tiếng của những nhà quản lý
quỹ và nhân viên phân tích tài chính. Họ được thuê mướn để đưa ra những báo
cáo, nhận định, dự đoán thị trường, hay giá cả. Nếu dự đoán của họ khác xa với
những dự báo khác từ những nhà phân tích hay quản lý quỹ mà dự báo của họ
lại không chính xác thì danh tiếng của họ sẽ tổn hại. Họ sẽ không được thăng
tiến hay thậm chí bị sa thải. Do vậy, những nhà quản lý quỹ hay các nhà phân
tích (đặc biệt là những người ít kinh nghiệm) sẽ bắt chước theo những dự đoán
của những người khác. Và như thế, tâm lý bầy đàn theo danh tiếng.
Tâm lý bầy đàn theo thù lao
Nếu mức thù lao của một quản lý đầu tư phụ thuộc vào tỉ suất lợi nhuận của
danh mục đầu tư so với benchmark. Benchmark có thể là một chỉ số hoặc tỉ
suất lợi nhuận của những quản lý khác. Khi đó nhà quản lý có xu hướng lựa
chọn những khoản đầu tư không hiệu quả vì nhà quản lý có thể sẽ quan sát
những người khác hay benchmark để bắt chước cho theo kịp, và điều này cũng
6
có thể dẫn tới hành vi bầy đàn. Nếu thù lao của nhà đầu tư giảm khi tỉ suất lợi
nhuận nhỏ hơn benchmark thì càng có động lực để nhà quản lý bắt chước theo.
Nhìn chung, việc phân loại các dạng tâm lý bầy đàn như trên chỉ mang tính
tham khảo, chứ chưa có một chuẩn mực được chấp nhận chung nào về vấn đề
này. Tuy nhiên, có một điểm cần đặc biệt chú ý là cần nhận thức rõ rằng tâm lý
bầy đàn thường được đề cập trong các nghiên cứu, phân tích là tâm lý bầy đàn
có chủ ý (intentional herding), khác với tâm lý bầy đàn giả (spurious herding)
3
tạo ra khi các nhóm nhà đầu tư đưa ra các quyết định tương tự nhau dựa trên
các phân tích độc lập từ các tập hợp thông tin tương tự nhau.
Tâm lý bầy đàn dĩ nhiên không phải là “đặc sản” của riêng thị trường chứng
là hành vi bầy đàn dựa trên sự suy tính hợp lý, khôn ngoan.
Ở góc độ tâm lý, hành vi bầy đàn được cho là phát sinh từ chính bản chất con
người, theo đó con người có xu hướng hướng đến sự tuân theo (Hirshleifer,
2001) qua quá trình trao đổi thông tin gữa các cá nhân. Sự trao đổi thông tin
này có thể là bằng cách nói chuyện trực tiếp giữa các cá nhân (Shiller, 1995)
hay một sự hiểu ngầm khi các cá nhân quan sát sự lựa chọn của những người
khác (Bihkchandani và đồng sự, 1992). Ngoài ra, còn có các nhân tố hành vi
khác tác động đến cách hành xử của nhà đầu tư như: sự phụ thuộc vào kinh
nghiệm hay thuật toán máy móc, lệch lạc nhận thức do tình huống điển hình, tự
tin thái quá, tính toán bất hợp lý, bảo thủ, theo khuôn mẫu. Khi tâm lý con
người mắc phải những hiện tượng tâm lý trên thì họ có khuynh hướng thờ ơ,
hoặc phản ứng chậm, phản ứng với mức độ yếu, không phù hợp hoặc phản ứng
quá mức trước những thông tin được công bố. Tất cả những yếu tố này đều tác
động đến quyết định của con người, và đặc biệt trong những hoàn cảnh mà có
rất ít thời gian để suy nghĩ đưa ra quyết định, hành động của một người hay
một nhóm người có thể dẫn đến hành động của những người khác. Chính tâm
lý sợ hãi phải hành động riêng lẻ hay không muốn đi ngược trào lưu đã dẫn đến
xu hướng các cá nhân bắt chước nhau (dù hành động đó hợp lý hay vô lý), và
điều này tạo nên hành động bầy đàn của nhà đầu tư trên thị trường.
Ở khía cạnh khác, hành vi bầy đàn cũng có thể được tạo ra từ những xem xét
khôn ngoan, có tính hợp lý. Devenow và Welch (1996) cho thấy rằng tâm lý
bầy đàn có thể được gây ra bởi những sự xem xét khôn ngoan, nếu việc thực
hiện hành vi “bắt chước” đó dựa trên việc nhận ra những thông tin về kết quả
hành động của của những cá nhân khác. Sự xem xét này có thể xảy ra trong 4
trường hợp: (a) cá nhân không sở hữu bất kỳ thông tin riêng nào, (b) có thông
8
tin riêng nhưng thông tin chưa chắc chắn vì chất lượng thông tin là thấp, (c)
không tự tin vào khả năng xử lý thông tin của mình (d) nhận thấy hay cho rằng
những người khác sở hữu những thông tin tốt hơn. Điều này được góp phần tạo
9
dựa trên lý trí, cũng có thể là quyết định dựa trên cảm tính, và cũng có thể là
một sự kết hợp đồng thời giữa lý tính và cảm tính.
5
Lý thuyết tài chính hành vi lý giải tính không hiệu quả của thị trường đặt trong
sự tồn tại của những nhân tố hành vi, những nhân tố mà góp phần tạo ra tâm lý
bầy đàn trong thị trường.
6
Bao gồm:
1.2.1.1. Hành vi bất hợp lý
Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán (Heuristics)
Việc phụ thuộc vào kinh nghiệm khiến con người đưa ra quyết định một cách
dễ dàng và nhanh chóng. Điều này thỉnh thoảng sẽ dẫn đến những sai lầm trong
quyết định, đặc biệt là khi các điều kiện bên ngoài thay đổi, và thậm chí có thể
dẫn đến các quyết định đầu tư nằm dưới điểm tối ưu. Đặc biệt người ta thường
đề cao hiệu quả của những quy tắc đơn giản, gần gũi và dễ nhớ, kiểu hiệu ứng
mà Tversky và Kahneman (1979) gọi là hiệu ứng quy tắc có sẵn (availability
heuristic). Một ví dụ của Benartzi và Thaler (2001) đó là khi đối mặt với N lựa
chọn làm thế nào để đầu tư số tiền tiết kiệm của mình, nhiều người đã nhanh
chóng sử dụng quy tắc 1/N (có nghĩa là nếu có N loại hình đầu tư, họ sẽ đầu tư
1/N số tiền của mình vào mỗi loại hình đầu tư đó).
Tự tin thái quá (Overconfidence)
Có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng con người đã quá tự tin vào những khả
năng của mình, họ thường nghĩ rằng họ biết nhiều hơn những gì họ làm. Chính
sự tự tin quá mức đã dẫn đến những quyết định sai lầm khi họ quá chú trọng
đến những thông tin tốt của các công ty được đánh giá và lờ đi những thông tin
xấu, chính điều này làm cho họ tin rằng những cổ phiếu mà họ đang đầu tư là
những cổ phiếu tốt. Và vì thế, họ có xu hướng đầu tư rất nhiều vào một loại
Theo khuôn mẫu (Framing)
Theo khuôn mẫu là một khái niệm cho thấy nội dung của một vấn đề riêng biệt
sẽ được thể hiện như thế nào. Ví dụ, một nhà hàng có thể quảng cáo về một
món ăn đặc biệt hay là những khoản chiết khấu cho khách hàng, nhưng họ sẽ
không bao giờ áp dụng các khoản phụ phí vào giờ cao điểm cho khách hàng.
Như vậy, nếu khách hàng cảm thấy rằng mình đang nhận được một khoản chiết
khấu vào giờ thấp điểm hơn là phải trả một khoản phụ phí vào giờ cao điểm thì
nhà hàng sẽ kinh doanh được nhiều hơn, thậm chí nếu giá là như nhau.
Như vậy, khái niệm này không phân tích một vấn đề một cách toàn cục, mà bó
buộc trong một khuôn khổ hạn hẹp. Mặc dù kết quả là như nhau nhưng sự khác
nhau về khuôn mẫu (cách thức diễn đạt khác nhau) có thể tạo cho nhà đầu tư có
7
Brad M. Barber and Terrance Ocean (2001), “Boys will be boys: Gender, Overconfidence, and
Common Stock Investment", The Quarterly Journal of Economics (2001)”
11
những phản ứng sai lệch về những rủi ro liên quan đến thông tin được truyền
đạt.
Lệch lạc do tình huống điển hình (Representativeness)
Con người có xu hướng đánh giá xác suất của một sự kiện bằng cách lấy một
sự kiện đặc trưng có thể so sánh được và giả định rằng xác suất là tương tự.
Điều này chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm mà chúng ta có được trong quá
khứ. Ngay từ khi mới sinh ra, con người đã có xu hướng phân loại các hiện
tượng, sự vật và suy nghĩ. Khi con người đối mặt với một hiện tượng mới,
không hoàn toàn phù hợp với hiện tượng đã phân loại trước đó, họ cũng sẽ cố
đưa chúng vào một tập hợp nào đó dựa trên những sự tương đồng đã kiếm được
và từ đó sẽ định hình nên nền tảng để họ có thể hiểu biết về những nhân tố mới.
Cách thức tiếp thu này cung cấp một công cụ hữu hiệu cho việc xử lý thông tin
mới bằng cách đồng thời kết hợp với những kinh nghiệm có liên quan trong
nào đó).
9
Bảo thủ (Conservatism)
Khi điều kiện thay đổi, con người có xu hướng chậm thay đổi với những điều
kiện đó. Hay nói cách khác, họ gắn chặt những thói quen của mình với những
điều kiện trước đó. Tức là khi có tin nền kinh tế suy giảm, họ cho rằng kinh tế
kém đi chỉ là tạm thời, dài hạn vẫn là đi lên, mà không nhận thấy điều này phát
đi tín hiệu một chu kỳ suy thoái nhiều năm đã bắt đầu.
Hiệu ứng này ngược lại với lệch lạc do tình huống điển hình. Con người chậm
phản ứng trước những sự thay đổi do những thói quen dài hạn trước đó. Nhưng
nếu thời gian đủ dài, họ sẽ điều chỉnh để phù hợp với điều kiện thay đổi. Ví dụ,
khi ban đầu tin tức công bố của một công ty cho thấy lợi nhuận giảm, người ta
vẫn tin rằng đây chỉ là giảm tạm thời, và phản ứng chậm với thông tin này, nên
giá cổ phiếu công ty có tin xấu vẫn giảm chậm. Đến khi liên tục vài quý sau,
tình hình vẫn xấu, thì người ta đã “phát hiện” ra một tình huống điển hình mới:
Công ty này quý trước cũng kinh doanh kém, quý này cũng kinh doanh kém,
vậy nên bán tống cổ phiếu công ty này đi để tránh lỗ. Thế là mọi người đổ xô
đi bán cổ phiếu. Kết quả, lại dẫn đến phản ứng thái quá.
1.2.1.2. Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống
10
Nếu chỉ một nhà đầu tư đơn lẻ có hành vi không hợp lý, thì ảnh hưởng của giao
dịch của nhà đầu tư này lên giá cổ phiếu trên thị trường là không đáng kể (cho
dù là một tổ chức đầu tư lớn thì ảnh hưởng cũng rất hạn chế nếu chỉ đơn độc
9
Thạc sĩ Lê Đạt Chí , “Ứng dụng lý thuyết tài chính hành vi”
10
Thạc sĩ Hồ Quốc Tuấn, “Tài chính hành vi: Nghiên cứu ứng dụng tâm lý học vào tài chính”, Tạp chí
và xử lý thông tin của họ lại bị hạn chế, nghĩa là giới hạn khả năng tính toán
của bộ óc con người.
14
Trong lý thuyết trò chơi, giới hạn duy lý là khái niệm dựa trên thực tế về lí trí
của các cá nhân là bị hạn chế bởi những thông tin mà họ có, những hạn chế về
nhận thức tư duy, và thời gian hạn chế trong việc đưa ra quyết định. Đồng thời
các quyết định của con người là thiếu khả năng và nguồn lực để đi đến giải
pháp tối ưu. Họ chỉ có thể đưa ra sự lựa chọn hợp lý khi các sự lựa chọn là
được đơn giản hóa và có sẵn. Và như vậy, quyết định đưa ra được thỏa mãn.
Con người cũng mong muốn có sự lựa chọn thỏa mãn hơn là một sự lựa chọn
tối ưu. Một số mô hình về hành vi con người trong khoa học xã hội giả định
rằng con người có thể được mô tả như những thực thể hợp lý hoặc xấp xỉ hợp
lý (lý thuyết hữu dụng kỳ vọng - lựa chọn hợp lý). Nhiều mô hình kinh tế giả
định rằng quyết định của con người là bình quân hợp lý và có số lượng thông
tin vừa đủ để hành động theo sở thích của mình. Tuy nhiên, khái niệm giới hạn
duy lý đã điều chỉnh giả định này nhằm giải thích cho sự thật rằng các quyết
định hoàn toàn hợp lý là thường không khả thi trong thực tế do các nguồn tài
nguyên tính toán là hữu hạn. Chính sự giới hạn năng lực là một trong những
nhân tố đã dẫn đến việc nhà đầu tư có xu hướng quan sát và hành động theo
đám đông.
1.2.2. Bất cân xứng thông tin
Thông tin được công bố được cho là yếu tố quan trọng để giúp những nhà đầu
tư đưa ra quyết định của mình một cách hợp lý cũng như bảo vệ duy trì trạng
thái ổn định của thị trường. Nhưng có một thực tế rằng là không phải lúc nào
thông tin cũng được cung cấp một cách đầy đủ và kịp thời. Dù sao đi nữa thì
với lý do này hay lý do khác đều có những cá nhân tiếp cận những thông tin
này sớm hơn cả thị trường trước khi nó được công bố cho dù là một khoảng
thời gian rất ngắn. Và việc một nhà đầu tư hay một nhóm các nhà đầu tư sở hữu
được một lượng thông tin so với phần còn lại của thị trường như vậy được gọi
nó và những người được cung cấp thông tin dạng này sẽ mua chứng khoán
với một mức giá hời.
Trong mỗi thị trường tài chính đều có những quy định về công bố thông tin
kiểm toán cũng như các công tác thẩm định tài sản. Đặc biệt trong lĩnh vực
chứng khoán và ngân hàng nơi mà công bố thông tin là công cụ có hiệu lực
mạnh nhất trong việc giám sát thị trường và bảo vệ các nhà đầu tư. Đôi khi
chính vì sự thiếu hợp lý trong những quy định này lại làm cho công bố
16
thông tin giảm đi vai trò của nó. Việc lợi dụng những kẽ hở để lách luật
nhằm mục đích lợi nhuận luôn xuất hiện trên thị trường.
Rủi ro đạo đức của những người điều hành hay nắm giữ thông tin trước khi
nó được công bố ra thị trường. Các thông tin về cung cầu cổ phiếu trên thị
trường, các quyết định của doanh nghiệp về chia cổ tức: thời gian, tỷ lệ, cổ
phiếu thưởng …cũng như thông tin về việc tăng quy mô vốn và mở rộng
đầu tư …Họ sẽ tiết lộ thông tin cho các mối quan hệ bạn bè hay gia đình
nhằm giúp các cá nhân này kiếm lời trước khi mà những thông tin này đến
tay nhà đầu tư. Chính vì vậy họ luôn nắm giữ thế chủ động.
Ngoài ra, ngay cả khi công bố thông tin thì đầy đủ và kịp thời nhưng việc
diễn giải, trình bày thông tin đến tay nhà đầu tư còn nhiều bất cập. Rất
nhiều thông tin được cung cấp bởi các cơ quan uy tín nhưng vẫn sai lệch
làm nhà đầu tư ngày càng hoang mang trong việc lựa chọn nguồn thông tin
an toàn và chính xác. Và chính điều này là cơ hội để nhiều đối tượng tung
tin đồn thất thiệt đến nhà đầu tư. Ảnh hưởng đến uy tín cũng như chất lượng
của các cổ phiếu trên sàn giao dịch. Thông qua các diễn đàn đầu tư hay
truyền tai nhau đã khiến cho nhiều nhà đầu tư đưa ra những quyết định sai
lầm. Điển hình là những nhà đầu tư theo xu hướng còn non trẻ chưa có kinh
Phần này của đề tài sẽ phân tích nguyên nhân TTCK Việt Nam chưa hiệu quả
dưới góc nhìn của tài chính hành vi thông qua tâm lý bầy đàn (hành vi bầy
đàn). Mục tiêu của chương này bao gồm:
Làm rõ cơ sở tạo ra tạo ra tâm lý bầy đàn trên TTCK Việt Nam
Đo lường mức độ hành vi bầy đàn trên thị trường
Làm rõ những biểu hiện của hành vi bầy đàn trên thị trường qua các giai
đoạn phát triển
2.1. Giới thiệu TTCK Việt Nam
TTCK Việt Nam chính thức hoạt động kể từ tháng 7/2000 khi Trung tâm giao
dịch chứng khoán (TTGDCK) TP. Hồ Chí Minh đi vào vận hành và thực hiện
phiên giao dịch đầu tiên. Sau khi TTGDCK TP. Hồ Chí Minh đi vào hoạt động
được khoảng 6 năm, đến năm 2005, TTGDCK Hà Nội cũng được đưa vào hoạt
động. Đến nay, các TTGDCK này đã được chuyển đổi thành các Sở Giao dịch
Chứng khoán: Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở
Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Kể từ những ngày đầu mới đưa vào
hoạt động với chỉ vài công ty niêm yết đến nay quy mô thị trường đã gia tăng
vượt bậc. Tính đến thời điểm ngày 07/05/2010, toàn thị trường đã có 516 cổ
phiếu và 4 chứng chỉ quỹ niêm yết, trong đó HOSE có 229 cổ phiếu và 4 chứng
chỉ quỹ; HNX có 287 cổ phiếu. Giá trị cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết hiện
nay ở HOSE đạt hơn 116 ngàn tỷ đồng; ở HNX đạt hơn 40 ngàn tỷ đồng. Bên
cạnh hai sàn chứng khoán tập trung, hiện tại TTCK Việt Nam còn có thị trường
giao dịch chứng khoán phi tập trung (thị trường OTC) và sàn UPCoM.
11
2.2. Một số biểu hiện hành vi bầy đàn trên thị trường
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam, hành vi bầy
đàn là một biểu hiện nổi bật trong thị trường.
tức tăng vọt, từ mức xấp xỉ 900 điểm vào cuối tháng 8, 2007 lên mức 1100
điểm vào giữa tháng 10, 2007. Một vài ví dụ khác có thể liệt kê là cuối tháng 3-
2010, Ngân hàng HSBC đưa ra dự báo: NHNN sẽ tăng lãi suất cơ bản thêm 1%
trong một vài tuần tới và tỷ lệ lạm phát sẽ lên đến 12% vào cuối quý II/2010.
Lập tức, tâm lý bi quan xuất hiện và nhiều nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu, VN-
Index rớt từ 512 xuống còn 503 điểm.
Ngoài ra, hành vi bầy đàn trên thị trường còn biểu hiện qua nhiều thời điểm các
nhà đầu tư phản ứng một cách quá mức trên quy mô toàn thị trường. Trong
nhiều giai đoạn, toàn bộ thị trường đều tăng (giảm) điểm với biên độ gần như
20
kịch trần (sàn) đồng loạt. Bắt đầu từ những cổ phiếu blue chip, tâm lý lạc quan
(bi quan) bao trùm toàn thị trường. Và kết quả là, bất kể cổ phiếu dù tình hình
cơ bản là tốt hay xấu đều đi theo xu hướng thị trường: tăng (giảm) kịch trần
(sàn). Một số thời điểm xảy ra hiện tượng này như trong tháng 4, tháng 5/2009,
một số ngày thị trường đồng loạt tăng trần (với số mã tăng trần đạt hơn 90%),
nhưng sau đó đã nhanh chóng sụt giảm trở lại với các mức sụt giảm khác nhau
giữa các mã.
2.3. Cơ sở tạo ra hành vi bầy đàn trên TTCK Việt Nam
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường, góp phần tích cực trong
việc tạo ra một kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp, một kênh
đầu tư hấp dẫn đối với nhà đầu tư, thì thị trường Việt Nam vẫn thể hiện nhiều
hạn chế. Một trong số đó là tâm lý bầy đàn phổ biến trên thị trường. Vậy thì cơ
sở nào đã tạo ra hành vi bầy đàn trên TTCK Việt Nam? Phần này của đề tài sẽ
góp phần làm rõ về về vấn đề này.
Bên cạnh những nguồn gốc chung tạo ra hành vi bầy đàn trên thị trường như đã
đề cập trong phần cơ sở lý thuyết, TTCK Việt Nam có những đặc điểm – sẽ
được đề cập dưới đây – góp phần tạo ra hành vi bầy đàn trên thị trường.
Môi trường pháp luật chưa hoàn chỉnh, thiếu hiệu lực
Nghiên cứu của Gelos và Wei (2002) chỉ ra rằng các thị trường vốn mới nổi tạo
nhà đầu tư. Các quy định về hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính của doanh
nghiệp còn lỏng lẻo, hiện tượng khi doanh nghiệp niêm yết bị một công ty
kiểm toán từ chối đưa ra ý kiến, hay bị đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần, thì
các doanh nghiệp này chuyển sang sử dụng dịch vụ kiểm toán của một công ty
kiểm toán khác để có được ý kiến kiểm toán thuận lợi hơn xảy ra thường
xuyên, theo nhận định của một công ty kiểm toán lớn. Các báo cáo của doanh
nghiệp niêm yết trước và sau kiểm toán có độ vênh lớn không phải là điều hiếm
gặp, như trường hợp của các công ty STB, PPC, BHS, LGC, PIT, ASP, PAC,
TMS, VSC trong năm 2008. Quy định về thời hạn nộp và nội dung các báo cáo
tài chính cần công bố tỏ ra kém hiệu lực. Theo thống kê của Ủy ban chứng
khoán nhà nước, trong năm 2007 có tới 26/250 công ty niêm yết trễ hạn nộp
BCTC, trong năm 2008 số doanh nghiệp niêm yết chậm nộp BCTC là 103
doanh nghiệp, con số này của năm 2009 là 203 doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
nhiều BCTC của các doanh nghiệp niêm yết công bố còn mang tính hình thức,